Shiratsuyu (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
IJN DD Shiratsuyu in 1937.jpg
Tàu khu trục Shiratsuyu vào năm 1937
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Shiratsuyu
Đặt hàng: Năm tài chính 1931
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Sasebo
Đặt lườn: 14 tháng 11 năm 1933
Hạ thủy: 5 tháng 4 năm 1935
Nhập biên chế: 7 tháng 9 năm 1936
Xóa đăng bạ: 10 tháng 8 năm 1944
Số phận: Chìm do va chạm với tàu chở dầu Seiyo Maru 90 hải lý (170 km) Đông Nam eo biển Surigao, 15 tháng 6 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu khu trục Shiratsuyu
Trọng tải choán nước: 1.685 tấn Anh (1.712 t) (tiêu chuẩn)
Độ dài: 103,5 m (340 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (mực nước)
107,5 m (352 ft 8 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (chung)
Sườn ngang: 9,9 m (32 ft 6 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Mớn nước: 3,5 m (11 ft 6 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Kampon
3 × nồi hơi
2 × trục
công suất 42.000 hp (31.000 kW)
Tốc độ: 34 hải lý một giờ (39 mph; 63 km/h) (ban đầu),
33,3 hải lý một giờ (38,3 mph; 61,7 km/h)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ] (sau cải biến)
Tầm xa: 4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 14 hải lý một giờ (26 km/h)
Tầm hoạt động: 460 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
180
Vũ trang: 5 × hải pháo 127 mm (5 inch)/50 caliber Kiểu 3 (2×2, 1×1)
2 × pháo phòng không 13 mm
8 × ống phóng ngư lôi 24 in (610 mm)
16 × mìn sâu

Shiratsuyu (tiếng Nhật: 白露) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, là chiếc dẫn đầu của lớp tàu khu trục Shiratsuyu bao gồm mười chiếc. Shiratsuyu đã từng tham gia nhiều hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước khi bị chìm do va chạm với tàu chở dầu Seiyo Maru về phía Đông Nam eo biển Surigao vào ngày 15 tháng 6 năm 1944

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu khu trục Shiratsuyu là phiên bản cải tiến dựa trên lớp tàu khu trục Hatsuharu, được thiết kế để tháp tùng lực lượng tấn công chủ lực của Hải quân Nhật Bản, và để tiến hành những cuộc tấn công cả ngày và đêm bằng ngư lôi nhằm vào Hải quân Hoa Kỳ khi chúng vượt băng qua Thái Bình Dương, theo kế hoạch của học thuyết chiến lược hải quân Nhật Bản.[1] Mặc dù là một trong những lớp tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới khi hoàn tất, không có chiếc nào sống sót qua cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.[2]

Shiratsuyu là chiếc đầu tiên trong số sáu tàu khu trục được chế tạo Chương trình Bổ sung Vũ khí Hải quân Nhật Bản thứ nhất (マル1計画, 第一次補充計画 Maru 1 Keikaku, Dai-Ichi-Ji Hojū Keikaku);[3] nó được đặt lườn tại xưởng hải quân Sasebo vào ngày 14 tháng 11 năm 1933, được hạ thủy vào ngày 5 tháng 4 năm 1935, và được đưa ra hoạt động vào ngày 7 tháng 9 năm 1936.[4]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc Tấn công Trân Châu Cảng, Shiratsuyu được phân về Đội 27 của Hải đội Khu trục 1 trực thuộc Hạm đội 1 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, và được giữ lại vùng biển nhà Nhật Bản trong thành phần tuần tra chống tàu ngầm bảo vệ cho lực lượng thiết giáp hạm Nhật Bản. Từ giữa tháng 1 năm 1942, nó giúp hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Nhật Bản và Đài Loan, và vào giữa tháng 2 đã hộ tống chiếc tàu sân bay Zuihō đi đến Davao và quay trở về Hashirajima. Đến tháng 4, nó hộ tống các tàu sân bay ShōkakuZuikaku đi từ Mako đến Truk, nơi nó gia nhập lực lượng tấn công của Đô đốc Takeo Takagi trong trận chiến biển Coral trong các ngày 78 tháng 5.

Vào cuối tháng 5, nó hộ tống các tàu tuần dương MyōkōHaguro quay trở lại Kure, nơi nó được phân về Lực lượng Tấn công Quần đảo Aleut dưới quyền Đô đốc Shirō Takasu trong thời gian diễn ra trận Midway vào các ngày 46 tháng 6. Vào ngày 14 tháng 7, nó được điều về Hạm đội 2 và quay trở lại Truk vào giữa tháng 8, nơi nó được bố trí hộ tống các tàu vận chuyển binh lính để tái chiếm đảo san hô Makin sau cuộc tấn công Makin.

Cho đến giữa tháng 9 năm 1942, Shiratsuyu tiếp tục đặt căn cứ ngoài khơi Jaluit trong quần đảo Marshall, nhưng từ tháng 10 được bố trí đến quần đảo Solomon, nơi nó thực hiện nhiều chuyến vận chuyển tốc độ cao "Tốc hành Tokyo" đến Guadalcanal. Trong một nhiệm vụ tấn công tại Guadalcanal vào ngày 25 tháng 10, nó đã trợ giúp vào việc đánh chìm tàu vận chuyển Mỹ Seminole và làm hư hại chiếc Zane. Nó tham gia trận Hải chiến Guadalcanal thứ nhất trong đêm 1213 tháng 11 năm 1942, cứu vớt những người còn sống sót từ chiếc thiết giáp hạm Hiei bị trúng ngư lôi, nhưng đã không trực tiếp chiến đấu. Vào ngày 23 tháng 11, đang khi thực hiện một chuyến đi vận chuyển đến Lae, nó đã cứu vớt những người còn sống sót từ tàu khu trục Hayashio vốn sau đó bị đánh đắm bằng ngư lôi.

Tuy nhiên, trong nhiệm vụ tiếp theo đến Buna vào ngày 28 tháng 11, Shiratsuyu bị đánh trúng trực tiếp một quả bom và mũi tàu trong một cuộc không kích của máy bay ném bom B-17 của Không lực Mỹ, buộc phải sửa chữa khẩn cấp tại Rabaul, TrukSaipan trước khi nó có thể quay về đến Sasebo vào ngày 25 tháng 2 năm 1943 để hoàn tất việc sửa chữa. Nó quay lại hoạt động thường trực vào ngày 20 tháng 7 năm 1943 cùng với Hạm đội 2, hộ tống chiếc tàu sân bay Unyō từ Yokosuka đến Truk và quay trở lại vào tháng 8. Nó về đến Rabaul vào giữa tháng 10, và sau đó được phân nhiệm vụ vận chuyển binh lính đến Qavuvu.

Trong Trận chiến vịnh nữ hoàng Augusta vào ngày 2 tháng 11, Shiratsuyu bị va chạm với tàu khu trục Samidare, rồi sau đó nó lại bị máy bay Mỹ bắn phá, khiến bốn người thiệt mạng và hai người bị thương, buộc phải quay về Sasebo để sửa chữa. Trong đợt tái trang bị này, một tháp pháo được tháo dỡ thay thế bằng hai khẩu đội 25 mm Kiểu 96 phòng không ba nòng.

Nó quay trở lại khu vực Truk vào cuối tháng 12 trong thành phần hộ tống cho Myōkō, HaguroTone, tiếp tục đi đến Kavieng vàp đầu tháng 1 năm 1944. Từ tháng 2 đến tháng 4, nó nằm trong thành phần hộ tống cho thiết giáp hạm Musashi. Từ cuối tháng 4, nó được phân công trong đoàn tàu vận tải Take Ichi, hộ tống các đoàn tàu chuyển binh lính từ Trung Quốc đến Philippines và các địa điểm khác tại Đông Nam Á.

Shiratsuyu bị máy bay Hải quân Mỹ tấn công vào ngày 8 tháng 6 ngoài khơi Biak, làm bốn người chết và năm người bị thương. Trong đêm 14 tháng 6, nó va chạm với tàu chở dầu Seiyo Maru ở cách 90 hải lý (170 km) về phía Đông Nam eo biển Surigao, tọa độ 09°09′B 126°51′Đ / 9,15°B 126,85°Đ / 9.150; 126.850, rồi sau đó các quả mìn sâu của nó phát nổ giữa những người còn sống sót. Trong số thủy thủ đoàn, 104 người đã bị giết, bao gồm thuyền trưởng, Trung tá Hải quân Matsuda.

Shiratsuyu được rút khỏi danh sách Đăng bặ Hải quân vào ngày 10 tháng 8 năm 1944.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peattie & Evans, Kaigun.
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Shiratsuyu class destroyers
  3. ^ Lengerer, trang 92-93
  4. ^ Nishidah, Hiroshi (2002). “Shiratsuyu class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lengerer, Hans (2007). The Japanese Destroyers of the Hatsuharu Class. Warship 2007. London: Conway. tr. 91–110. ISBN 1-84486-041-8. OCLC 77257764
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]