Sicyopterus lagocephalus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Sicyopterus lagocephalus
Sicyopterus lagocephalus (male).jpg
Cá đực của S. lagocephalus
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Gobiiformes
Họ (familia)Oxudercidae
Phân họ (subfamilia)Sicydiinae
Chi (genus)Sicyopterus
Loài (species)S. lagocephalus
Danh pháp hai phần
Sicyopterus lagocephalus
(Pallas, 1770)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Bryanina inana Fowler, 1932
  • Gobius lagocephalus Pallas, 1770
  • Sicydium lagocephalum (Pallas, 1770)
  • Sicydium taeniurum Günther, 1877
  • Sicyopterus caeruleus (Lacepède, 1800)
  • Sicyopterus extraneus Herre, 1927
  • Sicyopterus gymnauchen (Bleeker, 1858)
  • Sicyopterus halei (Day, 1888)
  • Sicyopterus laticeps (Valenciennes, 1837)
  • Sicyopterus taeniurus (Günther, 1877)
  • Sicyopterus tauae Jordan & Seale, 1906

Sicyopterus lagocephalus là một loài cá biển thuộc chi Sicyopterus trong họ Oxudercidae. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1770.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lagocephalus trong danh pháp của S. lagocephalus được ghép từ 2 âm tiết trong tiếng Hy Lạp cổ đại: lagos ("thỏ rừng") và cephalus ("đầu"), ám chỉ mõm của loài cá này ngắn và hàm trên có hình bán cầu giống mũi của loài thỏ[2].

Phạm vi phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

S. lagocephalus có phạm vi phân bố rộng rãi ở vùng biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Ở Ấn Độ Dương, S. lagocephalus được tìm thấy ở Comorosquần đảo Mascarene, và ở Thái Bình Dương, loài cá này xuất hiện ở Nhật Bản, trải dài về phía nam đến Polynesia thuộc Pháp, Nouvelle-Calédonie và phía đông bắc bang Queensland (Úc)[1][3].

S. lagocephalus là một loài cá di cư. Cá trưởng thành sống trong những con sông, suối chảy xiết với đáy đá trong rừng nhiệt đới, còn cá con lại sống ở ngoài biển khơi[1][3].

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều dài cơ thể tối đa được ghi nhận ở S. lagocephalus là 13 cm[3]. Cá đực có màu xanh lục lam ánh kim ở hai bên thân, vây đuôi có màu vàng hồng hoặc hơi xám trong suốt mùa khô; các vây còn lại có màu xám sẫm. Vào mùa mưa, cá đực trở nên sặc sỡ hơn: vây đuôi chuyển sang màu đỏ cam; rìa vây đuôi có màu trắng xanh ánh kim; vây ngực màu trắng. Cá cái có màu nâu xám hoặc xám nhạt, bụng màu trắng. Cả hai giới đều có các vệt đốm màu sẫm dọc theo lưng đến gốc vây đuôi[4].

Số gai ở vây lưng: 6 - 7; Số tia vây ở vây lưng: 10 - 12; Số gai ở vây hậu môn: 1; Số tia vây ở vây hậu môn: 10; Số tia vây ở vây ngực: 17 - 20; Số gai ở vây bụng: 1; Số tia vây ở vây bụng: 5[4].

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Một cá thể S. lagocephalus cái

Quá trình sinh sản của S. lagocephalus xảy ra ở môi trường nước ngọt. Lúc này, cá cái sẽ luồn xuống dưới một tảng đá, bám vào bề mặt dưới của đá và bắt đầu đẻ trứng. Trứng được dính chặt vào đá bởi các sợi keo phủ lấy chúng. Cá đực sẽ phun tinh dịch lên đám trứng đó để thụ tinh[3].

Sau khi chào đời, cá bột (hay cá ấu trùng) sẽ theo dòng chảy của sông suối trôi ra biển. Trong điều kiện nhiệt độ tự nhiên, cá bột của S. lagocephalus chỉ sống được trong môi trường nước ngọt tối đa là 4 ngày[5]. Nếu ở trong nước ngọt lâu hơn khoảng thời gian này, cá bột sẽ chết trước khi chúng kịp ra tới biển[5].

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, cá bột không trải qua bất kỳ sự phát triển nào khi còn ở trong môi trường nước ngọt, mà chính việc di cư ra biển mới gây ra sự biến đổi hình thái ở chúng. Sự phát triển này sẽ diễn ra nhanh hơn khi nhiệt độ nước càng ấm, và cũng phụ thuộc vào độ sâu của nước trong quá trình cá bột xuôi dòng ra biển[5]. Quá trình biến đổi hình thái đối với các loài thuộc phân họ Sicydiinae kéo dài trong khoảng từ 3 đến 6 tháng, tùy theo từng loài. Sau giai đoạn này, cá hậu ấu trùng sẽ quay trở lại cửa sông, dần phát triển thành cá trưởng thành trong quá trình di cư ngược dòng[6].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â B. Ebner; S. de Alwis Goonatilake; M. Fernado; O. Kotagama (2019). Sicyopterus lagocephalus. Sách đỏ IUCN. 2019: e.T196371A58336239. doi:10.2305/IUCN.UK.2019-3.RLTS.T196371A58336239.en. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  2. ^ Christopher Scharpf; Kenneth J. Lazara (2020). “Order GOBIIFORMES: Family OXUDERCIDAE (p-z)”. The ETYFish Project Fish Name Etymology Database. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  3. ^ a ă â b Froese Rainer, và Daniel Pauly (chủ biên) (2019). Sicyopterus lagocephalus trong FishBase. Phiên bản tháng 12 năm 2019.
  4. ^ a ă “Blue Streamgoby, Sicyopterus lagocephalus (Pallas 1770)”. Fishes of Australia. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  5. ^ a ă â P. Valade; C. Lord; H. Grondin; P. Bosc; L. Taillebois; M. Iida; K. Tsukamoto; P. Keith (2009). “Early life history and description of larval stages of an amphidromous goby, Sicyopterus lagocephalus (Gobioidei: Sicydiinae)” (PDF). Cybium. 33 (4): 309–319. doi:10.26028/cybium/2009-334-003.
  6. ^ C. Lord; C. Brun; M. Hautecœur; P. Keith (2010). “Insights on endemism: comparison of the duration of the marine larval phase estimated by otolith microstructural analysis of three amphidromous Sicyopterus species (Gobioidei: Sicydiinae) from Vanuatu and New Caledonia”. Ecology of Freshwater Fish. 19: 26–38. doi:10.1111/j.1600-0633.2009.00386.x.