Seventeen (nhóm nhạc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SEVENTEEN
세븐틴
Seventeen going to a recording in May 2016.jpg
SEVENTEEN vào tháng 5 năm 2016
Từ trái sang: Jun, Vernon, DK, Seungkwan, Hoshi, Joshua, S.Coups, Woozi, Wonwoo, Jeonghan, The8, Dino, Mingyu
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-Pop, hip hop
Năm hoạt động 2015 (2015) – nay
Công ty quản lý Pledis Entertainment
Hãng đĩa LOEN Entertainment (Hàn Quốc)
Warner Music Taiwan(Trung Quốc)
Website seventeen-17.com
Thành viên hiện tại
Tên tiếng Hàn
Hangul 세븐틴
Romaja quốc ngữ Sebeuntin
McCune–Reischauer Sepŭnt'in
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Seventeen (Hangul세븐틴; được viết cách điệu như SEVENTEEN hay còn được viết tắt là SVT) là một nhóm nhạc nam Hàn Quốc gồm 13 thành viên được thành lập bởi Pledis Entertainment và ra mắt vào ngày 26 tháng 5 năm 2015. Seventeen được chia thành ba nhóm nhỏ, mỗi nhóm nhỏ đảm nhận một lĩnh vực riêng, đó là: 'Hip-hop team', 'Vocal team' và 'Performance team'.

Các thành viên của Seventeen đều tham gia vào quá trình soạn nhạc và sản xuất các bài hát của nhóm và kể cả vũ đạo, nên nhóm còn được gọi bằng cái tên "nhóm nhạc tự sản xuất", "tân binh quái vật", "Idol tự sản xuất".[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2013, công ty Pledis bắt đầu phát sóng một chương trình trực tiếp có tên 17TV trên web online trực tuyến UStream [2]. Trong suốt thời gian lên sóng, các fans đã được mời đến phòng tập của Seventeen để tận mắt theo dõi quá trình thực tập của họ. Các thực tập sinh lần được ra mắt công chúng qua các “seasons” khác nhau của chương trình [3], một số thực tập sinh khác lại kết thúc quá trình đào tạo của họ sau các concert “Like Seventeen”.

Ngày 19/2/2015, Pledis hé lộ teaser cho chương trình thực tế của Seventeen có tên “Seventeen Project": Debut Big Plan” trên kênh truyền hình MBC [4]. Tập đầu tiên được phát sóng vào 2/5 và tập cuối vào 26/5 là một debut showcase trình chiếu trực tiếp do Lizzy và Raina của After School làm MC [5].

2015: Ra mắt với 17 CaratsBoys Be[sửa | sửa mã nguồn]

Seventeen trong showcase ra mắt vào tháng 5 năm 2015

Seventeen chính thức debut vào ngày 26/5/2015. Đây là nhóm nhạc Hàn đầu tiên được ra mắt qua một showcase trực tiếp kéo dài 1 tiếng của kênh truyền hình lớn MBC, do LizzyRaina của After School làm MC [6][7]. Ba ngày sau, mini album 17Carat cùng MV của bài hát chủ đề Adore U (아낀다)[8] cũng lần lượt được ra mắt. Đáng chú ý, mini album đầu tay được sáng tác, viết lời, sản xuất bởi chính các thành viên trong nhóm, được lên kệ vào 2/6 [9]. Mặc dù đến từ một công ty nhỏ nhưng sau 1 tuần, “17Carat” đã được lọt vào BXH Album Thế giới của Billboard [10][11][12][13][14], trụ hạng 8 và 9 trong tổng cộng 11 tuần. Tại Hàn, album lần đầu đạt hạng 8 và dần leo vọt lên hạng 4 trên BXH Album Gaon, hạng 3 trong hạng mục album trong nước.

Ngày 31/8, Seventeen bắt đầu hé lộ teaser cho mini album thứ hai “Boys Be” trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội. Tracklist cùng 2 phiên bản khác nhau của album được ra mắt vào 3/9, MV của bài hát chủ đề Mansae (만세) [15] vào 10/9. Album lại được sản xuất, sáng tác, viết lời bởi chính các thành viên trong nhóm. Lượng pre-order cán mốc 30 000 bản, đạt hạng 2 trên BXH Gaon và hạng 1 trên BXH Album toàn Thế giới.[16]. Vào ngày 4 tháng 12, đĩa đơn kĩ thuật số mang tên "Q&A" được phát hành bởi S.Coups, Woozi và Vernon, với sự góp giọng của Ailee. Bài hát được sáng tác vào năm trước bởii thành viên Woozi, trước khi nhóm ra mắt.

Seventeen tổ chức một số concert mang tên 2015 Like Seventeen – Boys Wish từ 24 đến 26 tháng 12 như một sự kiện cuối năm tại Yongsan Art Hall ở Seoul và vé của buổi concert bán hết sạch chỉ trong vòng 1 phút. Sau sự thành công của concert trước, nhóm lại tổ chức hai buổi concert tiếp theo vào ngày 13 và 14 tháng 2 tên Like Seventeen – Boys Wish Encore Concert và bán hết vé trong vòng 5 phút. Và trong buổi concert thứ hai nhóm đã công bố tên fanclub chính thức.

2016: Love & Letter, chuyến lưu diễn châu Á và Going Seventeen[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24/4/2016, Seventeen comeback trên sân khấu MelOn, được chiếu trực tiếp trên kênh 1theK. Ngay tối hôm đó, công ty đã cho ra lò MV "Pretty U" (예쁘다, Romaja: Yeppeuda) [17] và ngày hôm sau, 25/4/2016, full album "Love&Letter" chính thức lên kệ gồm hai bản là bản Love và bản Letter. Album lần này đều được các thành viên trong nhóm sản xuất, viết lời, biên đạo. Chỉ sau tuần đầu tiên phát hành, album đã bán được hơn 80,000 bản chưa tính lượng pre-order. Đặc biệt là vào ngày 4/5/2016, Seventeen đã giành được chiến thằng đầu tiên trên Show Champion và một tuần sau đó, ngày 11/5, nhóm đã đạt chiến thắng thứ hai cũng trên Show Champion.

Seventeen đến đài truyền hình KBS vào ngày 15 tháng 7 năm 2016

Vào ngày 13 tháng 5, Seventeen thông báo nhóm sẽ biểu diễn ở 8 quốc gia, trong đó có Singapore, Úc và Trung Quốc từ 13 tháng 8 đến 11 tháng 9 trong tour diễn đầu tiên của mình '1st Asia Tour 2016'. Tiếp đó vào ngày 8 tháng 6, nhóm lại có một thông báo sẽ tổ chức một tour ở tại Nhật Bản tại Osaka và Tokyo trước tour diễn vòng quanh châu Á của nhóm [18]. Album phòng thu đầu tiên của Seventeen "Love&Letter" được tái phát hành dưới tên "아주 Nice" (Very Nice, Romaja: Aju Nice) với hai phiên bản là "REGULAR VERSION" (bản thường) và "SPECIAL EDITION" (bản đặc biệt), phát hành vào ngày 4 tháng 7 năm 2016. Nhóm quảng bá ca khúc chủ đề "아주 Nice" tronb 3 tuần và sau đó bắt đầu tour lưu diễn quanh châu Á, bắt đầu là 2 show diễn diễn ra trong 2 ngày và nhóm đã nhắn gửi các fan tại Hàn rất ngọn ngào: "Bọn mình sẽ về nhanh thôi. Hãy chờ chúng mình nhé!" và trong đó có các nước như Thái Lan, Mianma, Indonesia, Úc, Trung Quốc, Nhật Bản,... Chuyến lưu diễn đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc cho các CARAT. Vé được bán hết chỉ trong vòng 1 phút. Điều đó chứng tỏ mức độ yêu quý của fan nước ngoài đối với 13 chàng trai.[19]

Ngày 1 tháng 11, nhóm nhỏ Hiphop phát hành bài hát "Check-In"[20] để quảng bá cho mini album thứ ba của nhóm - "Going Seventeen", được dự kiến phát hành vào ngày 5 tháng 12 năm 2016 với ba phiên bản: Make a Wish, Make it HappenMake the Seventeen.[21]

Tại giải thưởng danh giá MAMA 2016, nhóm đã được đề cử vào hạng mục "Nhóm nhạc nam có phần trình diễn đẹp nhất" cùng với các tiền bối EXO, BTS, GOT7, VIXX, Monsta X. Và còn vinh dự hơn, nhóm đã được đề cử vào hạng mục giải thưởng danh giá nhất " Bài hát của năm" cùng với các tiền bối như BEAST, Taeyeon (Girls' Generation), BTS, EXO,... Đây là bước tiến không hề tồi với một nhóm nhạc chỉ mới ra mắt được 1 năm như Seventeen.

2017: 17 Japan Concert: Say The Name #Seventeen, 4th mini album "Al1", Seventeen 1st World Tour 'DIAMOND EDGE'

Seventeen biểu diễn "Don't Wanna Cry" tại Dream Concert năm 2017

Seventeen tổ chức sáu buổi hòa nhạc tại Nhật Bản từ ngày 15-24 tháng 2 với tên 17 Japan Concert: Say The Name #Seventeen.[22] Những buổi hòa nhạc đã thu hút tổng cộng 50.000 khán giả mặc dù nhóm chưa chính thức ra mắt tại Nhật.

Vào ngày 23 tháng 2, kết hợp cùng đài Music On! TV, MBC thông báo Seventeen sẽ xuất hiện trong chương trình One Fine Day lần thứ hai và chương trình được chiếu vào ngày 1 tháng 4. Seventeen là nhóm nhạc đầu tiên tham gia hai lần trong One Fine Day.[23][24]

Mini album "Al1" của nhóm được ra mắt vào ngày 22 tháng 5 năm 2017[25] và đã bán được hơn 190.000 bản trong tuần đầu tiên.[26] Sau khi quảng bá cho ca khúc chủ đề trong mini album là "Don't Wanna Cry", Seventeen sẽ chuẩn bị cho chuyến lưu diễn ở 13 thành phố gồm Seoul, Saitama, Bangkok, Hongkong, Chicago, Dallas, Toronto, New York, Kuala Lumpur, Jakarta, Singapore, Taipei và Manila.[27]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm gồm 13 thành viên và được chia thành 3 nhóm nhỏ:

Nhóm nhỏ Nghệ danh Tên Thật Ngày sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Latinh Hangul Hán Tự Hán-Việt
Hip-hop S.Coups 에스쿱스 Choi Seung-cheol 최승철 崔勝澈 Thôi Thắng Triệt 8 tháng 8 năm 1995  Hàn Quốc
Wonwoo 원우 Jeon Won-woo 전원우 全圓佑 Toàn Viên Hựu 17 tháng 7 năm 1996
Mingyu 민규 Kim Min-gyu 김민규 金珉奎 Kim Mẫn Khuê 6 tháng 4 năm 1997
Vernon 버논 Hansol Vernon Chwe 최한솔 崔韓率 Thôi Hàn Suất 18 tháng 2 năm 1998  Hàn Quốc/ Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
Vocal Jeonghan 정한 Yoon Jeong-han 윤정한 尹淨漢 Doãn Tịnh Hán 4 tháng 10 năm 1995  Hàn Quốc
Joshua 조슈아 Joshua Jisoo Hong[28] 조슈아 홍 / 홍지수 洪知秀[29] Hồng Tri Tú 30 tháng 12 năm 1995  Hoa Kỳ
Woozi 우지 Lee Ji-hoon 이지훈 李知勳 Lý Tri Huân 22 tháng 11 năm 1996  Hàn Quốc
DK 도겸 Lee Seok-min 이석민 李碩珉 Lý Thạc Mân 18 tháng 2 năm 1997
Seungkwan 승관 Boo Seung-kwan 부승관 夫勝寬 Phu Thắng Khoan 16 tháng 1 năm 1998
Performance Jun Wen Jun Hui 문준휘 文俊辉 Văn Tuấn Huy 10 tháng 6 năm 1996 Cờ Trung Quốc Trung Quốc
Hoshi 호시 Kwon Soon-young 권순영 權順榮 Quyền Thuận Vinh 15 tháng 6 năm 1996  Hàn Quốc
The8 디에잇 Xu Ming Hao/ Seo Myung-Ho 서명호 徐明浩 Từ Minh Hạo 7 tháng 11 năm 1997 Cờ Trung Quốc Trung Quốc
Dino 디노 Lee Chan 이찬 李燦 Lý Xán 11 tháng 2 năm 1999  Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thông tin album Danh sách bài hát Vị trí cao nhất Doanh thu
HQ
[30]
NB
[31]
ĐL
[32]
US Heat
[33]
TG
[34]
Love & Letter
  • Ngày phát hành: 24 tháng 4 năm 2016
  • Sản xuất: Pledis Entertainment[35]
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 8 4 5 3
Very Nice
(tái phát hành của Love & Letter)
  • Ngày phát hành: 4 tháng 7 năm 2016
  • Sản xuất: Pledis Entertainment[35]
  • Định dạng: CD, Tải nhạc số
1 6 3 -- --
  • HQ
  • NB

Mini-album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thông tin Album Danh sách bài hát Vị trí cao nhất Doanh số
KOR
[38]
NB
[39]
ĐL
[40]
TG
[41]
17 Carats 4 263 17 8
  • HQ: 62,535+[42]
  • NB: 248+
Boys Be 2 35 7 1
  • HQ: 139,086+[43]
  • NB: 8,940+
Going Seventeen
  • Ngày phát hành: 5 tháng 12 năm 2016
  • Sản xuất: Pledis Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
1 4 1 3
  • KOR: 266,342+
  • JPN: 56,951
Al1
  • Ngày phát hành: 22 tháng 5 năm 2017
  • Sản xuất: Pledis Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
1 3 1 2
  • KOR: 327,905+
  • JPN: 64,143+
  • US: 2,000

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Ngày phát hành
2015 Adore U(아낀다) 26 tháng 5 năm 2015
MANSAE(만세) 9 tháng 9 năm 2015
2016 Pretty U(예쁘다) 24 tháng 4 năm 2016
VERY NICE(아주 NICE) 3 tháng 7 năm 2016
BOOMBOOM(붐붐) 4 tháng 12 năm 2016
2017 Don't Wanna Cry(울고 싶지 않아) 22 tháng 5 năm 2017

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thành viên
2007 The Pye Dog[44] Jun
2010 The Legend Is Born: Ip Man[45] Jun
2013 My Mother (我的母亲)[46] Jun

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Thành viên
2014 MBC Hello! Stranger Vernon
2015 Big Debut Plan All
Mnet Show Me The Money 4 Vernon
SBS Running Man ep 272 All
2016 MBC One Fine Day All
Duet Song Festival Seungkwan
King Of Mask Singer Dokyum
2017 MBC One Fine Day in Japan All
2017 SBS Elementary School Teacher The8
2017 SBS Law Of Jungle ep 274-282 Mingyu
2017 MBC Weekly Idol ep 308 All

Drama[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thành viên
2015 Intouchable (男神执事团)[47] Jun

Concerts/Tours[sửa | sửa mã nguồn]

  • Like Seventeen Boys Wish (2015)
  • Like Seventeen Boys Wish Encore Concert (2016)
  • Like Seventeen "Shining Diamond" Concert (2016)
  • Seventeen 1st Concert In Japan (2016)
  • Seventeen 1st Asia Pacific Tour "Shining Diamonds" (2016)
  • Seventeen JAPAN CONCERT Say the name #SEVENTEEN (2017)
  • 2017 SEVENTEEN 1ST WORLD TOUR "DIAMOND EDGE" (2017)

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Herald, The Korea (26 tháng 5 năm 2015). “Seventeen hopes to shine like diamonds with ‘17 Carat’”. www.koreaherald.com. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ “Seventeen TV (17TV)”. Ustream. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  3. ^ “:: PLEDIS::”. pledis.co.kr. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  4. ^ “Seventeen tease upcoming debut with a video set for May 2nd!”. allkpop.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ “New K-Pop Boy Band Seventeen Debut”. kpopstarz.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ http://www.mbcplus.com/17project
  7. ^ “Seventeen to become the first group ever to debut through a 1-hour live broadcast”. allkpop.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  8. ^ “[M/V] 세븐틴(SEVENTEEN)-아낀다 (Adore U)”. 
  9. ^ “Seventeen Reveals Debut MV for "Adore U" - Soompi”. Soompi. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  10. ^ “World Music: Top World Albums Chart - Billboard”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  11. ^ “Seventeen's album '17 Carat' debuts in the top 10 on Billboard's 'World Albums' chart”. allkpop.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ “Seventeen Enters Billboard World Albums Chart at No.9 Only a Week into Debut”. Soompi. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  13. ^ “17 Carat (EP)- SEVENTEEN”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015. 
  14. ^ “Seventeen Score First No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2015. 
  15. ^ “[M/V] SEVENTEEN(세븐틴) - 만세(MANSAE)”. 
  16. ^ “2015년 25주차 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2015. 
  17. ^ “[MV] SEVENTEEN(세븐틴) _ Pretty U(예쁘다)”. 
  18. ^ “[NOTICE] 2016 SEVENTEEN 1st Asia Tour: SHINING DIAMONDS 안내공지”. Seventeen Official Website. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  19. ^ “[단독] 세븐틴, 7월 초 리패키지 앨범으로 컴백·하반기 아시아 투어…2016 '특급 대세돌' 굳히기”. Truy cập 13 tháng 6 năm 2016. 
  20. ^ “Seventeen’s Hip-Hop Team Drops MV For Mixtape”. Soompi. 1 tháng 11 năm 2016. 
  21. ^ “Seventeen Reveals New Album Concept Photos And Release Date”. Soompi. 21 tháng 11 năm 2016. 
  22. ^ “세븐틴, 日 단독 콘서트 성료‥국내외 대세돌 입증”. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  23. ^ “세븐틴, 사상 최초 '어느 멋진 날' 재출연...일본서 생존력 검증”. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2017. 
  24. ^ “여서도→일본…세븐틴 '어느 멋진 날' 한번 더 떠난다” (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2017. 
  25. ^ “세븐틴, 22일 컴백 예고… 2017년 첫 프로젝트 영상 기습 공개” (bằng tiếng Hàn). Ten Asia. 
  26. ^ “세븐틴 '올원' 초동 19만장 돌파…엑소·방탄 잇는 음반 강자 등극”. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017. 
  27. ^ “[NOTICE] 2017 SEVENTEEN 1ST WORLD TOUR "DIAMOND EDGE" 월드투어 안내 [+ENG/JPN/CHN]”. 13 tháng 5 năm 2017. 
  28. ^ “Person details for Joshua Jisoo Hong, 'California, Birth Index, 1905-1995'. FamilySearch. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2016. 
  29. ^ Chỉ là cách phát âm, không phải là tên
  30. ^ “Gaon Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ “2016 Oricon Albums Chart – June Week 2”. Oricon. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016. 
  32. ^ “FIVE-MUSIC Korea-Japan Album Chart” (bằng tiếng Trung). FIVE-MUSIC. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
    To access, select the indicated week and year in the bottom-left drop-down menu:
    • First Love & Letter (2016): "The 18th Week of 2016"
  33. ^ “Heatseekers Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  34. ^ “Top World Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  35. ^ a ă “Pledis Entertainment”. 
  36. ^ Cumulative sales of "Love & Letter":
  37. ^ “2016 Oricon Albums Chart – June Week 2”. Oricon. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016. 
  38. ^ “Gaon Album Chart”. Gaon Chart (bằng tiếng Triều Tiên). Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2015. 
  39. ^ “週間 CDアルバムランキング - 2015年10月05日付 - ボーイズ・ビー”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015. 
  40. ^ “FIVE-MUSIC Korea-Japan Album Chart” (bằng tiếng Trung). FIVE-MUSIC. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015. 
    To access, select the indicated week and year in the bottom-left drop-down menu:
    • 17 Carat (2015): "The 23rd Week of 2015"
    • Boys Be (2015): "The 38th Week of 2015"
  41. ^ “Top World Albums Chart”. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2015. 
  42. ^ Cumulative sales of "17 Carat":
  43. ^ Cumulative sales of "Boys Be":
  44. ^ “Love HK Film:The Pye Dog Review”. lovehkfilm.com. Truy cập 2007. 
  45. ^ “葉問前傳 The Legend Is Born - Ip Man (2010)”. hkmdb.com. Truy cập 2010. 
  46. ^ “My Mother”. tudou.com. Truy cập 2013. 
  47. ^ “SEVENTEEN’s Jun becomes a vampire for Chinese web drama Intouchable”. koreaboo.com. Truy cập 4 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]