Sagami (nhà thơ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sagami, trong Ogura Hyakunin Isshu.

Sagami (Nhật: 相模 (Tương Mô) Hepburn: 1000 – ?[1][2][3]?), hay còn có tên khác là Oto-jijū (乙侍従 (Ất Thị Tòng)?),[1] là một nhà thơ waka Nhật Bản vào giữa thời kỳ Heian.[1][2] Một trong những bài thơ của bà nằm trong tập thơ nổi tiếng Ogura Hyakunin Isshu.[3] Bà có tập thơ cá nhân mang tên Sagami-shū (相模集 (Tương Mô Tập)?).[2][3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà sinh ra trong một gia đình võ tướng, con gái của Minamoto no Yorimitsu.[1][3]

Bà là vợ của Ōe no Kin'yori (大江公資 (Đại Giang Công Tư)? tên khác là Kinsuke.[1]), quan trấn thủ tỉnh Sagami.[2][3] Bà hầu cho Nội thân vương Shūshi (脩子 (Tu Tử)?), một trong những người con của Hoàng đế Ichijō.[1]

Thơ bà Sagami[sửa | sửa mã nguồn]

109 bài thơ của bà nằm trong tập thơ Nijūichidaishū (二十一代集 (Nhị Thập Nhất Đại Tập)?) tính từ tập Goshūi Wakashū ( Hậu Thập Di Tập?).[1][3] Bà cũng là một trong Ba mươi sáu ca tiên.[3]

Bài thơ sau đây được đánh số 65 trong tập Ogura Hyakunin Isshu do Fujiwara no Teika biên tập:

Nguyên văn Phiên âm Dịch thơ[4] Diễn ý
恨みわび

ほさぬ袖だに

あるものを

恋に朽ちなむ

名こそ惜しけれ

Urami-wabi

hosanu sode dani

aru mono wo

koi ni kuchinan

na koso oshikere

Mòn mỏi khóc cho tình,

Lệ đã đầm tay áo,

Lòng còn căm nỗi hận,

Tên tuổi đời rêu rao.

(ngũ ngôn)
Đổ lệ hận kẻ bạc tình,

Tay áo đã ướt, danh mình ố hoen.

(lục bát)
Hận người bạc tình, than thở nổi bất hạnh của mình,

Tay áo thấm nước mắt không sao khô hết.

Nhưng hơn thế nữa, vì lời đồn đại, tên tuổi bị hoen ố,

Điều đó mới làm mình hối tiếc không nguôi.

Xuất xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Goshūi Wakashū ( Hepburn: Hậu Thập Di Tập?), thơ luyến ái, phần 4, bài 815.

Hoàn cảnh sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Lời bàn trong Goshūi Wakashū cho biết bài này đã được làm ra trong một hội bình thơ năm 1051 vời chủ đề là Koi (Tình Yêu). Câu trên trách thái độ lãnh đạm của kẻ bạc tình để làm mình mõi mòn trong căm hận, câu dưới tiếc cho tên tuổi bị người đời dè bĩu vì câu chuyện tình lộ ra ngoài.

Đề tài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếc cho những lời bàn tán xung quanh mối tình không toại nguyện.

Uramiwabi có nghĩa hận (urami) người và buồn (wabi) cho mình, hàm ý than thân trách phận. Nếu tay áo thấm nước mắt không kịp khô chỉ là cớ của nỗi buồn nhỏ thì tên tuổi bị đời đàm tiếu khi bị bỏ rơi mới là nguyên nhân của nỗi buồn lớn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Britannica Kokusai Dai-Hyakkajiten bài "Sagami". Shogakukan.
  2. ^ a ă â b Digital Daijisen mục "Sagami". Shogakukan.
  3. ^ a ă â b c d đ McMillan 2010: 143 (ý 65).
  4. ^ Nguyễn Nam Trân. “Bài số 65 - Thơ bà Sagami”. Chim Việt Cành Nam. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016. 

Đường dẫn bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]