Shim Chang-min
Changmin | |
|---|---|
Changmin vào năm 2019 | |
| Sinh | Shim Chang-min 18 tháng 2, 1988 Seoul, Hàn Quốc |
| Tên khác |
|
| Trường lớp | Đại học Kyung Hee Đại học Inha |
| Nghề nghiệp |
|
| Chiều cao | 1,86 m (6 ft 1 in) |
| Con cái | 1 |
| Sự nghiệp âm nhạc | |
| Thể loại | |
| Nhạc cụ |
|
| Năm hoạt động | 2003–nay |
| Hãng đĩa | |
| Shim Changmin | |
| Hangul | 심창민 |
|---|---|
| Hanja | |
| Romaja quốc ngữ | Sim Chang-min |
| McCune–Reischauer | Sim Ch'angmin |
| Hán-Việt | Thẩm Xương Mân |
| Tên nghệ danh | |
| Hangul | 최강창민 |
|---|---|
| Hanja | |
| Romaja quốc ngữ | Choe-gang Chang-min |
| McCune–Reischauer | Ch'oegang Ch'angmin |
| Hán-Việt | Tối Cường Xương Mân |
Shim Chang-min (Hangul: 심창민; Hanja: 沈昌珉; Hán-Việt: Thẩm Xương Mân; sinh ngày 18 tháng 2 năm 1988) được biết đến với nghệ danh Max Changmin hay gọn hơn là MAX và Changmin (チャンミン Changmin) tại Nhật Bản, là nam ca sĩ Hàn Quốc, thành viên của nhóm nhạc TVXQ. Anh ra mắt cùng nhóm TVXQ năm 2003 với ca khúc "Hug".
Đầu đời và giáo dục
[sửa | sửa mã nguồn]Changmin sinh ngày 18 tháng 2 năm 1988[1] tại Songpa-gu, Seoul, Hàn Quốc[2] trong một gia đình theo đạo Phật có cha mẹ đều là giáo viên và hai em gái.
Năm 14 tuổi, Changmin được một nhân viên của công ty SM Entertainment phát hiện trong khi anh đang chơi cầu lông ở dưới sân trường.[2] Người này đã đuổi theo Changmin và mời anh tới buổi thử giọng nhưng anh đã từ chối vì sợ bị lừa đảo. Sau khi nghe Changmin thuật lại chuyện này, mẹ anh vì muốn có cơ hội được gặp nữ ca sĩ BoA[3] nên đã dẫn anh đi thử giọng và Changmin đã giấu bố anh chuyện này.[4] Tại buổi thử giọng, Changmin chỉ hát một bài hát cũ và vỗ tay kiểu quân đội. Tuy nhiên, anh đã giành được giải nhất tại cuộc thi Tìm kiếm tài năng trẻ lần thứ sáu của SM. Ba ngày sau cuộc thi, SM Entertainment đã liên lạc với Changmin để ký hợp đồng.[5]
Changmin sử dụng thành thạo tiếng Nhật. Anh tốt nghiệp trường trung học Gaepo năm 2006 và được tuyển thẳng vào khoa Y học cổ truyền, Đại học Kyung Hee. Năm 2009, anh ghi danh vào chuyên ngành Âm nhạc hậu hiện đại cũng của trường này.[6] Năm 2011, anh theo học văn bằng 2 ngành Phim và Kịch nghệ tại Đại học Konkuk. Changmin học tiếp văn bằng thạc sĩ của Đại học Inha.
Ngoài ra Changmin cũng có niềm say mê với nhiếp ảnh và là học trò của nhiếp ảnh gia Kim Young-joon.[7]
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Anh ra mắt cùng nhóm TVXQ năm 2003 với ca khúc "Hug" trong buổi biểu diễn đặc biệt của BoA và Britney Spears.[8] Năm 2006, Changmin cùng các thành viên TVXQ đóng vai chính trong phim ngắn Vacation,[9] xuất hiện trong phần "Beautiful Life" bên cạnh Xiah Junsu.[10] Họ cùng tham gia một số phần của Banjun Theater, một chương trình truyền hình ăn khách trên SBS.[11][12] Năm 2007, anh viết lời cho ca khúc "Evergreen", soạn nhạc bởi một thành viên khác của TVXQ là Micky Yoochun, nằm trong album 2007 Winter SMTown - Only Love của SMTown.[13][14]
Năm 2008, anh viết lời tiếng Hàn cho ca khúc "Love In The Ice" trong album tiếng Hàn thứ tư của nhóm, Mirotic.[15] Cùng năm, Changmin thể hiện ca khúc "Wild Soul" cho đĩa đơn tiếng Nhật thứ 17 của TVXQ trong dự án Trick, Two Hearts/Wild Soul.[16] Hè năm 2009, anh viết lời cho ca khúc "Nothing better -12:34" trong album 2009 SUMMER SMTOWN - SEASIDE.
Năm 2010, anh tham gia phim truyền hình Âm mưu Athena với tư cách khách mời, thủ vai một chuyên gia chất nổ của Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc.[17] Năm 2011, anh lần đầu đảm nhận vai chính trong phim truyền hình Đồng cỏ thiên đường,[18] đồng thời tham gia viết lời và thể hiện nhạc phim mang tên "Confession". Anh cũng tự lồng tiếng cho bản phát hành tiếng Nhật của bộ phim.[19]
Tháng 11 năm 2012, Changmin ra mắt trên màn ảnh rộng Nhật Bản khi tham gia phim điện ảnh Fly with the Gold, dựa trên tiểu thuyết của Kaoru Takamura.[20] Anh đảm nhận vai Momo, một điệp viên Bắc Triều Tiên cải trang thành sinh viên kỹ thuật,[21][22] và nhận được lời khen từ đạo diễn Kazuyuki Izutsu về khả năng nói tiếng địa phương Osaka trôi chảy trong phim.[23] Tác phẩm đã giúp anh nhận được đề cử Diễn viên mới tại Giải thưởng Điện ảnh Hochi lần thứ 37 ở Nhật Bản và trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên được đề cử.[24] Đồng thời, Changmin trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên thắng giải Diễn viên mới của năm tại Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 36.[25]

Năm 2013, Changmin đảm nhận vai trò dẫn chương trình cùng Kang Ho-dong cho Moonlight Prince của KBS.[26] Sau đó, anh tham gia Cool Kiz On The Block – một chương trình tạp kỹ về thể thao.[27]
Năm 2014, Changmin gia nhập SM the Ballad, nhóm nhạc dự án do SM Entertainment thành lập vào năm 2010. Trong album thứ hai của nhóm, anh đã hát phiên bản tiếng Nhật của bài hát chủ đề "Breath" cùng Krystal Jung của f(x).[28] Cùng năm, Changmin đóng vai chính trong Mimi, bộ phim đặc biệt dài 4 tập.[29]
Năm 2015, anh hóa thân thành Thái tử Lee Yoon trong phim truyền hình Thư sinh bóng đêm. Bộ phim dựa trên manhwa cùng tên và bắt đầu lên sóng vào tháng 7.[30]
Ngày 18 tháng 11 cùng năm, Changmin phát hành mini album solo tiếng Nhật đầu tiên có tựa đề Close to You, một ngày trước khi anh nhập ngũ. Mini album bao gồm sáu ca khúc với đĩa đơn chủ đạo là bản ballad "Into the Water". Đính kèm một DVD bao gồm video âm nhạc và cảnh hậu trường, Close to You được phát hành giới hạn và chỉ được bán cho các thành viên của Bigeast, câu lạc bộ người hâm mộ Nhật Bản của TVXQ.[31]
Ngày 28 tháng 9 năm 2017, ca khúc "In A Different Life" của Changmin[32] được phát hành trong dự án SM STATION. "In A Different Life" là một bản acoustic ngọt ngào với phần lời do Changmin sáng tác, là món quà anh dành tặng người hâm mộ đã chờ đợi và ủng hộ anh trong thời gian phục vụ trong quân đội.

Changmin phát hành mini album đầu tay mang tên Chocolate vào ngày 6 tháng 4 năm 2020.[33][34] Mini album này bao gồm sáu bài hát thuộc nhiều thể loại khác nhau và có sự hợp tác với nữ ca sĩ Chungha.[35] Dù trước đây Changmin từng phát hành các bài hát solo thông qua các album của TVXQ và có một mini album solo tiếng Nhật, Chocolate đánh dấu màn ra mắt solo chính thức của anh tại Hàn Quốc sau hơn 16 năm hoạt động.
Mini album tiếng Nhật thứ hai của Changmin, Human, ra mắt vào ngày 8 tháng 12 năm 2021.[36]
Vào ngày 13 tháng 1 năm 2022, anh phát hành mini album thứ hai mang tên Devil gồm sáu ca khúc và có hai phiên bản sách ảnh.[37] Với phần lời do chính Changmin chắp bút, ca khúc chủ đề "Devil" là một bản R&B chậm rãi kết hợp nhịp trống lôi cuốn, thể hiện ý chí luôn tự tin tiến về phía trước, không khuất phục trước những lời thì thầm của quỷ dữ.[38]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Hôn nhân và gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]Cuối năm 2019, Changmin thông báo đang hẹn hò và bạn gái anh là người ngoài ngành giải trí.[39] Hôn lễ của họ dự kiến diễn ra vào ngày 5 tháng 9 năm 2020[40] nhưng bị hoãn do số ca COVID-19 ở Seoul tăng đột biến.[41] Cặp đôi đã tổ chức một lễ cưới riêng tư vào ngày 25 tháng 10 cùng năm.[42] Con trai đầu lòng của vợ chồng anh chào đời vào chiều ngày 17 tháng 10 năm 2022.[43]
Hoạt động tình nguyện
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 1 năm 2008, Changmin cùng cha tình nguyện làm sạch bãi biển ở Taean sau thảm họa tràn dầu lớn nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Anh dự định đi Taean âm thầm trong một kì nghỉ xả hơi ngắn của DBSK và chỉ được tiết lộ với giới truyền thông khi một tình nguyện viên khác đăng hình của anh trên trang web của FC. Sự kiện này sau đó được xác nhận bởi quản lý của DBSK.[44]
Changmin đã trở thành thành viên thứ 116 của Hội Quý tộc xanh (Green Noble Club) gồm những nhà hảo tâm có giá trị cao từ 100 triệu KRW và gắn bó lâu dài với tổ chức phúc lợi trẻ em Green Umbrella (Còn được gọi là ChildFund Korea hoặc Quỹ Trẻ em Ô Xanh). Anh cũng thường xuyên thực hiện quyên góp vào các dịp như Lễ Thiếu nhi Hàn Quốc hoặc Ngày Giáng sinh hàng năm.[45]
Nghĩa vụ quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Vào tháng 7 năm 2015, Changmin nộp đơn vào Sở Cảnh sát quân sự để có thể hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Anh nhập ngũ vào ngày 19 tháng 11 năm 2015. Sau 5 tuần được huấn luyện cơ bản tại Trại huấn luyện Quân sự Chungnam Nonsan, anh được phân đến làm việc tại Đơn vị Quảng bá đặc biệt của Sở cảnh sát Seoul. Changmin đã xuất ngũ vào ngày 18 tháng 8 năm 2017.[46]
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]| Tên | Chi tiết | Danh sách bài hát |
|---|---|---|
| Close To You | Danh sách bài hát CD
DVD
| |
| Chocolate |
|
|
| HUMAN |
|
|
| DEVIL |
|
|
Danh sách phim và chương trình
[sửa | sửa mã nguồn]Phim truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm |
Tựa đề | Vai |
|---|---|---|
| 2006 | Banjun Theater | Chính mình |
| Vacation | Chính mình | |
| 2010 | Âm mưu Athena | Choi Tae-hyeon (khách mời, 4 tập) |
| 2011 | Đồng cỏ thiên đường | Han Dong-joo |
| 2013 | Welcome to the show | Chính mình
(khách mời) |
| Saki | Khách hàng tại tiệm bánh
(Khách mời, cùng với Yunho) | |
| 2014 | Mimi | Han Min-woo |
| 2015 | Thư sinh bóng đêm | Thái tử Lee Yoon |
Phim điện ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm |
Tựa đề | Vai |
|---|---|---|
| 2012 | I AM (Phim tài liệu do SM sản xuất) | Chính mình |
| Fly with the Gold | Momo | |
Nhạc kịch
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa đề | Vai |
|---|---|---|
| 2015 | Hologram Musical: School Oz | Oscar |
| 2024 | Benjamin Button | Benjamin Button |
Chương trình truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tựa đề | Vai trò | Ghi chú | TK |
|---|---|---|---|---|
| 2007 | Khám phá cơ thể người | Khách mời | 2 tập | |
| 2011 | Running Man | Khách mời | 1 tập | |
| 2012 | Running Man | Khách mời | 2 tập | |
| 2013 | Moonlight Prince | MC | ||
| 2013–14 | Cool Kiz On The Block | Thành viên chính | ||
| 2021 | Kingdom: Legendary War | MC | [47] | |
| 2021–22 | Max Changmin's Free Hug | 2 mùa | [48] | |
| 2021 | Drink with God 2 | MC đặc biệt | 1 tập | [49] |
| 2021 | Bistro Shigor | Thành viên chính | [50] | |
| 2022 | My: Humanities that Opens Work | [51] | ||
| 2023 | My Teenage Boy | MC | [52] | |
| 2023 | The Return of Superman | Người dẫn chuyện | ||
| 2026 | Duckbap House | MC |
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Giải thưởng | Hạng mục | Tác phẩm đề cử | Kết quả | TK |
|---|---|---|---|---|---|
| 2012 | Giải thưởng Điện ảnh Hochi | Diễn viên mới | Fly with the Gold | Đề cử | [24] |
| 2013 | Giải thưởng Điện ảnh Viện Hàn lâm Nhật Bản | Diễn viên mới của năm | Đoạt giải | [25] | |
| 2013 | Giải thưởng Nhà phê bình phim Nhật Bản | Diễn viên mới xuất sắc nhất | Đoạt giải | [53] | |
| 2013 | Giải thưởng giải trí KBS | Nghệ sĩ xuất sắc nhất (Chương trình thực tế) | Cool Kiz On The Block | Đoạt giải | [54] |
| Tân binh xuất sắc nhất | Moonlight Prince | Đề cử |
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "동방신기(東方神起, TVXQ)" (bằng tiếng Hàn). MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2009.
- 1 2 Lee Dong-won (ngày 14 tháng 3 năm 2023). "최강창민, 오디션 예능 '소년판타지' MC로 활약". Skye Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "Changmin became a singer because of BoA". Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
- ↑ "최강창민 "가수 꿈 전혀없어" 망언, 보아 만나러 SM 오디션行". 네이트뉴스.
- ↑ "SBS Person Profile – Choikang Changmin" (bằng tiếng Hàn). SBS. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "Choikang Changmin, Kim Hyung Jun and Moon Geun Young All Graduate High School in a Row" (bằng tiếng Hàn). CBS. ngày 7 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "최강창민 김영준 멘토와 이대호 만나다? '더 셀러브리티'" [Max Changmin gặp gỡ người thầy Kim Young-joon và Lee Dae-ho? 'The Celebrity']. Maeil Shinmun (bằng tiếng Hàn). ngày 19 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "TVXQ, "Can't Believe It Has Been 3 Years Since Our Debut"". Mydaily News. ngày 26 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "2000 Fans Invited to TVXQ's Vacation Screening". mydaily News. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "Vacation Official Website". S.M. Entertainment Co., Ltd. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "All About Dong Bang Shin Ki Season 2 DVD Releases in 12 Days". DongA Ilbo Co. ngày 20 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "TVXQ Banjun Theatre Dangerous Love". SBS. ngày 14 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "2007 Winter SMTown Only Love Album Introduce". S.M. Entertainment Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "'07 Winter SMTown - TVXQ to Participate in Composition" (bằng tiếng Hàn). DongA Ilbo Co. ngày 4 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "4th Album Info - Mirotic" (bằng tiếng Hàn). S.M. Entertainment Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
- ↑ "Tohoshinki Discography - Two Hearts/WILD SOUL (CHANGMIN from 東方神起)" (bằng tiếng Nhật). Avex Group. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
- ↑ ""Athena" brilliant cameo Changmin, explosives specialist". HanCinema. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Jean Oh (ngày 18 tháng 1 năm 2011). "Can Max's acting break TVXQ losing streak?". The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Shim Changmin lends his voice for "Paradise Farm" DVD in Japan". 10Asia (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 10 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "[NEWS] TVXQ Changmin's Japanese movie "Fly with The Gold" announces premiere date". Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
- ↑ "TVXQ! Max Changmin's Japanese Debut Movie to Open in Korea". 10Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "TVXQ's Chang-min to make his Japanese film debut". Korea JoongAng Daily. ngày 2 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2018.
- ↑ "TVXQ′s Max Changmin Praised by ′Run with the Gold′s′ Director for Perfect Acting". enewsWorld. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2012.
- 1 2 Carla Sunwoo (ngày 13 tháng 11 năm 2012). "Changmin nominated for Japanese role". Korea JoongAng Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
- 1 2 Lee Kyung-nam (ngày 11 tháng 3 năm 2013). "TVXQ′s Max Changmin Thanks Everyone at the ′Japan Academy Awards′". Yahoo News Singapore (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "TVXQ! Max Changmin to Vie with Emcee Kang Ho-dong". 10Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "MAX Changmin to Step off from "Cool Kiz on the Block"". 10Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "SM the Ballad back for more". Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Park Jin-hai (ngày 23 tháng 2 năm 2014). "Max Changmin stars in drama 'Mimi'" (bằng tiếng Anh). The Korea Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Doo, Rumy (ngày 7 tháng 7 năm 2015). "Lee Joon-gi, TVXQ Changmin turn vampire, prince in new TV drama". The Korea Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "【Bigeast オフィシャルショップ限定】2015/11/18(水)CHANGMIN from 東方神起SOLO MINI ALBUM「Close To You」". Tohoshinki Official Website at Avex Group (bằng tiếng Nhật). ngày 7 tháng 10 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2015.
- ↑ "[STATION] MAX 최강창민 '여정 (In A Different Life)' MV".
- ↑ Park Se-yeon (ngày 23 tháng 3 năm 2020). "동방신기, 최강창민 4월 6일 솔로 데뷔...타이틀곡 `초콜렛`" [Max Changmin của TVXQ ra mắt solo vào ngày 6 tháng 4... ca khúc chủ đề Chocolate.]. MK. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2026 – qua Naver.
- ↑ "동방신기 최강창민, 4월6일 데뷔 최초 솔로앨범 'Chocolate' 발매(공식)" [Max Changmin của TVXQ sẽ phát hành album solo đầu tay trong sự nghiệp mang tên Chocolate vào ngày 6 tháng 4 (Chính thức)]. Herald Pop. ngày 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2026 – qua Naver.
- ↑ "Max Changmin of TVXQ calls his 1st solo album 'Chocolate' 'sweet addiction'". The Korea Times. ngày 6 tháng 4 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "2021.12.8."CHANGMIN from 東方神起"Solo MiniAlbum「Human」リリース決定!". Tohoshinki Official Website at Avex Group (bằng tiếng Nhật). ngày 16 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2021.
- ↑ Lee Deok-hwang (ngày 4 tháng 1 năm 2022). 최강창민, 새 솔로 앨범 'Devil' 1월 13일 발매 [공식]. Star News. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025 – qua Naver.
- ↑ Ji Min-kyung (ngày 5 tháng 1 năm 2022). "최강창민, 신곡 'Devil' 다크한 변신 예고..압도적 카리스마 선사" [Changmin hé lộ màn lột xác u tối với ca khúc mới 'Devil'... thể hiện sức hút áp đảo]. The Chosun Ilbo. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Dong Sun-hwa (ngày 30 tháng 12 năm 2019). "TVXQ's Changmin dating non-celebrity" [Changmin của TVXQ hẹn hò với người ngoài ngành giải trí]. The Korea Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
- ↑ "TVXQ's Max Changmin to tie the knot in September" [Max Changmin của TVXQ sẽ kết hôn vào tháng 9] (bằng tiếng Anh). Korea JoongAng Daily. ngày 12 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2023.
- ↑ Chelsea Kiew (ngày 27 tháng 8 năm 2020). "Changmin of Korean pop duo TVXQ postpones wedding due to Covid-19" [Changmin của bộ đôi K-pop TVXQ hoãn đám cưới do Covid-19]. The Straits Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2022.
- ↑ Choi Na-young (ngày 25 tháng 10 năm 2020). "한 가정의 가장+동방신기 창민 될 것"..최강창민, 오늘(25일) 비공개 결혼 ["Trở thành trụ cột gia đình + Changmin của TVXQ"... Lễ cưới riêng tư của Max Changmin diễn ra hôm nay (ngày 25)]. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Oh, Yoon-ju (ngày 18 tháng 10 năm 2022). "최강창민, 결혼 2년만 득남..."17일 오후 출산" [공식입장]" [Max Changmin đón con trai 2 năm sau khi kết hôn... Bé ra đời vào chiều ngày 17" [Thông cáo chính thức]] (bằng tiếng Hàn). My Daily. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026 – qua Naver.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "Choikang Changmin Found Secretly Working at Taean". Newsis News Agency. ngày 3 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009.
- ↑ Ahn Kyung-jin (2026.05.05). "TVXQ's Max Changmin Donates 55 Million Won to Samsung Medical Center for Children's Day". Seoul Economic Daily. Truy cập 2026.06.24.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|archive-url=(trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong:|access-date=và|date=(trợ giúp) - ↑ "Changmin and Choi Si-won to be discharged on the 18th".
- ↑ Han Hae-Seon (ngày 22 tháng 1 năm 2021). "동방신기, '킹덤'에 뜬다.."MC로 출연"[공식]". star.mt (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Choi Jin-kyung (ngày 6 tháng 5 năm 2021). "최강창민, '프리허그'로 첫 단독 호스트...7일 첫방송". Newsis (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2021.
- ↑ Jeong Hee-yeon (ngày 27 tháng 8 năm 2021). "[단독] 최강창민, '신과함께2' 스페셜 MC...시우민 대행" [[Exclusive] Max Changmin, 'Along with the Gods 2' special MC... Xiumin acting]. Sports Donga (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2021 – qua Naver.
- ↑ Shin So-won (ngày 14 tháng 9 năm 2021). "최지우X차인표X이장우X이수혁, '시고르 경양식' 예능 출연" [Ji-Woo Choi X In-Pyo Cha X Jang-Woo Lee X Soo-Hyeok Lee to appear on variety show 'Siggor Gyeongsik']. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2021 – qua Naver.
- ↑ Kang Kyung-yun (ngày 10 tháng 10 năm 2022). "최강창민, 스마트한 면모 뽐낸다...EBS '내:일을 여는 인문학' 합류" [Max Changmin, showing off his smart side... Joining EBS 'My: Humanities that Opens Work] (bằng tiếng Hàn). SBS Entertainment News. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2022 – qua Naver.
- ↑ Yoo Jung-min (ngày 31 tháng 1 năm 2023). "최강창민, MBC '소년판타지-방과후 설렘2' 단독 MC 확정!" [Choikang Changmin xác nhận trở thành MC độc quyền cho Boys Fantasy - After School Thrill 2 của MBC!] (bằng tiếng Hàn). iMBC. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2023 – qua Naver.
- ↑ "TVXQ′s Max Changmin to be Awarded a Rookie Award from Japanese Movie Critics". enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.
- ↑ "TVXQ's Max Changmin Expresses His Gratitude for Winning Entertainment Award". enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Shim Chang-min trên Instagram
- Shim Chang-min trên IMDb
- Sinh năm 1988
- Nhân vật còn sống
- Người Seoul
- Nghệ sĩ SM Entertainment
- Thành viên của TVXQ
- Nam diễn viên truyền hình Hàn Quốc
- Nam thần tượng Hàn Quốc
- Tín đồ Phật giáo Hàn Quốc
- Nam ca sĩ Hàn Quốc thế kỷ 21
- Ca sĩ Seoul
- Nam diễn viên Seoul
- Cựu sinh viên Đại học Konkuk
- Nam diễn viên điện ảnh Hàn Quốc
- Nam ca sĩ pop Hàn Quốc