Sự kiện tàu Ourang Medan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

The S.S. Ourang Medan hay Urang Medana là một con tàu chở hàng của Hà Lan, được tìm thấy tại eo biển Malacca sau khi phát đi tín hiệu cấp cứu và được phát hiện trong trình trạng không còn bất cứ thuỷ thủ đoàn nào sống sót, nhưng tàu vẫn giữ nguyên hiện trạng, không bị mất cắp bất cứ đồ đạc có giá trị nào trên tàu. Đây là một bí ẩn được xem như lớn nhất của ngành hàng hải thế giới, và được biết đến như một con tàu ma.[1]

Sự kiện tàu SS Ourang Medan chìm được ghi nhận lần đầu trên tập san Biên bản lưu trữ Hội đồng Thương thuyền do lực lượng tuần duyên Mỹ xuất bản số tháng 5-1952.[2] Từ Ourang, theo tiếng Mã Lai có nghĩa là "người" hoặc "đàn ông",[3] còn Medan là thành phố lớn nhất trên đảo Sumatra, Indonesia; nghĩa đen là "Người Medan". Sau đó từ này còn xuất hiện trong nhiều cuốn sách và tạp chí, đặc biệt là tạp chí Fortean Times của Anh.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2-1948[4][5]) (có tài liệu nói tháng 6-1947[1]) một vài trạm rada của Anh đặt tại Singapoređảo Sumatra, Indonesia thông báo có nhận được tín hiệu cấp cứu từ tàu Ourang Medana[1][6] của Hà Lan với nội dung: "SOSSOS tất cả đã chết… tôi là người duy nhất còn sống sót…", tiếp sau đó là hàng loạt các ký tự lộn xộn và các dấu chấm. Một lát sau tín hiệu được nối lại, nhưng chỉ có một câu duy nhất là "Tôi đang chết dần", rồi kết thúc bằng một sự im lặng. Hai tàu Mỹ - chiếc City of Baltimore và Silver Star của hãng Grace Lines, New York - đang chạy trong eo biển Malacca tiếp nhận được bản tin nói trên. Các thủy thủ tàu Silver Star tiến hành cứu hộ tàu SS Ourang Medan. Nhưng trên tàu không còn ai sống sót nhưng không phải bị cướp biển tấn công vì trên tàu không mất mát thứ gì giá trị. Chưa kịp xem xét gì thêm thì đột nhiên có đám cháy bùng phát trong một khoang chứa hàng buộc thủy thủ tàu Mỹ phải rút lui. Sau đó, chiếc SS Ourang Medan nổ tung, bốc cháy rồi chìm rất nhanh. Sức nổ mạnh đến nỗi con tàu "bị nhấc lên khỏi mặt biển", theo tường thuật của thủy thủ tàu Mỹ.[4][7]

Những bí ẩn và sự đồn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc tàu gặp nạn gì không ai được rõ, những nhân viên tại các trạm của Anh ở Singapore và đảo Sumatra, Indonesia chỉ nhận được những tin nhắn cấp cứu, lạ lùng và đứt quãng. Những chiếc tàu đến cứu hộ cũng cho biết rằng không còn một ai trên con tàu sống sót và những cái chết rất kỳ lạ, viên thuyền trưởng thì gục chết tại khoan lái, các thuỷ thủ đoàn khác chết rải rác trên tàu, tất cả họ đều có một điểm chung là mắt mở trừng trừng và nét mặt thất thần, sợ hãi như người đã gặp phải một cái gì đó rất đáng sợ, đoàn cứu hộ còn phát hiện thấy một con chó cũng đã chết với trạng thái nhe răng, có thể trước khi nó chết nó đang sủa và tấn công một vật gì đó nguy hiểm. Trên các tử thi không hề có một vết thương nào.[4][5]

Con tàu này gặp nạn tại eo biển Malacca, một eo biển nổi tiếng về cướp biển, nhưng con tàu Ourang Medan không nằm trong tường hợp này, đoàn cứu nạn cho biết trên tàu lúc họ đổ bộ lên dường như nguyên hiện trạng, không có mất mát gì.

Giả thuyết chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một số nghi vấn, chiếc tàu Hà Lan có thể chở hỗn hợp potassium cyanidenitroglycerine cực kỳ nguy hiểm vì dễ cháy nổ hoặc khí độc là hai mặt "hàng tử thần" thừa thãi sau Chiến tranh thế giới II.[1]

Nghị định thư Geneva 1925 được 33 nước thông qua nghiêm cấm sử dụng vũ khí hóa học, thế chiến II kết thúc, nhiều nước tìm cách bán rẻ hoặc chôn giấu loại "hàng tử thần" nói trên. Bộ Quốc phòng Anh từng bị chỉ trích vì lén lút thuê tàu chở hơn 100.000 tấn khí độc "tabun" và "sarin" ra biển BắcĐại Tây Dương rồi nhấn chìm xuống biển.

Nhiều khả năng tàu SS Ourang Medan chở lậu "hàng tử thần" cho nên thủy thủ đoàn chết vì trúng khí độc rò rỉ và tàu nổ tung vì khoang chứa chất dễ cháy nổ bị nước biển kích hoạt. Có thể đây là một tai nạn mà cũng có thể là một âm mưu. Cũng có thể chiếc tàu sơn tên giả để che giấu một bí mật nào đó. Đến này nay đây vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử hàng hải. Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện đại, cuối cùng họ đã tìm ra lời giải. Đây là hung thủ nhìn không thấy, chạm không được, đó là hạ âm. Vụ thảm án ở eo biển Malacca là do hạ âm cường độ cao do gió mạnh trên biển sinh ra Hạ âm là một loại tần suất thấp, tần số chúng thấp hơn 20hz. Nó có một lực xuyên thấu rất mạnh, khi ở trong không khí tốc độ truyền đi có thể hơn 1.200km/h. Hạ âm có thể làm cho con người phiền não bất an, tinh thần uể oải, thậm chí rối loạn thần kinh. Hạ âm còn làm cho con người hoa mắt, chóng mặt, tức ngực, toàn thân bị tê liệt. Hạ âm có tần số dưới 7hz nguy hại đến tính mạng con người. Ví du: Một nhà nghiên cứu ở Pháp, khi tiến hành thực nghiệm hạ âm, vì sai khác kĩ thuật làm hạ âm tần suất thấp rò rỉ ra ngoài khiến cho 30 người cách đó 16km đều bị tử vong. Vì sao hạ âm tần suất thấp và cường độ cao có thể làm chết người? Căn cứ vào kết luận cuối cùng là do cộng hưởng. Cơ thịt con người, các cơ quan nội tạng đều có tần suất chấn động cố hữu của nó, khi tần suất cố hữu của loại này quá thấp và sóng hạ âm tương đồng, thì sẽ phát sinh cộng hưởng, sản sinh ra năng lượng. Nó sẽ gây chấn động khá lớn, từ đó tạo thành phá vỡ lớn trong kết cấu cơ thể dẫn đến tử vong. Sóng hạ âm trên thế giới tự nhiên bắt nguồn từ nhiều phương tiện như bão mặt trời, va chạm của sao băng, gió biển, biển động mạnh, núi lửa phun,... Các loại cơ cấu nhân tạo cũng có thể là nguồn tạo thành hạ âm như động cơ diesel, máy hút, quạt gió, nổ bom nguyên tử. Hạ âm là một kẻ giết người vô hình và không tiếng động, vì vậy con người cần ngăn chặn tiếng ồn cùng với ô nhiễm môi trường để phòng ngừa nguy hại của hạ âm không nghe thấy được này.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Bainton, Roy (tháng 9 năm 1999). “A Cargo of Death”. Fortean Times. tr. 28. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2007. 
  2. ^ “We Sail together”. Proceedings of the Merchant Marine Council (U.S. Coast Guard) 9 (5): 107. Tháng 5 năm 1952. 
  3. ^ “alphaDictionary: orangutan”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2007. 
  4. ^ a ă â Gaddis, Vincent (1965). Invisible Horizons. Ace Books, Inc., New York. tr. 125–126. ISBN 0-441-37177-9. 
  5. ^ a ă Edwards, Frank (tháng 6 năm 1953). “Strangest of All”. Fate Magazine. 
  6. ^ Raybin Emert, Phyllis (1990). Mysteries of Ships and Planes. Tom Doherty Associates, Inc., New York. ISBN 0-8125-9427-4. 
  7. ^ Winer, Richard (2000). Ghost Ships. Berkley. ISBN 0-425-17548-0.