Sakamoto Ryūichi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sakamoto Ryūichi
Ryuichi Sakamoto side.jpg
Sakamoto năm 2013.
Sinh17 tháng 1, 1952 (67 tuổi)
Tokyo, Nhật Bản
Học vịĐại học Nghệ thuật Tokyo
Nghề nghiệp
  • Nhạc sĩ
  • nhà sản xuất thu âm
  • nhà hoạt động
  • diễn viên
Năm hoạt động1975–nay
Vợ/chồng
Con cáiSakamoto Miu
Trang websitesakamoto.com
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Keyboard
  • synthesizer
  • hát
Hãng đĩa
Hợp tác với

Sakamoto Ryūichi (坂本 龍一 (Phản Bản Long Nhất) Sakamoto Ryūichi?, sinh ngày 17 tháng 1 năm 1952) (phát âm tiếng Nhật: [sakamoto ɾʲɯːitɕi]) là một nhạc sĩ, ca sĩ, người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm, nhà hoạt động và diễn viên người Nhật, là một nghệ sĩ theo đuổi một loạt các phong cách khác nhau với vai trò một nghệ sĩ solo và một thành viên của Yellow Magic Orchestra (YMO). Với các thành viên trong nhóm như Hosono HaruomiTakahashi Yukihiro, Sakamoto đã tạo được ảnh hưởng và là người tiên phong trong một loạt các thể loại nhạc điện tử.[1]

Sakamoto bắt đầu sự nghiệp của mình khi còn ở trường đại học vào những năm 1970 với tư cách là một nhạc công thời vụ, nhà sản xuất và người viết biên khúc. Thành công lớn đầu tiên của ông tới vào năm 1978, khi Sakamoto là đồng sáng lập của YMO. Ông đồng thời cũng theo đuổi sự nghiệp độc tấu, bằng việc ra mắt album nhạc điện tử thể nghiệm Thousand Knives vào năm 1978. Hai năm sau, ông ra mắt album tiếp theo B-2 Unit, mà trong đó có track "Riot in Lagos", chiếm một vai trò đầy ý nghĩa trong quá trình phát triển nhạc electrohip hop.[2][3][4] Ông tiếp tục tạo nên nhiều bản thu âm độc tấu và hợp tác với nhiều nghệ sĩ quốc tế, trong đó có thể kể đến như David Sylvian, Carsten Nicolai, Youssou N'Dour, và Fennesz. Sakamoto đã sáng tác phần nhạc nền cho lễ khai mạc Thế vận hội Barcelona năm 1992, và sáng tác "Energy Flow" (1999) là đĩa đơn nhạc không lời đầu tiên chiếm vị trí đầu bảng của bảng xếp hạng Oricon của Nhật Bản.[5]

Với vai trò nhạc sĩ sáng tác nhạc nền cho phim, Sakamoto đã giành được một giải Oscar, một giải BAFTA, một giải Grammy, và 2 giải Quả cầu vàng.[6] Sáng tác Merry Christmas, Mr. Lawrence (1983) đánh dấu lần đầu ra mắt với cả vai trò diễn viên và nhạc sĩ cho phần nhạc nền phim; phần nhạc nền chính được chuyển thể thành đĩa đơn "Forbidden Colours", mà sau đó trở thành một hit toàn cầu. Tác phẩm nhạc phim thành công nhất của ông là cho Hoàng đế cuối cùng (1987),[7] được tiếp nổi với việc ông tiếp tục giành được nhiều giải thưởng sáng tác cho các bộ phim như The Sheltering Sky (1990), Little Buddha (1993), và Người về từ cõi chết (2015). Đôi lúc, Sakamoto cũng sáng tác và viết kịch bản phân cảnh cho các tác phẩm animevideo games. Năm 2009, ông được trao tặng huân chương Ordre des Arts et des Lettres từ Bộ Văn hoá Pháp vì những đóng góp cho âm nhạc.[8]

Mục lục

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Famous Japanese & Foreigners In Japan: Ryuichi Sakamoto”. JapanVisitor. GoodsFromJapan KK. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2016. 
  2. ^ Broughton, Frank (2007). La historia del DJ / The DJ's Story, Volume 2. Ediciones Robinbook. tr. 121. ISBN 84-96222-79-9. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ “Kurtis Mantronik Interview”, Hip Hop Storage, Tháng 7 năm 2002, Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011, truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011 
  4. ^ David Toop (tháng 3 năm 1996), “A-Z Of Electro”, The Wire (145), truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2011 
  5. ^ “Sakamoto's 'energy Flow' Enlivens Japan”. AllBusiness.com. Ngày 2 tháng 7 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2008. 
  6. ^ Ryûichi Sakamoto tại Internet Movie Database
  7. ^ Jim Sullivan (ngày 8 tháng 2 năm 1998), “RYUICHI SAKAMOTO GOES AVANT-CLASSICAL”, Boston Globe: 8, truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2011 
  8. ^ Denise Sullivan (ngày 13 tháng 5 năm 2011). “What Makes A Legend: Ryuichi Sakamoto”. Crawdaddy!. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011.