Sơn lục đậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Còn gọi là Vọng Giang Nam, cốt khí mồng, dương giác đậu, giang nam đậu, thạch quyết minh, dã biển đậu, muồng hòe (Miền Nam), muống lá khế.

Tên khoa học Cassia occidentalis L.

Sơn lục đậu

Thuộc họ Vang Caesalpniaceae.

Mô tả cây[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn lục đậu
Cassia occidentalis in Anantgiri, AP W2 IMG 8828.jpg

Là cây nhỏ cao 0,6-1m thân dưới hóa gỗ. Toàn thân nhẵn không có lông. Lá mọc so le, kép lông chim nhẵn; lá chét dài 4–9 cm, mọc đối, hình trứng thuôn, không cuống, phiến lá lệch ở phía cuống. Toàn lá dài 20 cm. Hoa mọc ở kẽ lá hay đầu cành, màu vàng nhạt mọc thành chùm. Quả giáp dài 6–10 cm, rộng tới 7mm, hơi cong hình cung, giữa các hạt hẹp lại làm cho quả trông giống gồm rất điều đốt nối nhau. Hạt dẹt hình trứng dài 4mm, rộng 3mm, xếp chồng lên nhau theo chiều dọc. Vỏ cứng nhẵn bóng.

Mùa hoa vào tháng 7-9, mùa quả vào tháng 8-10.

Phân bố thu hái và chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Cây mọc hoang khắp nơi tại Việt Nam. Còn mọc tại Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến, Hà Bắc,..v..v.. tại đây có nơi trồng làm thuốc), Ấn Độ, Brazin cũng có.

Người ta dùng toàn bộ cây, hay chỉ lá, hái hạt về phơi khô. Ở Việt Nam người ta chưa chú ý khai thác.

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tiến sĩ Heckel nghiên cứu cho thấy trong hạt có 8.885% độ ẩm, chất béo mà chất màu tan trong clorofoe 1.150%, chất béo và màu tan trong ete dầu hỏa là 1.6%, chất màu và ít tan 5.022%, glucoza 0.738%, protein, gôm, chất nhầy 15.734%, anbuminoit tan 6.536%, anbuminoit không tan 2.216%.

Theo Lưu Mê Vọng Đại Phu (1995), trong vọng giang nam có antraglucozit gọi là emođin, tanin, chừng 36% chất nhầy, 2.55% chất béo, 4.33% tro.

Trong lá cũng có chất emođin, hợp chất hidrat cacbon và flavonozit như vitexin.

Toàn cây có tanin, chất béo và chất nhầy.

Trong hạt có physcion (J. Am. Pharm Assoc., 1957, 46, 271; C. A. 1969, 70, 84918m), physcion-1-glucozit (Experientia, 1971, 43), 1,8-dihydroxy-2-metylanthraquinon, 1,4,5-tryhydroxy-3-metyl-7-metoxy anthraquinon (Experientia 1974, 30, 850), N-metylmorpholin (C.A., 1971, 74, 50512s) galactomannan (J. chem.1973, 11, 1134).

Trong dễ có cassiollin, chrysophanol, xanthorin, 1,4,5-trihydroxy-2 metoxy-7- methylanthraquinon, islandixin -1,4,5 trihydroxy-2-metylanthraquinon helminthosporin (Indian J. Chem, 1974, 12, 1042).

Trong lá có dianthroniheteteerozit (C.A, 1969, 70, 84918m).

chrysophanol

Trong vỏ quả có C-glucozit của apigenin (C.A, 1969, 70, 84918m).

Công dụng và liều dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Nói chung ít thấy cây này đựoc dùng làm thuốc ở Việt Nam. Tuy nhiên ở Lạng Sơn có một thuốc đông y dùng nó với tên là thảo quyết minh, dùng cả rễ và hạt để làm thuốc chữa sốt không tiêu.

Tại Trung Quốc, người ta dùng hạt nó để chữa đau bụng đi lỵ, táo bón và ăn uống không tiêu, đầu nhức mắt mờ. Lá tươi dã nát đắp lên chỗ rắn độc cắn, cua tôm quắp bị thương.

Ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc.

Vọng Giang Nam không chỉ đựoc dùng ở các nước châu Á, mà còn dùng được ở các nước khác.

Theo E. Perrot, hạt Cassia occidentalis tươi có độc do một chất toxanbumin (phytotoxin) và cryzarobin (chrysarobin) là một antraglucozit. Khi rang lên hết độc và được dùng ở châu Phi uống nước thay cà phê gọi là cà phê cho người da đen, vị dễ chịu. Nếu dùng tươi sẽ có độc. Thực tế vào năm 1913 ở ngoại ô Paris đã xảy ra những vụ ngộ độc ngựa do ăn hạt này lẫn với yến mạch. Năm 1924, cũng xảy ra vụ tương tự khi cho ngựa ăn hạt này không rang. Khi ngộ độc thì viêm ruột lẫn viêm màng óc.

Một số tác giả châu Âu khác (Deliouxde Savignac, Dubonnex,..vv..) đã nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của hạt vọng giang nam tại các nơi khác và cũng xác nhận hạt này chữa sốt và điền kinh. Tại các nước châu Phi người ta dùng lá, rễ và hạt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]