Sủi cảo (Trung Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sủi cảo)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sủi cảo
Jiaozi!.jpg
Mười bánh sủi cảo hấp (蒸餃 zhengjiao) với đậu phộng ngâm nước sốt
Loại Bánh hấp
Bữa Thường là món khai vị
Địa điểm xuất xứ Trung Quốc
Vùng hoặc bang Đông Á và toàn cầu
Nhiệt độ dùng Nóng
Thành phần chính Bột nở, thịt nghiền hoặc rau
Cookbook: Sủi cảo trên Wikibooks  Phương tiện liên quan tới Media: Sủi cảo tại Wikimedia Commons

Sủi cảo (bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông “水餃”, âm Hán Việt: thuỷ giáo), còn gọi là bánh chẻo (“chẻo” bắt nguồn từ tiếng phổ thông Trung Quốc “餃”, âm Hán Việt: giáo) là một loại bánh hấp của Trung Quốc được ăn phổ biến ở Đông Á. Đây là một trong những món ăn chính trong dịp Tết nguyên đán cũng như là món ăn quanh năm tại các tỉnh phía Bắc. Mặc dù được coi là một phần của ẩm thực Trung Hoa, sủi cảo còn phổ biến ở nhiều khu vực khác của Châu Á và các nước phương Tây. Sủi cảo thường bao gồm thịt nghiền hoặc rau chất đầy và cuốn trong một mảnh bột mỏng, sau đó được ép chặt lại bằng cách nhấn mạnh các góc bánh vào nhau hoặc xếp thành nếp.

Nguồn gốc và phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Quốc có nhiều câu chuyện dân gian khác nhau giải thích về nguồn gốc của sủi cảo và tên gọi của nó.

Theo truyền thống, sủi cảo được cho là phát minh vào thời nhà Hán (năm 25-220 sau Công Nguyên)[1][2] bởi Trương Trọng Cảnh, một thầy thuốc y học cổ truyền nối tiếng của Trung Quốc lúc bấy giờ.[3] Sủi cao ban đầu được gọi là "tai mềm" (Trung văn giản thể: 娇耳; bính âm: jiao'er) bởi nó được sử dụng để chữa chứng tê buốt tai. Trên đường về nhà vào mùa đông, Trương Trọng Cảnh thấy rất nhiều người bị chứng ê buốt tai bởi họ không có quần áo ấm và thực phẩm đầy đủ. Ông đã chữa trị cho những người nghèo này bằng cách hầm thịt cừu, ớt và một vài loại thuốc làm ấm người trong một chiếc nồi, băm nhỏ chúng và đưa vào trong những tờ giấy gói bột nhỏ. Ông còn luộc những chiếc bánh hấp này và đưa chúng kèm bát canh đến người bệnh cho đến dịp Tết nguyên đán. Để đón mừng năm mới cũng như sự hồi phục sau chứng ê buốt tai, mọi người đã học công thức của vị thầy thuốc họ Trương để làm tai mềm.[4]

Các loại bánh[sửa | sửa mã nguồn]

Một đĩa sủi cảo luộc (shuijiao) và nước xốt.

Bánh bao Trung Quốc (Sủi cảo) được chia làm bốn loại khác nhau tùy thuộc vào cách nấu bánh:

  • Sủi cảo luộc (Trung văn giản thể: 水餃; bính âm: shuǐjiǎo; nghĩa đen "water dumpling")
  • Sủi cảo hấp (Trung văn giản thể: 蒸餃; bính âm: zhēngjiǎo; nghĩa đen "steam dumpling")
  • Sủi cảo chiên trong nồi (Trung văn giản thể: 鍋貼; bính âm: guōtiē; nghĩa đen "pan stick", hay còn được gọi là sủi cảo chiên khô (Trung văn giản thể: 煎餃; bính âm: jiānjiǎo).

Sủi cảo sử dụng trứng thay cho bột để bọc bánh được gọi là "Sủi cảo trứng".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Frozen ears: The story of gyozas”. The Malay Mail. One would always have suspected that the ubiquitous Japanese gyoza originated from China – and one would be completely right, unlike most economists. The origins of the gyoza are said to stem from the treatments invented by Zhang Zhongjing (150 – 219 AD), a Han Dynasty physician born in Nanyang. One of his inventions was the jiaozi (though it was originally called tender ears) and they were used to treat frostbitten ears during the freezing winters. 
  2. ^ “Seeking XLB”. The Austin Chronicle. Chinese dumplings are said to have begun near the end of the Eastern Han Dynasty with Zhang Zhongjing (AD 150 - 219), a famous northern Chinese medicinal herbalist known as "The Medicine Saint." 
  3. ^ “the origin of Jiaozi”. people.com.cn. people.com.cn. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2002. 
  4. ^ “你知道冬至为什么吃饺子吗? 医圣张仲景发明”. 人民网. 人民网. 23 tháng 12 năm 2015.