Sư đoàn 2 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 2 Bộ binh
Việt Nam Cộng hòa
ARVN 2nd Division SSI.svg
Phù hiệu
Hoạt động 1955-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Lục quân
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và Quân khu 1
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Khẩu hiệu -Chiến thắng
-Vinh quang
Tham chiến -Trận Mậu Thân
-Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
-Tôn Thất Đính
-Dương Ngọc Lắm
-Lâm Văn Phát
-Tôn Thất Xứng
-Nguyễn Thanh Sằng
-Hoàng Xuân Lãm
-Trần Văn Nhựt
Quân kỳ

SƯ ĐOÀN 2 BỘ BINH

  • Bản doanh: Căn cứ Chu Lai, Quảng Tín.[1]

Sư đoàn 2 Bộ binh[2] (tiếng Anh: 2nd Infantry Division, 2nd ID) là một trong ba đơn vị chủ lực quân trực thuộc Quân đoàn I và Quân khu 1 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại từ 1955 đến 1975, hoạt động và trách nhiệm bảo vệ an ninh khu vực các tỉnh phía nam của lãnh thổ Quân khu 1. Sư đoàn đã được tuyên dương công trạng 16 lần trước quân đội và đã được nhận lãnh giây biểu chương màu tam hợp trên quân kỳ Sư đoàn.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân Sư đoàn 2 Bộ binh là "Liên đoàn 32 Lưu động" thuộc Quân đội Liên hiệp Pháp, thành lập vào ngày 3 tháng 11 năm 1953 tại Mỹ Côi, Ninh Bình. Đến đầu tháng 1 năm 1955 Quân đội Pháp bàn giao Liên đoàn cho sĩ quan người Việt chỉ huy và người đầu tiên chỉ huy Liên đoàn là Trung tá Tôn Thất Đính. Ngày 16 tháng 1 năm 1955, Liên đoàn 32 Lưu động được lệnh giải tán và dùng làm nòng cốt đến ngày 4 tháng 2 năm 1955 thành lập "Sư đoàn 32 Bộ binh,"[3] và Đại tá Đính[4] tiếp tục làm Tư lệnh. Đến ngày 1 tháng 8 tháng năm 1955, một lần nữa đổi tên thành "Sư đoàn 2 Dã chiến".

Sau khi chính thể Đệ Nhất Cộng hòa được thành lập. Ngày 22 tháng 11 năm 1956 Đại tá Tôn Thất Đính bàn giao Sư đoàn lại cho Trung tá Đặng Văn Sơn và nửa năm sau, ngày 16 tháng 4 năm 1957 Trung tá Lê Quang Trọng thay thế đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn. Đến ngày 1 tháng 12 năm 1958 Sư đoàn 2 Dã chiến đổi tên lần cuối, chính thức trở thành "Sư đoàn 2 Bộ binh".[5] Bộ tư lệnh Sư đoàn đặt tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.

Tháng 5 năm 1965 Bộ Tư lệnh di chuyển về Quảng Ngãi và nhận trách nhiệm Khu 12 chiến thuật gồm 2 Tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi. Đến năm 1971 Bộ Tư lệnh Sư đoàn lại chuyển về căn cứ Chu Lai, tiếp nhận căn cứ của Sư đoàn 23 Bộ binh Hoa Kỳ.

Mùa hè năm 1972 Trung đoàn 4 Bộ binh do Đại tá Lê Bá Khiếu làm Trung đoàn trưởng đã được điều động tăng cường để giải tỏa áp lực đối phương tại vùng giới tuyến.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở giới tuyến, Trung đoàn 4 vẫn do Đại tá Khiếu làm Trung đoàn trưởng được điều từ Quảng Trị trở về để phối hợp cùng Trung đoàn 5 và Trung đoàn 6[6] đã mở cuộc hành quân tái chiếm các quận Quế Sơn, Tiên Phước thuộc tỉnh Quảng Tín. Đồng thời, Sư đoàn 2 phối hợp với các lực lượng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân giải tỏa áp lực đối phương tại khu vực cao nguyên phía nam Quảng Ngãi. Từ chiến công phá tan mật khu Đỗ Xá năm 1970 cùng một số thắng lợi khác, các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi tạm thời yên tĩnh. Sư đoàn 2 tạm ngừng bắn từ năm 1973.

Trước tình hình chính trị, với áp lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Trung nên ngày 27 tháng 3 năm 1975 toàn bộ Quân khu cũng như Sư đoàn 2 tan hàng di tản ra Đà Nẵng. Và tại đây Sư đoàn 2 Bộ binh bị xóa phiên hiệu.

Đơn vị trực thuộc và phối thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1[7]
Trung đoàn 4
10
Biệt đội Quân Báo
2
Trung đoàn 5
11
Biệt đội Kỹ thuật
Biệt đội trưởng:
Đại úy Trần Trọng Tuấn
3
Trung đoàn 6
12
Biệt đội
Tác chiến Điện tử
Biệt đội trưởng:
Thiếu tá Đỗ Đặng Đăng
4[8]
Đại đội
Tổng hành dinh
Đại đội Trưởng
Thiếu tá Nguyễn Tri Lộc
13
Tiểu đoàn Quân y
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Trần Trọng Lang
5
Đại đội Trinh sát
14
Tiểu đoàn Truyền tin
Tiểu đoàn trưởng
Thiếu tá Lợi
6
Đại đội Quân Cảnh
15
Tiểu đoàn Tiếp vận
Tiểu đoàn trưởng:
Trung tá Phan Quang Ân
(Từ 1970 đến 30/4/1975)
Sau khi Trung tá Mai Xuân Tùng bị thương vì tai nạn giao thông
7
Đại đội Công vụ
16
Tiểu đoàn
Công binh chiến đấu
Tiểu đoàn trưởng:
Trung tá Mông
8
Đại đội Quân vận
(Quân xa)
Đại đội trưởng:
Đại úy Lợi
17
Trung đoàn Pháo binh
Các Tiểu đoàn: 20 (155ly), 21, 22, 23 (105ly). Phối thuộc và dưới sự điều động của Tư lệnh Sư đoàn
9
Đại đội
Hành chính Tài chính
18
Thiết đoàn 4
Thuộc "Lữ đoàn 1 Kỵ binh". Phối thuộc và dưới sự điều động của Tư lệnh Sư đoàn

Bộ Tư lệnh Sư đoàn và Chỉ huy Trung đoàn tháng 3/1975[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Chú thích
1
Trần Văn Nhựt
Võ bị Đà Lạt K10
Chuẩn tướng
Tư lệnh
2
Hoàng Tích Thông
Võ khoa Thủ Đức K4[9]
Đại tá
Tư lệnh phó
3
Nguyễn Khoa Bảo
Võ bị Đà Lạt K10
nt
Tham mưu trưởng
4
Trương Đăng Liêm
Võ khoa Thủ Đức K4
nt
Chỉ huy
Trung đoàn 4
Sau khi Sư đoàn 2 (trong đó có Trung đoàn 4) tan rã ở miền Trung. Ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Thuận thay thế Đại tá Ngô Tấn Nghĩa
5
Tôn Thất Lữ
nt
Chỉ huy
Trung đoàn 5
6
Tôn Thất Hổ
Trung tá
Chỉ huy
Trung đoàn 6

Trung đoàn Pháo binh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đơn vị phối thuộc
TT Họ & Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1
Lê Thương
Võ khoa Thủ Đức K5
Đại tá
Chỉ huy trưởng
Bộ chỉ huy
Trung đoàn
2
Huỳnh Nứa
Thiếu tá
Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 20
3
Nguyễn Văn Hà
Võ bị Đà Lạt K12
Trung tá
nt
Tiểu đoàn 21
nt
4
Thái Thành Hội
Võ bị Đà Lạt K13
Thiếu tá
nt
Tiểu đoàn 22
5
Chu Mạnh
Trung tá
nt
Tiểu đoàn 23

Tư lệnh Sư đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1
Tôn Thất Đính
Võ bị Huế K1
Trung tá[10]
1/1955-11/1956
Giải ngũ năm 1966 ở cấp Trung tướng
2
Đặng Văn Sơn
Hạ sĩ quan Pháp
nt
11/1956-6/1957
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
3
Lê Quang Trọng
Võ bị Huế K2
nt
6/1957-8/1958
Sau giải ngũ ở cấp Đại tá
4
Dương Ngọc Lắm
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
nt
8/1958-6/1961
Giải ngũ năm 1964 ở cấp Thiếu tướng
5
Lâm Văn Phát
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Đại tá
6/1961-6/1963
Giải ngũ năm 1965 ở cấp Thiếu tướng. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 tái ngũ được thăng cấp Trung tướng
6
Trương Văn Chương
nt
6/1963-12/1963
Giải ngũ sau đảo chính 1 tháng 11 năm 1963
7
Tôn Thất Xứng
Võ bị Huế K1
nt
12/1963-1/1964
Giải ngũ năm 1967 ở cấp Thiếu tướng
8
Ngô Dzu
Võ bị Huế K2
nt
1/1964-7/1964
Giải ngũ năm 1974 ở cấp Trung tướng
9
Nguyễn Thanh Sằng
Võ bị Huế K2
nt
7/1964-10/1964
Giải ngũ năm 1973 ở cấp Thiếu tướng
10
Hoàng Xuân Lãm
Võ bị Đà Lạt K3
Chuẩn tướng
10/1964-1/1967
Sau cùng là Trung tướng Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng
11
Nguyễn Văn Toàn
Võ bị Đà Lạt K5
Đại tá
1/1967-1/1972
Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III
12
Phan Hòa Hiệp
Võ bị Địa phương
Trung Việt Huế K2
nt
1/1972-8/1972
Sau cùng là Chuẩn tướng Trưởng đoàn Quân sự 2 bên
13
Trần Văn Nhựt
nt
8/1972-4/1975
Tư lệnh sau cùng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn. Còn gọi là Hậu cứ.
  2. ^ 2nd Division
  3. ^ Theo Nghị định số 041 1P/NĐ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
  4. ^ Thăng cấp Đại tá ngày 1 tháng 2 năm 1955.
  5. ^ Thời điểm này, Tư lệnh Sư đoàn là Trung tá Dương Ngọc Lắm.
  6. ^ Trung đoàn 5 do Trung tá Võ Vàng làm Trung đoàn trưởng và Trung đoàn 6 do Đại tá Phạm Văn Nghìn chỉ huy.
  7. ^ Từ số 1 đến số 3 là các đơn vị "Tác chiến" trực thuộc Sư đoàn.
  8. ^ Từ số 4 đến số 18 là các đơn vị Yểm trợ trực thuộc Sư đoàn.
  9. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
  10. ^ Cấp bậc khi nhậm chức.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]