Sergey Karjakin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sergey Karjakin
SKarjakin12.jpg
Tên khai sinh Sergey Aleksandrovich Karjakin
Quốc gia Ukraina (đến 2009)
Nga (từ 2009)
Ngày sinh 12 tháng 1, 1990 (28 tuổi)
Nơi sinh Simferopol, Xô viết Ukraina, Liên Xô
Thành tích
Danh hiệu Đại kiện tướng cờ vua
Hệ số Elo 2773 Hạng 10 (8.2018)
Elo cao nhất 2788 (7.2011)
Thứ hạng cao nhất Hạng 4 (7.2011)

Sergey Aleksandrovich Karjakin ([Сергій Олександрович Карякін, Serhiy Oleksandrovych Karjakin] lỗi: {{lang-xx}}: văn bản có thẻ đánh dấu in xiên (trợ giúp); tiếng Nga: Серге́й Алекса́ндрович Каря́кин; sinh 12 tháng 1 năm 1990) là một đại kiện tướng cờ vua người Nga gốc Ukraina. Anh đã từng là một thần đồng cờ vua và đang giữ kỷ lục cho đại kiện tướng trẻ nhất thế giới, lúc 12 tuổi 7 tháng. Anh là kỳ thủ duy nhất đạt được danh hiệu đại kiện tướng khi chưa đến 13 tuổi.

Karjakin vô địch cờ nhanh thế giới năm 2012 và vô địch Cúp cờ vua thế giới 2015. Ở các giải đấu lớn anh từng hai lần vô địch Giải cờ vua Na Uy (2013, 2014) và Giải cờ vua Corus năm 2009.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đại kiện tướng trẻ nhất trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Karjakin đạt được chuẩn đại kiện tướng đầu tiên tại Giải cờ vua Aeroflot năm 2002. Đến tháng 5 năm 2002, Karjakin đạt chuẩn thứ hai khi đồng vô địch giải Alushta ở Ukraina. Ngày 20 tháng 8 năm 2002, Karjakin hoàn thành chuẩn thứ ba tại một giải cờ ở Sudak. Elo của anh lúc đó đã đạt 2523 nên anh trở thành đại kiện tướng trẻ nhất thế giới trong lịch sử ở độ tuổi 12 tuổi 7 tháng[1]. Kỷ lục này vẫn còn tồn tại đến nay.

Tranh ngôi vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên Karjakin tham dự một giải chọn nhà thách đấu (Candidates) là năm 2014, với tư cách về nhì chuỗi Grand Prix 2012-13. Tại giải đấu này anh đạt 7,5 điểm / 14 ván (+3 =9 –2), xếp hạng nhì sau Anand[2].

Karjakin tiếp tục lọt vào vòng chọn nhà thách đấu cho trận tranh ngôi năm 2016. Lần này với tư cách nhà vô địch Cúp cờ vua thế giới 2015. Anh vô địch giải đấu với 8,5 / 14 điểm (+4 =9 –1), trở thành nhà thách đấu vua cờ hiện tại Carlsen[3].

Trong trận tranh ngôi vua cờ tháng 11 năm 2016, Karjakin hòa Carlsen 7 ván đầu tiên và thắng ván 8, dẫn điểm 4½ – 3½[4]. Tuy nhiên đến ván 10 Carlsen thắng lại và cân bằng tỉ số 5 – 5[5]. Trận đấu 12 ván hòa 6 – 6 và phải thi đấu cờ nhanh để phân thắng bại. Thi đấu 4 ván cờ nhanh, Karjakin thua 1 - 3 và Carlsen tiếp tục giữ ngôi vua cờ.

Với việc lọt vào trận tranh năm 2016, Karjakin có suất dự Candidates 2018.

Các giải đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2009, khi mới 19 tuổi, Karjakin cưới kiện tướng nữ Kateryna Dolzhikova[6]. Tuy nhiên hai người chia tay chỉ sau hai năm rưỡi chung sống.

Tháng 5 năm 2014, Karjakin lấy vợ lần thứ hai. Vợ anh là Galiya Kamalova[7]. Hai người có một con trai vào cuối năm 2015.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Record-breaking mini-grandmaster? (Kỷ lục đại kiện tướng trẻ nhất bị phá vỡ?)”. ChessBase. 16 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  2. ^ Alejandro Ramirez (30 tháng 3 năm 2014). “Candidates Final: Karjakin grabs second (Chung cuộc Candidates: Karjakin giành ngôi nhì)”. ChessBase. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  3. ^ Peter Doggers (28 tháng 3 năm 2016). “Karjakin Wins Candidates' Tournament, Qualifies For World Title Match (Karjakin vô địch giải chọn nhà thách đấu, vào đánh trận tranh ngôi vua cờ)”. chess.com. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  4. ^ Dylan Loeb McClain (22 tháng 11 năm 2016). “World Ch., Game 8: Karjakin Wins and Seizes Lead (Ván 8 trận tranh ngôi: Karjakin thắng và dẫn trước)”. worldchess.com. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  5. ^ Dylan Loeb McClain (25 tháng 11 năm 2016). “World Ch., Game 10: Magnus Carlsen Strikes Back, Evens the Score (Ván 10 trận tranh ngôi: Magnus Carlsen phản công, cân bằng tỉ số)”. worldchess.com. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  6. ^ “Sergey and Kateryna tie the knot (Sergey và Kateryna lấy nhau)”. ChessBase. 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)
  7. ^ “Sergey and Galia. A Chess Wedding (Sergey và Galia. Một đám cưới cờ vua)”. chess-news.ru. 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2016.  (tiếng Anh)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]