Seohyun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Seohyun
Seohyun at Kakao Talk The Game in January 2016 04.jpg
Seohyun vào tháng 1 năm 2016
Tên gốc 서주현
Sinh Seo Ju-hyun
28 tháng 6, 1991 (24 tuổi)
Seoul, Hàn Quốc
Công việc
Sự nghiệp âm nhạc
Năm hoạt động 2007 (2007) – nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment
Hợp tác với
Nghệ danh
Hangul 서현
Hanja 徐玄
Romaja quốc ngữ Seo-hyeon
McCune–Reischauer Sŏhyŏn
Tên khai sinh
Hangul 서주현
Hanja
Romaja quốc ngữ Seo Ju-hyeon
McCune–Reischauer Sŏ Chuhyŏn

Seo Joo-hyun (sinh ngày 28 tháng 6 năm 1991), thường được biết đến với nghệ danh Seohyun, là một nữ ca sĩ kiêm diễn viên Hàn Quốc, thành viên nhỏ tuổi nhất của nhóm nhạc nữ Girls' Generation và nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Seohyun sinh ra tại Seoul, Hàn Quốc và là con một trong gia đình.[1] Mẹ cô là bà Kim Young-ah, một giảng viên piano nên đã cô đã theo học chơi nhạc cụ này từ năm 5 tuổi. Năm 2009, bà đã tham gia với vai trò khách mời đặc biệt trong chương trình Kim Jungeun's Chocolate cùng với các thành viên của nhóm Girls' Generation.[2]

Seohyun được nhân viên của công ty S.M. Entertainment phát hiện khi đang ngồi trên tàu điện ngầm. Năm 2003, cô tham gia thử giọng tại SM Casting System với một ca khúc thiếu nhi và trở thành thực tập sinh vào cùng năm.[3]

Seohyun theo học THCS Seoul, Trung học Daeyoung sau đó chuyển sang Trung học Nghệ thuật Jeonju và tốt nghiệp vào tngày 9 tháng 2 năm 2010.[4]. Ngày 21 tháng 8 năm 2014, cô và Yoona, một thành viên khác của Girls' Generation, cùng ngau tốt nghiệp trường Đại học Dongguk[5][6] và nhận được giải thưởng thành tựu.[7]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2007, Seohyun chính thức ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation. Năm 2008, cô cùng với các thành viên cùng nhóm JessicaTiffany phát hành hai bài hát "Oppa Nappa" và "It's Fantastic".[8][9] Năm 2009, cô song ca với ca sĩ nhạc trot Joo Hyun-mi trong bài hát "JjaRaJaJja".[10] Bài hát được đề cử ở hạng mục bài hát nhạc trot của năm tại lễ trao giải Mnet Asian Music Awards lần thứ 11.

Năm 2010, Seohyun phát hành bài hát solo đầu tiên kể từ khi ra mắt "It's Okay Even If It Hurts", nhạc phim của bộ phim truyền hình cổ trang Kim Soo Ro. Năm 2011, cô góp mặt trong bài hát "Journey" nằm trong album phòng thu thứ năm Keep Your Head Down của nhóm nhạc nam cùng công ty TVXQ.[11] Cô cũng song ca với Donghae, thành viên nhóm nhạc nam cùng công ty Super Junior, trong bài hát "Dreams Come True" của sự kiện Asia Song Festival năm 2011, một dự án gây quỹ từ thiện của UNICEF.[12]

Tháng 2 năm 2012, Seohyun góp mặt trong bài hát "Don't Say No" của Yoon Gun, thành viên nhóm nhạc nam Brown Eyes.[13] Tháng 4 năm 2012, cô phát hành bài hát solo "I'll Wait For You", nhạc phim của bộ phim truyền hình Fashion King mà thành viên cùng nhóm Yuri thủ vai chính. Tháng 5 năm 2012, Seohyun trở thành thành viên của nhóm nhỏ Girls' Generation-TTS cùng với các thành viên cùng nhóm TaeyeonTiffany với mini-album đầu tay Twinkle.[14]

Năm 2013, Seohyun và các thành viên cùng nhóm Yuri và Sooyoung viết lời cho hai bài hát "Baby Maybe" và "XYZ" nằm trong album phòng thu thứ tư I Got a Boy của Girls' Generation. Năm 2014, cô viết lời cho bài hát "Only U" nằm trong mini-album thứ hai Holler của Girls' Generation-TTS. Năm 2015, cô viết lời cho phiên bản tiếng Hàn của bài hát chủ đề "Dear Santa" nằm trong mini-album thứ ba cùng tên của Girls' Generation-TTS.

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Seohyun trong vai Scarlett O'Hara tại buổi diễn vào tháng 1 năm 2015 của vở nhạc kịch Gone with the Wind

Năm 2010 và 2013, Seohyun và thành viên cùng nhóm Taeyeon tham gia vào việc lồng tiếng cho phiên bản tiếng Hàn của bộ phim hoạt hình Despicable Me và phần tiếp theo Despicable Me 2 lần lượt trong các vai Margo và Edith.[15][16] Tháng 9 năm 2013, cô đảm nhận vai phụ Han Yoo-rim, mối tình đầu của nhân vật nam chính, trong bộ phim truyền hình Passionate Love.[17]

Năm 2014, Seohyun xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu kịch trong vở nhạc kịch Moon Embracing the Sun trong vai nữ chính Heo Yeon-woo bên cạnh Kyuhyun, nghệ sĩ cùng công ty và thành viên nhóm nhạc nam Super Junior.[18] Tháng 11 năm 2015, cô đảm nhận vai nữ chính Scarlett O'Hara trong vở nhạc kịch Gone with the Wind[19] và được công bố là sẽ tham gia vào bộ phim điện ảnh So I Married My Anti-fan bên cạnh Chanyeol, nghệ sĩ cùng công ty và thành viên nhóm nhạc nam EXO.[20] Tháng 12 năm 2015, cô được giao vai nữ chính Sophie Sheridan trong phiên bản tiếng Hàn của vở nhạc kịch Mamma Mia!.[21]

Tháng 1 năm 2016, Seohyun được xác nhận là sẽ tham gia bộ phim truyền hình cổ trang Moon Lovers bên cạnh các diễn viên như Lee Joon-gi, Kang Ha-neul, IUBaekhyun.[22]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Seohyun và Jung Yong-hwa, thành viên ban nhạc CN Blue, tham gia chương trình truyền hình thực tế We Got Married từ ngày 11 tháng 2 năm 2010 đến ngày 2 tháng 4 năm 2011. Hai người nhận được giải thưởng cặp đôi được yêu thích nhất tại lễ trao giải MBC Entertainment Awards năm 2010.

Tháng 2 năm 2012, Seohyun và các thành viên cùng nhóm TaeyeonTiffany trở thành người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình âm nhạc hàng tuần Show! Music Core của đài MBC.[23] Ba người rời khỏi vị trí này vào tháng 4 năm 2013 để tập trung cho các hoạt động của Girls' Generation.[24]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Seohyun quyên góp cho quỹ học bổng của trường Đại học Dongguk vào tháng 11 năm 2013

Năm 2010, Seohyun được Sở Giáo dục Seoul bổ nhiệm làm đại sứ thiện chí của một chiến dịch khuyến khích học sinh, sinh viên tập thể dục.[25] Năm 2011, cô trở thành đại sứ của UNICEF sau những hoạt động của mình với dự án giúp đỡ trẻ em ở châu Phi của tổ chức này.[26] Năm 2012, cô được bổ nhiệm làm đại sứ thiện chí của triển lãm quốc tế Expo 2012 do Liên Hợp Quốc tổ chức tại thành phố Yeosu, Hàn Quốc.[27]

Tháng 11 năm 2013, nhằm hỗ trợ những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, Seohyun đã quyên góp 100 triệu won vào quỹ học bổng của trường Đại học Dongguk. Năm 2014, cô tham gia buỗi diễn từ thiện "Happy Day" và quyên góp một số vật dụng cá nhân của mình nhằm gây quỹ để giúp đỡ trẻ em tị nạn Syria.[28]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Thứ hạng
cao nhất
Doanh số
(tải về)
Album
HQ
Gaon

[29]
2008 "Love Hate"
(với Jessica và Tiffany)
N/A Roommate
"It's Fantastic"
(với Jessica và Tiffany)
N/A It's Fantastic
"Haptic Motion"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny)
N/A N/A
2009 "Jjarajajja"
(với Joo Hyun-miDavichi)
N/A Jjarajajja
"Seoul"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny, Kyuhyun, Sungmin,
Ryeowook, DonghaeLeeteuk)
N/A Đĩa đơn nhạc số
"I Can't Bear Anymore (Bear Song)"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny)
N/A N/A
2010 "Cabi Song"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny, Chansung, Jun. K
Taecyeon)
N/A Đĩa đơn nhạc số
"Cooky"
(với Tiffany, Jessica và Sunny)
N/A N/A
"Let's Go"
(với nhiều nghệ sĩ)
N/A Let's Go
2011 "Dreams Come True"
(với Donghae)
N/A 2011 Asia Song Festival with UNICEF
"The Magic of Yellow Ribbon"
(với Kim Hyun-joong)
N/A N/A
2012 "Don't Say No"
(với Yoon Gun)
17 Đĩa đơn nhạc số
2013 "T'Ple Couple Song"
(với Kyuhyun)
N/A N/A
"You Are A Miracle"
(với nhiều nghệ sĩ)
32 2013 SBS Gayo Daejun Friendship Project
"—" cho biết bài hát không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực này.

Với tư cách khách mời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Album
2011 "Journey"
(TVXQ hợp tác với Seohyun)
Keep Your Head Down

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Thứ hạng
cao nhất
Doanh số
(tải về)
Album
HQ
Gaon

[29]
2007 "Touch the Sky"
(với Taeyeon, Jessica, SunnyTiffany)
N/A Thirty Thousand Miles in Search of My Son OST
2008 "The Little Boat"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny và Tiffany)
N/A Hong Gildong OST
2009 "Motion"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny và Tiffany)
N/A Heading to the Ground OST
2010 "Haechi"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny và Tiffany)
N/A My Friend Haechi
"It's Okay Even If It Hurts" 90 N/A Kim Soo Ro OST
2012 "I'll Wait for You" 32 Fashion King OST
2014 "Cheap Creeper"
(với Taeyeon, Jessica, Sunny và Tiffany)
N/A Make Your Move OST
"—" cho biết bài hát không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành tại khu vực này.

Các bài hát đã phổ lời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Album Nghệ sĩ Ghi chú
2013 "Baby Maybe" I Got a Boy Girls' Generation Đồng sáng tác với YuriSooyoung
"XYZ" Đồng sáng tác với Yuri
2014 "Only U" Holler Girls' Generation-TTS Tự sáng tác
2015 "Dear Santa" Dear Santa

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú Chú thích
2010 Despicable Me Edith Lồng tiếng cho phiên bản tiếng Hàn
2012 I AM. – SM Town Live World Tour in Madison Square Garden Chính mình Phim tài liệu về SM Town [33]
2013 Despicable Me 2 Edith Lồng tiếng cho phiên bản tiếng Hàn
2014 My Brilliant Life Chính mình Khách mời [34]
2015 SMTown The Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town [35]
2016 So I Married My Anti-fan InHyong Vai nữ thứ chính

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Kênh Vai Ghi chú Chú thích
2007 Kimcheed Radish Cubes MBC Chính mình Khách mời
2008 Unstoppable Marriage KBS Công chúa Bulgwang-dong Khách mời
2013 Passionate Love SBS Han Yoo-rim Vai phụ [36]
2015 The Producers KBS Chính mình Khách mời; tập 1 [37]
Warm and Cozy MBC Hwang Yura Khách mời [38]
2016 Scarlet Heart: Ryeo SBS Woo Hee Vai phụ

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Kênh Vai Ghi chú
2010–2011 We Got Married MBC Chính mình Cùng với Yonghwa; mùa 2
2012–2013 Show! Music Core MBC Dẫn chương trình Cùng với Taeyeon và Tiffany
2013 Real Men MBC Thuyết minh Cùng với Sunny
2014 The TaeTiSeo OnStyle Chính mình Cùng với Taeyeon và Tiffany; 8 tập
2014-2015 Infinity Challenge MBC Chính mình Cùng với S.E.S.
2015 Take Care Of My Dad SBS Thuyết minh

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ Ghi chú
2010 "Let's Go!" Nhiều nghệ sĩ
"Oh My Goddess" TRAX Khách mời

Sân khấu kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên vở kịch Vai Ghi chú
2014 Moon Embracing the Sun Heo Yeon-woo Vai chính
2015 Gone with the Wind Scarlett O'Hara Vai chính[19]
2016 Mamma Mia! Sophie Vai chính

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2009 2009 Mnet Asian Music Awards Trot Music of the Year (cùng với Joo Hyun-MiDavichi) "Jjarajajja" Đề cử
2010 South Korea Ministry of Culture Recognition Award[39] Chính mình Đoạt giải
MBC Entertainment Awards 2010 Cặp đôi được yêu thích nhất (với Jung Yong-hwa)[40] We Got Married Đoạt giải
2011 Mnet 20's Choice Awards Hot Campus Goddess Chính mình Đề cử
Mnet Media Awards Most Cute and Gorgeous Lady[41] Đề cử
2013 Seoul International Drama Awards Bài hát nhạc phim truyền hình xuất sắc nhất[42] "I'll Wait for You" Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 72. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ 'Dear Mom': A Peek Into Girls' Generation And Their Mothers”. kpopstarz.com (bằng tiếng Anh). 12 tháng 5 năm 2013. 
  3. ^ “MTV Girls' Generation Episode 4”. MTV Girls' Generation (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 10 năm 2007. SBS MTV. Seoul Broadcasting System. 
  4. ^ Seohyun graduates from high school on February 9 "All Girls' Generation members are now 20+" (in Korean) Star.mt.co.kr (January 12, 2010). Retrieved on December 14, 2014.
  5. ^ Kim, Hyeong-wu (5 tháng 2, 2010). “소녀시대 서현 졸업사진 공개 화제 ‘청순 풋풋 매력발산’”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Truy cập 26 tháng 2, 2010. 
  6. ^ Kim, Ji-yeon. (tiếng Hàn) '입학' 서현 "대학생활 열심히..좋은 추억만들고파" ("Admission" Seohyun: "I Will Study Hard in University...and Wish to Make Many Memories"). SPN Daily/Money Today. 23 tháng 2, 2010. Truy cập ngày 26 tháng 2, 2010.
  7. ^ “Girls' Generation's Seohyun to receive an Achievement Award at Dongguk University's Graduation Ceremony”. Osen.mt.co.kr (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  8. ^ Kim Hyeong-wu (16 tháng 2 năm 2009). “소녀시대 티파니 “‘오빠나빠’ 활동 당시 성대결절 고생””. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010. 
  9. ^ “Girls' Generation Jessica, Tiffany and Seohyun released a game theme song”. Newsen.com (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “주현미 -소녀시대, 트로트 싱글 `짜라자짜` 발표”. Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010. 
  11. ^ “소시 서현, 2인 동방신기 도우미로..신곡 피처링”. Daum (bằng tiếng Hàn). 11 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ "Music and charity as Asia Song Fest wraps up its eighth year". Joongang Daily (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  13. ^ “Yoon Gun and Girls' Generation Seohyun to Release Duet Single "Don't Say No" on February 13”. 
  14. ^ “Subgroup "TTS", formed by Girls' Generation's Taeyeon, Tiffany & Seohyun, debuts in May”. Daum.net (bằng tiếng Hàn). 19 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  15. ^ “Girls' Generation's Taeyeon and Seohyun cast as voice actors for Despicable Me. Newsen.com (bằng tiếng Hàn). 17 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  16. ^ “Girls Generation Taeyeon and Seohyun to throw first pitch”. BNTNews.co.uk (bằng tiếng Hàn). 28 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2015. 
  17. ^ “Leading lineup of SBS drama 'Passionate Love' confirmed”. allkpop (bằng tiếng Anh). 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2013. 
  18. ^ “슈주 규현-소시 서현 ‘해를 품은 달’이 되다”. news.hankooki.com (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  19. ^ a ă “Seohyun to star in first Korean Gone with the Wind musical”. MSN. 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2014. 
  20. ^ “EXO's Chanyeol and Girls' Generation's Seohyun get close in stills for upcoming movie 'So I Married an Anti-Fan'. allkpop (bằng tiếng Anh). 11 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016. 
  21. ^ “Seohyun lands the lead role in musical 'Mamma Mia!'. allkpop (bằng tiếng Anh). 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016. 
  22. ^ “Girls' Generation's Seohyun and actress Kang Han Na confirmed for drama 'Moon Lovers'. allkpop (bằng tiếng Anh). 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2016. 
  23. ^ “Taeyeon and Seohyun to join Tiffany as new 'Music Core' MCs”. llkpop.com (bằng tiếng Anh). 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  24. ^ “Taeyeon, Tiffany, and Seohyun give their farewell greetings on 'Music Core'. allkpop.com (bằng tiếng Anh). 13 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2014. 
  25. ^ “박태환ㆍ서현 `서울학생 체력증진' 홍보대사”. Yonhap News (bằng tiếng Hàn). 13 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010. 
  26. ^ “Photos from Seohyun and Donghae’s ‘UNICEF’ envoy inauguration ceremony”. allkpop (bằng tiếng Anh). 
  27. ^ “소녀시대 서현, 2012 여수 엑스포 유엔관 홍보대사”. asiatoday.co.kr (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  28. ^ “소녀시대 서현, 시리아 난민위해 애장품 기증 '개념돌'. media.daum.net (bằng tiếng Hàn). 21 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014. 
  29. ^ a ă “Gaon Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). 
  30. ^ Tổng doanh số của "Don't Say No":
  31. ^ “Gaon Download Chart, December 29, 2013-January 4, 2014”. Gaon Music Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2016. 
  32. ^ Tổng doanh số của "I'll Wait for You":
  33. ^ “Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes”. Chosun Ilbo. 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  34. ^ TaeTiSeo makes a cameo appearance in Kang Dong Won's movie My Brilliant Life (in Korean) Hankooki.com (August 21, 2014). Retrieved on August 21, 2014.
  35. ^ (tiếng Hàn) 'SM타운' 공연실황 다큐, 8월13일 국내개봉 확정
  36. ^ Oh, Jean (24 tháng 9 năm 2013). “Girls’ Generation’s Seohyun makes acting debut”. Korea Herald. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  37. ^ Yoon, Sarah (14 tháng 5 năm 2015). “SNSD to appear in Kim Soo-hyun's drama 'The Producers'. Kpop Herald. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2015. 
  38. ^ '맨도롱 또똣' 서현, 꽃미소 날리며 등장...진영, 홀딱 반했다”. The Chosun Ilbo. 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015. 
  39. ^ “Ministry of Culture award”. SONEms. 13 tháng 1 năm 2010. 
  40. ^ “Yoo Jae Suk wins Daesand Adam and Khuntoria couples also win at the MBC Entertainment Awards”. allkpop. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011. 
  41. ^ “Mnet Media Awards 2011 nominees has just been released”. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2011. 
  42. ^ “서울드라마어워즈 2013 한류 드라마부문”. Daum. Tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]