Scarlett Johansson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Scarlett Johansson
Scarlett Johansson in Kuwait 01b-tweaked.jpg
Johansson năm 2016
Sinh 22 tháng 11, 1984 (32 tuổi)
Manhattan, Thành phố New York, New York, Mỹ
Nghề nghiệp Diễn viên, ca sĩ, người mẫu
Hoạt động 1994–nay
Hôn nhân

Scarlett Johansson (sinh ngày 22 tháng 11 năm 1984)[1] là một nữ diễn viên, người mẫu và ca sĩ người Mỹ. Cô xuất hiện lần đầu tiên dưới vai trò một diễn viên điện ảnh ở trong bộ phim North (1994) khi chỉ mới 10 tuổi, và sau đó tiếp tục sự nghiệp với Manny & Lo (1996), và bắt đầu gây được chú ý từ công chúng qua các vai diễn trong The Horse Whisperer (1998) và Ghost World (2001). Johansson sau đó đã thay đổi mình qua các vai diễn trưởng thành hơn trong Girl with a Pearl Earring (2003) và Lạc lối ở Tokyo (2003), và vai diễn Charlotte trong Lạc lối ở Tokyo đã giúp cô nhận được Giải BAFTA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Một vài phim điện ảnh nổi bật trong sự nghiệp của cô có thể kể tới A Love Song for Bobby Long (2004), Match Point (2005), Màn cao trào (2006), Her (2013), Under the Skin (2013), Lucy (2014) và Vỏ bọc ma (2017). Kể từ năm 2010, Johansson đã nhận vào vai nhân vật Black Widow của Marvel Comics cho các phim điện ảnh trong Vũ trụ Điện ảnh Marvel.[2] Johansson đã nhận được Giải Tony cho diễn xuất xuất sắc nhất của nữ diễn viên sân khấu cho vai diễn của cô trong vở Broadway làm lại của A View from the Bridge vào năm 2010. Dưới vai trò ca sĩ, Johansson đã thu âm hai album, Anywhere I Lay My Head (2008) và Break Up (2009).

Johansson được coi là một trong các biểu tượng tình dục hiện đại của Hollywood, và đã xuất hiện trong nhiều danh sách các phụ nữ quyến rũ nhất trên thế giới. Tính đến tháng 5 năm 2017, cô là nữ diễn viên có doanh thu các phim tham gia đạt mức cao nhất mọi thời đại tại Bắc Mỹ, với tổng cộng 3,6 tỉ USD.[3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Scarlett Johansson sinh ra và lớn lên tại Manhattan, thành phố New York. Cha cô là Karsten Johansson, là kiến trúc sư người gốc Đan Mạch đến từ Copenhagen,[4] và ông nội cô là Ejner Johansson, một nhà lịch sử nghệ thuật, biên kịch và đạo diễn. Mẹ cô là Melanie Sloan, nhà sản xuất xuất thân trong một gia đình Do Thái Ashkenazi tại the Bronx.[5][6][7] Tổ tiên bên ngoại của cô đã di cư từ Minsk, Belarus tới New York.[8] Cô có một chị gái là Vanessa, cũng là diễn viên; anh trai Adrian; và người em trai song sinh Hunter (bạn diễn với cô trong Manny & Lo);[9] và một anh trai cùng cha khác mẹ là Christian, con riêng của cha cô với người vợ trước.[10]

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

2008–2012[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, Johansson xuất hiện trong phim điện ảnh The Other Boleyn Girl cùng với Natalie PortmanEric Bana,[11] bộ phim này đã nhận được nhiều ý kiến hỗn tạp từ giới chuyên môn.[12][13] Viết cho tờ Rolling Stone, Pete Travers chỉ trích bộ phim với "những trò ngớ ngẩn phát bực", nhưng lại có những ý kiến tích cực cho Johansson và Portman, "Những điều làm được đó là sự kết hợp ăn ý giữa Natalie Portman và Scarlett Johansson, những người đã giúp cho những cô gái Boleyn trí tuệ và sự thông minh và cả trí tuệ."[14]

Johansson tham gia vào bộ phim Vicky Cristina Barcelona của đạo diễn Woody Allen cùng với hai diễn viên Javier BardemPenélope Cruz. Vicky Cristina Barcelona trở thành một trong những phim điện ảnh đạt lợi nhuận nhất trong sự nghiệp của Allen[15] cũng như xuất hiện trong nhiều danh sách top mười phim hay nhất năm 2008 của các nhà phê bình điện ảnh. Johansson sau đó cũng hiện trong vai diễn giáo viên yoga Anna Marks trong He's Just Not That into You (2009) cùng với một dàn diễn viên tên tuổi gồm Jennifer Connelly, Bradley Cooper, Drew BarrymoreKevin Connolly. Phim đạt thành công lớn về mặt thương mại[16] dù chỉ nhận mức đánh giá trung bình từ giới chuyên môn.[17][18]

Tháng 3 năm 2009, Johansson ký hợp đồng để vào vai nhân vật Natalia Romanova/Natasha Romanoff, hay Black Widow trong phim điện ảnh Người Sắt 2[19] sau khi Emily Blunt phải hủy bỏ vai diễn vì xung đột lịch diễn.[20] Phim được công chiếu vào ngày 7 tháng 5 năm 2010[21] và là một thành công lớn về doanh thu,[22] kèm theo nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình.[23] Năm 2011, Johansson vào vai Kelly, chủ một sở thú trong bộ phim gia đình We Bought a Zoo. Phim nhận được nhiều hiệu ứng tích cực từ công chúng và giới chuyên môn.[24] Johansson trở lại với vai diễn Natasha Romanoff trong phim điện ảnh The Avengers (2012). The Avengers được nhiều nhà phê bình khen ngợi[25] và tạo được thành công lớn tại các phòng vé, trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao thứ ba tại Mỹ nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.[26]

2013–nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, Johansson lồng tiếng cho nhân vật Samantha, một hệ điều hành máy tính thông minh trong bộ phim Her của đạo diễn Spike Jonze, thay thế cho Samantha Morton vốn ban đầu được nhận vào vai lồng tiếng này.[27] Phim nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới chuyên môn,[28] đặc biệt là cho diễn xuất của Johansson.[29][30] Johansson cũng được nhận vào đóng trong Under the Skin (2013), một bộ phim do Jonathan Glazer đạo diễn, chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Michel Faber.[31] Phim được công chiếu vào năm 2014, nhận được nhiều hiệu ứng tích cực,[32] trong đó có nhiều lời khen ngợi cho diễn xuất của Johansson trong phim,[33][34] trong đó có cả phân cảnh khỏa thân.[35]

Johansson tiếp tục trở lại với vai diễn Black Widow trong Captain America 2: Chiến binh mùa đông (2014), cùng với nam diễn viên Chris Evans vào vai nhân vật chính. Phim điện ảnh nhận được nhiều phản hồi tích cực.[36] Cô cũng xuất hiện trong vai Molly ở bộ phim Siêu đầu bếp (2014), cùng với Jon Favreau, Robert Downey, Jr.Sofía Vergara.[37] Cô cũng vào vai nhân vật chính trong Lucy, một phim điện ảnh khoa học viễn tưởng do Luc Besson đạo diễn, công chiếu vào ngày 25 tháng 7 năm 2014.[38] Phim nhận được nhiều đánh giá tích cực từ giới chuyên môn[39][40][41] và đã thu về 458 triệu USD so với kinh phí làm phim chỉ vào 40 triệu USD.[42] Năm 2015, Johansson tiếp tục vào vai diễn Black Widow trong bộ phim Avengers: Đế chế Ultron cùng với dàn diễn viên cũ từ phần phim Avengers đầu tiên.[43] Nhiều cảnh quay cận, kỹ xảo hình ảnh cùng với các trang phục với thiết kế đặc biệt đã được sử dụng để che đi việc Johansson đang mang thai trong quá trình quay phim.[44]

Ngày 5 tháng 1 năm 2015, tờ Variety xác nhận rằng Johansson đã ký hợp đồng cho vai chính của phim điện ảnh Vỏ bọc ma, chuyển thể từ thương hiệu Ghost in the Shell nổi tiếng, sẽ do Rupert Sanders đạo diễn và Avi Arad cùng Steven Paul chịu trách nhiệm sản xuất.[45][46] Việc tuyển nữ diễn viên Scarlett Johansson vào vai Thiếu tá gây ra nhiều tranh cãi về vấn đề tẩy trắng. Nhiều người đã kêu gọi tẩy chay Johansson khỏi dự án phim này.[47][48] Johansson tiếp tục trở lại với vai diễn Black Widow trong phim điện ảnh Captain America: Nội chiến siêu anh hùng công chiếu vào tháng 5 năm 2016,[49][50]Avengers: Infinity War công chiếu vào tháng 5 năm 2018.

Hình tượng công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Johansson trong chuyến đi USO năm 2016

Diện mạo và tính cách của Scarlett Johansson đã giúp cô có được số điểm cao trong mắt các đàn ông ở Mỹ và Vương quốc Anh. Tạp chí Maxim xếp cô ở vị trí thứ 6 trong danh sách Hot 100 Issue vào năm 2006,[51] vị trí thứ 3 vào năm 2007,[52] vị trí thứ 2 vào năm 2008,[53] vị trí thứ 34 vào năm 2009,[54] vị trí thứ 14 vào năm 2010[55] và 2011,[56] vị trí thứ 17 vào năm 2012[57] vị trí thứ 15 vào năm 2013[58] và vị trí thứ 2 vào năm 2014.[59] Tháng 11 năm 2006, cô được tạp chí Esquire vinh danh là "Người phụ nữ nóng bỏng nhất còn sống",[60] và đồng thời cũng là người phụ nữ duy nhất được Esquire hai lần vinh danh ở danh hiệu này (lần thứ hai vào năm 2013).[61] Johansson xuất hiện khỏa thân trên bìa tạp chí Vanity Fair số tháng 3 năm 2016 cùng với nữ diễn viên Keira Knightley và nhà thiết kế thời trang Tom Ford.[62] Tháng 7 năm 2007, cô được tờ Playboy gọi tên là "Ngôi sao gợi cảm nhất" của năm.[63] Năm 2010, GQ trao tặng cho cô danh hiệu Cô gái của năm.[64] Năm 2011, tạp chí Men's Health vinh danh cô là một trong "100 phụ nữ nóng bỏng nhất mọi thời đại", với vị trí thứ 12.[65] Cô cũng lọt danh sách 100 phụ nữ nổi tiếng gợi cảm nhất hàng năm của tạp chí FHM kể từ năm 2005.[66]

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Đạo diễn Ghi chú
1994 North Laura Nelson Rob Reiner
1995 Just Cause Kate Armstrong Arne Glimcher
1996 If Lucy Fell Emily Eric Schaeffer
Manny & Lo Amanda Lisa Krueger
1997 Fall Cô bé Eric Schaeffer
Ở nhà một mình 3 Molly Pruitt Raja Gosnell
1998 The Horse Whisperer Grace MacLean Robert Redford
1999 My Brother the Pig Kathy Caldwell Erik Fleming
2001 The Man Who Wasn't There Rachael "Birdy" Abundas Coen Brothers
Ghost World Rebecca Terry Zwigoff
An American Rhapsody Zsuzsi / Suzanne Sandor Éva Gárdos
2002 Eight Legged Freaks Ashley Parker Ellory Elkayem
2003 Lạc lối ở Tokyo Charlotte Sofia Coppola
Girl with a Pearl Earring Griet Peter Webber
2004 The Perfect Score Francesca Curtis Brian Robbins
A Love Song for Bobby Long Pursy Will Shainee Gabel
A Good Woman Meg Windermere Mike Barker
The SpongeBob SquarePants Movie Mindy Stephen Hillenberg Lồng tiếng
In Good Company Alex Foreman Paul Weitz
2005 Match Point Nola Rice Woody Allen
The Island Jordan Two Delta / Sarah Jordan Michael Bay
2006 Scoop Sondra Pransky Woody Allen
The Black Dahlia Katherine "Kay" Lake Brian De Palma
Màn cao trào Olivia Wenscombe Christopher Nolan
2007 The Nanny Diaries Annie Braddock Shari Springer Berman & Robert Pulcini
2008 The Other Boleyn Girl Mary Boleyn Justin Chadwick
Vicky Cristina Barcelona Cristina Woody Allen
The Spirit Silken Floss Frank Miller
2009 He's Just Not That into You Anna Marks Ken Kwapis
2010 Người Sắt 2 Natasha Romanoff / Black Widow Jon Favreau
2011 We Bought a Zoo Kelly Foster Cameron Crowe
2012 The Avengers Natasha Romanoff / Black Widow Joss Whedon
Hitchcock Janet Leigh Sacha Gervasi
2013 Don Jon Barbara Sugarman Joseph Gordon-Levitt
Under the Skin Cô gái (Isserley) Jonathan Glazer
Her Samantha Spike Jonze Lồng tiếng
2014 Captain America 2: Chiến binh mùa đông Natasha Romanoff / Black Widow Anh em nhà Russo
Siêu đầu bếp Molly Jon Favreau
Lucy Lucy Luc Besson
2015 Avengers: Age of Ultron Natasha Romanoff / Black Widow Joss Whedon
2016 Hail, Caesar! DeeAnna Moran Coen Brothers
Cậu bé rừng xanh Kaa Jon Favreau Lồng tiếng
Captain America: Nội chiến siêu anh hùng Natasha Romanoff / Black Widow Anh em nhà Russo
Đấu trường âm nhạc Ash Garth Jennings & Christophe Lourdelet Lồng tiếng
2017 Vỏ bọc ma Thiếu tá Mira Killian / Motoko Kusanagi Rupert Sanders
Tiệc độc thân nhớ đời Jess Lucia Aniello
2018 Avengers: Infinity War Natasha Romanoff / Black Widow Anh em nhà Russo
Isle of Dogs Wes Anderson Lồng tiếng

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
1995 The Client Jenna Halliwell Tập: "Pilot"
2001 Anatomy of a Scene Chính cô Tập: "Girl with the Pearl Earring"
2004 Entourage Chính cô Tập: "New York"
2005, 2006,
2008
Robot Chicken Nhiều nhân vật 6 tập
2006, 2007,
2010, 2015,
2017
Saturday Night Live Chính cô/Dẫn chương trình 5 tập
2014 HitRecord on TV Olivia Tập: "Re: Games"

Sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Nhà hát
2010 A View from the Bridge Catherine Cort Theatre
2013 Cat on a Hot Tin Roof Margaret Richard Rodgers Theatre

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải Phim Kết quả
1996 Independent Spirit Award for Best Lead Female Manny & Lo Đề cử
1998 YoungStar Award for Best Performance by a Young Actress in a Drama Film The Horse Whisperer Đoạt giải
2001 Chlotrudis Award for Best Supporting Actress Ghost World Đoạt giải
2001 Toronto Film Critics Association Award for Best Supporting Actress Ghost World Đoạt giải
2001 Young Artist Award for Best Performance in a Feature Film — Leading Young Actress (với Emma Watson) An American Rhapsody Đoạt giải
2001 Young artist Award for Best Ensemble in a Feature Film (với Mae Whitman và Kelly Endresz-Banlaki) An American Rhapsody Đề cử
2003 BAFTA Award for Best Actress in a Leading Role Lost in Translation Đoạt giải
2003 Golden Globe Award for Best Actress – Motion Picture Musical or Comedy Lost in Translation Đề cử
2003 MTV Movie Award for Best Female Breakthrough Performance Lost in Translation Đề cử
2003 New York Film Critics Online Award for Best Supporting Actress Lost in Translation Đoạt giải
2003 Online Film Critics Society Award for Best Actress Lost in Translation Đề cử
2003 Satellite Award for Best Supporting Actress – Motion Picture Musical or Comedy Lost in Translation Đề cử
2003 Teen Choice Award for Breakout Movie Star – Female Lost in Translation Đề cử
2003 Upsteam Prize for Best Actress Lost in Translation Đoạt giải
2003 BAFTA Award for Best Actress in a Leading Role Girl with a Pearl Earring Đề cử
2003 British Independent Film Award for Best Actress Girl with a Pearl Earring Đề cử
2003 Golden Globe Award for Best Actress – Motion Picture Drama Girl with a Pearl Earring Đề cử
2003 London Film Critics Circle Award for Best Actress Girl with a Pearl Earring Đề cử
2003 Phoenix Film Critics Society Award for Best Actress Girl with a Pearl Earring Đề cử
2004 Golden Globe Award for Best Actress – Motion Picture Drama A Love Song for Bobby Long Đề cử
2004 Teen Choice Award for Choice Movie Actress: Drama In Good Company Đề cử
2005 Golden Globe Award for Best Supporting Actress – Motion Picture Match Point Đề cử
2005 Chicago Film Critics Association Award for Best Supporting Actress Match Point Đề cử
2006 Teen Choice Award for Choice Movie Actress: Drama The Prestige Đề cử
2008 Teen Choice Award for Choice Movie Actress: Drama The Other Boleyn Girl Đề cử
2010 Saturn Award for Best Supporting Actress Iron Man 2 Đề cử
2010 Teen Choice Award for Movie Actress – Sci-Fi/Fantasy Iron Man 2 Đề cử
2010 Tony Award for Best Featured Actress in a Play A View from the Bridge Đoạt giải
2012 Teen Choice Award for Choice Movie Actress: Drama We Bought a Zoo Đề cử
2012 Teen Choice Award for Movie Actress – Sci-Fi/Fantasy The Avengers Đề cử
2012 Teen Choice Award for Summer Movie Star – Female The Avengers Đề cử
2012 People's Choice Award for Favourite Movie Actress The Avengers Đề cử
2012 People's Choice Award for Favourite Face of Heroism The Avengers Đề cử
2012 People's Choice Award for Favourite On-Screen Chemistry The Avengers Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Scarlett Johansson Biography (1984-)”. FilmReference.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Fleming, Mike (2 tháng 10 năm 2012). “Five Actresses Testing For 'Captain America 2' Role; Black Widow Might Drop By As Well”. Deadline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  3. ^ “People Index”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2017. 
  4. ^ The Irish Times. Ngày 27 tháng 4 năm 2012 http://www.irishtimes.com/newspaper/theticket/2012/0427/1224315215457.html.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ “Scarlett Johansson's a Jew, too”. JTA. Ngày 23 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2008. 
  6. ^ Young, Neil (ngày 6 tháng 1 năm 2004). “A period film made by someone who hates period films – [[Peter Webber]] on [[Girl with a Pearl Earring]]”. Neil Young's Film Lounge. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2006.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  7. ^ Weiss, Anthony (ngày 7 tháng 4 năm 2006). “The Scarlett Grandma”. The Jewish Forward. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2006. 
  8. ^ “Scarlett Johansson Hopes to Star as Russian Spy Again”. RA Novosti. Ngày 17 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  9. ^ Hunter Johansson tại Internet Movie Database
  10. ^ Millar, John (ngày 22 tháng 12 năm 2005). “My roll in the hay with Jonathan was agony”. Daily Record. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2010. 
  11. ^ “Scarlett Johansson Is The Other Boleyn Girl”. MovieWeb. 17 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2006. 
  12. ^ “The Other Boleyn Girl”. Metacritic. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  13. ^ “The Other Boleyn Girl (2008)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  14. ^ Travers, Peter (20 tháng 3 năm 2008). “Other Boleyn Girl”. Rolling Stone. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  15. ^ “Vicky Cristina Barcelona”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  16. ^ “He's Just Not That into You”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  17. ^ “He's Just Not That into You”. Metacritic. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  18. ^ “He's Just Not That into You (2009)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  19. ^ Medina, Jeremy (12 tháng 3 năm 2009). “Iron Man 2: Scarlett Johansson cast as Black Widow”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  20. ^ Nikki Finke (11 tháng 3 năm 2009). “ANOTHER 'IRON MAN 2' DEAL: Scarlett Johannson To Replace Emily Blunt As Black Widow For Lousy Lowball Money”. Deadline.com. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015. 
  21. ^ Sperling, Nicole (26 tháng 7 năm 2009). “Iron Man 2 crew returns to Comic-Con as conquering heroes and sets off a whole new buzz bomb”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  22. ^ “Iron Man 2”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  23. ^ “Iron Man 2”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  24. ^ “We Bought a Zoo”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012. 
  25. ^ “Marvel's The Avengers (2012)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2012. 
  26. ^ McClintock, Pamela (2 tháng 6 năm 2012). “Box Office Milestone: 'The Avengers' Becomes No. 3 Pic of All Time With $1.331 Billion”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2012. 
  27. ^ Buchanan, Kyle (21 tháng 6 năm 2013). “Exclusive: Scarlett Johansson Replaced Samantha Morton in Spike Jonze’s New Film, Her”. Vulture. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  28. ^ “Her (2013)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2013. 
  29. ^ Foundas, Scott (12 tháng 10 năm 2013). “Film Review: ‘Her’”. Variety. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  30. ^ Corliss, Richard (12 tháng 10 năm 2013). “Spike Jonze’s her: Falling in Love With the IT Girl Read more: Spike Jonze's 'her': Falling in Love With the IT Girl”. Time. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  31. ^ Kit, Borys (3 tháng 11 năm 2010). “Scarlett Johansson to Play Alien Seductress in 'Under the Skin'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  32. ^ “Under the Skin (2013)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  33. ^ Willman, Chris (1 tháng 4 năm 2014). “Review: Jonathan Glazer's Seductive Girl-Who-Fell-To-Earth Pic 'Under The Skin' Starring Scarlett Johansson”. IndieWire. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  34. ^ Travers, Peter (3 tháng 4 năm 2014). “Under the Skin”. Rolling Stone. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ Miller, Julie (3 tháng 9 năm 2013). “Alien Scarlett Johansson Seduces Scottish Men (but Not Early Critics) in Under the Skin, Her Sexy Hitchhiker Movie”. Vanity Fair. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  36. ^ “Captain America: The Winter Soldier (2014)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014. 
  37. ^ “Scarlett Johansson Joins Jon Favreau's 'Chef'. The Hollywood Reporter. 15 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. 
  38. ^ Siegel, Tatiana (22 tháng 4 năm 2013). “Scarlett Johansson to Star in Luc Besson's Latest Action Movie (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. 
  39. ^ Lombardi, Ken (25 tháng 7 năm 2014). 'Lucy,' 'Hercules' both get strength from critics”. CBS News. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  40. ^ Sims, David (25 tháng 7 năm 2014). “Is 'Lucy' Being Criticized as Dumb Because It's About Being Smart?”. thewire.com. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  41. ^ Gettell, Oliver (22 tháng 7 năm 2014). 'Lucy': 5 reasons the Scarlett Johansson film ruled the box office”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  42. ^ “Lucy (2014)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014. 
  43. ^ Maresca, Rachel (29 tháng 9 năm 2013). “Scarlett Johansson flaunts curves in new magazine photo shoot, reveals details on 'The Avengers' sequel”. The New York Daily News. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  44. ^ Breznican, Anthony (18 tháng 7 năm 2014). “How 'Avengers: Age of Ultron' will hide Scarlett Johansson's pregnancy”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  45. ^ Kroll, Justin (5 tháng 1 năm 2015). “Scarlett Johansson Signs On to Star in DreamWorks’ ‘Ghost in the Shell’ (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  46. ^ “Scarlett Johansson Confirmed to Star in Ghost in the Shell”. Time. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2015. 
  47. ^ Child, Ben (16 tháng 1 năm 2015). “DreamWorks accused of 'whitewashing' Ghost in the Shell by casting Scarlett Johansson”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  48. ^ Sieczkowski, Cavan (15 tháng 1 năm 2015). “Petition Calls For Recast Of Scarlett Johansson's Role In 'Ghost In The Shell'. The Huffington Post. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  49. ^ Arrant, Chris (15 tháng 1 năm 2015). “Captain America: Civil War Directors: Black Widow Will Be Back, More”. Newsarama. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  50. ^ Lang, Brent (13 tháng 4 năm 2015). “‘Captain America: Civil War’ First to Use New Imax/Arri 2D Camera (EXCLUSIVE)”. Variety. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  51. ^ “2006 Hot 100 Photos”. Maxim. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2009. 
  52. ^ “2007 Top 100 Photos”. Maxim. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2009. 
  53. ^ “2008 Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  54. ^ “2009 Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  55. ^ “2010 Hot 100”. Maxim. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  56. ^ “2011 Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  57. ^ “2012 Maxim Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  58. ^ “Maxim 2013 Hot 100”. Maxim. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  59. ^ “Sexiest Women & Hottest Celebrities | Maxim 2014 Hot 100”. Maxim. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  60. ^ “Esquire: Scarlett Johansson 'Sexiest'. The Washington Post. 29 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2006. 
  61. ^ “Scarlett Johansson Named Sexiest Woman Alive”. CBS News. Associated Press. 7 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2014. 
  62. ^ “Table of Contents, March 2006”. Vanity Fair. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  63. ^ “Iron Man 2: Scarlett Johansson fever strikes again.”. The Belfast Telegraph. 27 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010. 
  64. ^ “GQ's Babe of the Year Is Scarlett Johansson”. 
  65. ^ “The 100 Hottest Women of All-Time”. Men's Health. 2011. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012. 
  66. ^ “Scarlett Johansson – Fulsome fantasy”. FHM. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]