Sigird

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm


Sigrid Solbakk Raabe (sinh vào ngày 5 tháng 9 năm 1996) là ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Nauy

Sigrid
Sigrid Raabe - Detroit Michigan, USA September 26, 2019.jpg
Sigrid tại El Club ở Detroit, Michigan, 2019
SinhSigrid Solbakk Raabe
5 tháng 9, 1996 (25 tuổi)
Ålesund, Nauy
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2013 - Nay
Trang webhttps://www.thisissigrid.com
Sự nghiệp âm nhạc
Nhạc cụCa sĩ, keys, Ghi-ta
Websitethisissigrid.com

Sigrid Solbakk Raabe (Sinh ngày 5 tháng 9 năm 1996) là ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Na uy. Vào năm 2017, cô cho ra mắt EP Don't Kill My Vibe, và sau đó cô thắng giải BBC Music Sound of 2018. Nối tiếp đó đĩa đơn "Strangers" của cô đã lọt vào top 10 Bảng xếp hạng đĩa đơn hay nhất ở Anh. Vào tháng 3 năm 2019, cô phát hành album đầu tay của mình Sucker Punch,[1] và nó lần lượt đứng đầu các bảng xếp hạng ở Na uy và đứng thứ 4 ở Bảng xếp hạng album ở Anh.[2]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Sigrid Solbakk Raabe được sinh ra ở Ålesund vào ngày 5 tháng 9 năm 1996. Cha của cô là Håkon Raabe và mẹ Anette Sølberg Solbakk. Cô có một người anh, Tellef Raabe (cũng là nhạc sĩ), và người chị cả, Johanne.[3] Suốt thời thơ ấu đấy, cô đã được truyền 1 niềm cảm hứng âm nhạc rất lớn bởi Adele, Joni Mitchell, và Neil Young; nhưng thật ra cô lại có dự định trở thành giáo viên hoặc là luật sư vào lúc còn đi học chứ chưa bao giờ nghĩ đến việc bắt đầu sự nghiệp ca hát.[4] vào năm cô 17 tuổi (2013), Cô và Johanne thành lập một ban nhạc gọi là Sala Says Mhyp, được đặt tên theo con mèo của họ, Sala.[5]

Sự nghiệp ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sigrid biểu diễn vào tháng 4 năm 2018

Sigrid bắt đầu sự nghiệp của cô vào năm 2013 khi ra mắt đĩa đầu tay, "Sun".[6] Đĩa đơn này nhanh chóng trở nên phổ biến ở Nauy và trở thành 1 bước đột phá mới trong sữ nghiệp của Sigrid.[7] Vào nhưng năm tiếp theo cô đăng ký với hãng thu âm Petroleum Records, và bắt đầu biểu diễn ở 1 vài lễ hội âm nhạc nhỏ như Øyafestivalen.[8]

Vào năm 2016, Sigrid ký hợp đồng với hãng thu âm Island Records.[9] Và phát hành đĩa đơn "Don't Kill My Vibe" với hãng đĩa Island vào 2017.[10] Bảng EP đã gặt hái được nhiều thành công vang dội ở toàn cầu [11] khi nó lần lượt công phá các bảng xếp hạng ở Na uy, Úc, và Anh.[12][13][14][15] Sigrid còn tham gia biểu diễn ở Park Stage tại Lễ hội âm nhạc Glastonbury. Cô cũng đã đóng góp vào soundtrack của tựa game The Sims 4: Parenthood với phiên bản Simlish của bài hát "Don't Kill My Vibe".[16] Vào ngày 5 tháng 5 năm 2017, Sigrid cho ra mắt bản mở rộng EP của "Don't Kill My Vibe", đồng thời cũng chính là tên của bản mở rộng này.[17].Vào tháng 8 năm 2017, Sigrid có một suất biểu diễn tại Lễ hội Reading Festival

Sigrid biểu diện tại lệ hội Reeding and Leeds

.[18] Cô cũng góp giọng trong nhạc phim Justice League soundtrack, khi thực hiện bản cover bài hát kinh điển Everybody Knows (của Leonard Cohen's vào năm 1988). Vào năm 2018, Sigrid đã thắng giải Bài hát của năm 2018 của BBC.[19].Vào ngày 10 tháng 2 năm 2018, Cô đã được mời làm khách mời trong 1 tập của chương trình The Playlist của CBBC.[20] Cùng tháng đó, Sigrid đạt giải thưởng Nghệ sĩ mới của năm tại Spellemannprisen. Và tiếp theo đó cô thông báo trên Twitter rằng cô sẽ phát hành ca khúc mới mang tên là "Schedules" vào ngày 11 tháng 7 năm 2018.[21] Ca khúc này là 1 phần trong bảng mở rộng thứ hai của cô có tựa đề là Raw.[22]

Vào tháng 11 năm 2018, Sigrid album đầu tay của cô Sucker Punch sẽ được ra mắt với thính giả vào ngày 8 tháng 3 năm 2019.[23] Album bao gồm 12, bao gồm 5 bài hát đã được phát hành trước.[24] Vào năm 2019, Sigrid bắt đầu đi lưu diễn với ban nhạc đến từ Mỹ Maroon 5, chuyến lưu diễn mang tên Red Pill Blues Tour ở châu Âu.[25] Cô cũng đi hỗ trợ cùng cho George Ezra trong chuyến lưu diễn khắp nước Anh.[26] Vào cuối năm 2019, Sigrid tham gia vào chuyến lưu diễn xuyên suốt từ châu Âu đến Bắc Mỹ để giới thiệu cho album mới ra mắt "Sucker Punch".[27][28] Sigrid cũng góp giọng vào bài hát "Home to You" nhạc phim của bộ phim Kẻ du hành trên mây.[29]

Các chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Chính
  • Vương quốc Anh & Ai-len (2018)
  • Châu Âu (Tháng 11 năm 2018)
  • Chuyến lưu diễn Sucker Punch (Mỹ 2019)
  • Vương quốc Anh & Châu Âu (2019)
Hỗ trợ

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Albums[sửa | sửa mã nguồn]

Tên album Chi tiết Hạng cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận
Na Uy
[30]
Úc
[31]
Áo
[32]
Bỉ
(FL)

[33]
Đức
[34]
Ireland
[35]
Scottland
[36]
Thụy Điển
[37]
Thụy Sĩ
[38]
Anh
[14]
Sucker Punch 1 84 51 34 63 4 4 57 54 4

Bản mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Chi tiết Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng
US Heat
[40]
Don't Kill My Vibe
  • Phát hành:ngày 5 tháng 5 năm 2017
  • Hãng thu âm: Island
  • Hình thức: Tải trực tuyến, Đĩa than
19
Raw[41]
  • Phát hành: ngày 11 tháng 7 năm 2018
  • Hãng thu âm: Island
  • Hình thức: Đĩa CD, Đĩa than, Tải trực tuyến

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm ra mắt Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Chứng nhận Album
Na Uy
[42]
Áo
[13]
Bỉ
(FL)
Tip

[33]
Bỉ
(WA)
Tip

[43]
Ai-len
[35]
Scôt-len
[15]
Anh
[14]
Mỹ
Dance

[44]
"Don't Kill My Vibe" 2017 28 80 20 62 Don't Kill My VibeSucker Punch
"Plot Twist" 44 Don't Kill My Vibe
"Strangers" 6 25 16 7 1 10
  • IFPI NOR: Bạch kim[45]
  • BPI: Bạch kim[39]
Sucker Punch
"Raw"[46] 2018 Raw
"High Five"[47] 35 61 29 59
"Schedules"[48]
"Sucker Punch" 12 14 96 59 Sucker Punch
"Don't Feel Like Crying" 2019 22 16 12 13 8
"Mine Right Now"[49][50] 40
"Home To You"[51]

Kẻ du hành trên mây (phim)

"—" Không được ra mắt / không có thứ hạng tại bảng xếp hạng.

Với tư cách nghệ sĩ hát cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm phát hành Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng Album
UK
[14]
"Times Like These"
(Là 1 phần của buổi biểu diễn trực tiếp Live Lounge Allstars)
2020 5 Non-album single

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Year Vị trí cao nhất trên bảng xếp Album
NOR
[42]
"Sun" 2013 Non-album singles
"Two Fish"
"Known You Forever" 2014
"Dynamite"[A] 2017 Don't Kill My VibeSucker Punch
"I Don't Want to Know"[53] 2018 Raw
"Focus (Bản thử)"[54]
"Sight of You"[55] 2019 30 Sucker Punch

Ca khúc khác (Được xếp trong bảng xếp hạng)[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm phát hành Vị trí cao nhất trên bản xếp hạng Album
SCO
[15]
"Everybody Knows" 2017 97 Liên minh Công Lý

Xuất hiện dưới tư cách khách mời[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm phát hành Album
"Everybody Knows"[56] 2017 Justice League

Đóng góp trong sáng tác nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Năm phát hành Nghệ sĩ Album Tham gia sáng tác Đồng sáng tác
"Adrenaline"
(featuring Olivia)[57]
2019 Rudimental Toast to Our Differences Đồng sáng tác Amir Izadkhah, Piers Aggett, Kesi Dryden, Leon Rolle
"Dip My Heart in Confetti" Lxandra Another Lesson Learned EP Alexandra Lehti, Michelle Leonard, Nicholas Rebscher

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

xxxxnhỏ|Một cảnh trong MV Plot Twist của Sigrid|324x324px]]

Danh sách video ca nhạc, năm phát hành và đạo diễn
Tên Năm phát hành Đạo diễn
"Don't Kill My Vibe"[58] 2017 J.A.C.K.
"Plot Twist"
  • Sigurd Fossen
  • William Glandberger[59]
"Strangers" Ivana Bobic[60]
"High Five"[61] 2018 Ivana Bobic
"Sucker Punch"[62] AB/CD/CD
"Don't Feel Like Crying"[63] 2019 Zhang + Knight
"Mine Right Now"[64] Max Siedentopf
"Mine Right Now" (Vertical Video)[65] Không có

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tổ chức trao giải và đề cử Giải thưởng Tác phẩm Kết quả Ref.
2017 P3 Gull Årets Nykommer (Nghệ sĩ mới của năm) Sigrid Bản mẫu:Thắng [66]
Årets Liveartist (Nghệ sĩ biểu diễn trực tiếp của năm) Đề cử [67]
Årets Låt (Bài hát của năm) "Don't Kill My Vibe" Đề cử [67]
2018 EBBA '18 Emerging Artists – Na Uy Herself Đoạt giải [68]
Giải thưởng GAFFA Thụy Điển Best Foreign New Act Đề cử [69]
BBC Bài hát của năm 2018 Đoạt giải [70]
MTV Nghệ sĩ mới ở Anh Brand New for 2018 Đề cử [71]
NME Awards 2018 Best New Artist Đề cử [72]
Spellemannprisen '17 Årets Nykommer & Gramostipend
(Newcomer of the Year & Gramo scholarship)
Đoạt giải [73]
Popsolist (Pop soloist) Đề cử [74]
Årets Låt (Bài hát của năm) "Don't Kill My Vibe" Đề cử [75]
UK Music Video Awards Best Animation in a Video "Focus" Đề cử [76]
Nghệ sĩ tốt nhất Sigrid Đề cử
MTV Video Music Awards Push Artist of the Year Đề cử [77]
MTV Europe Music Awards Best Push Act Đề cử [78]
Nghệ sĩ Na Uy xuất sắc nhất Đề cử [79]
P3 Gull Årets Liveartist (Live Artist of the Year) Đề cử [80]
Årets Låt (Bài hát của năm) "Strangers" Đoạt giải [80]
2019 Spellemannprisen '18 Årets Låt (Song of the year) Đề cử [81]
Årets Musikkvideo (Video âm nhạc của năm) "Sucker Punch" Đề cử [81]
Popartist (Nghệ sĩ nhạc Pop xuất sắc) Sigrid Đề cử [81]
Music Week Awards Music & Brand Partnership Đề cử [82]
Denmark GAFFA Awards Best Foreign New Act Đề cử [83]
[[Gaffa (magazine)|Giải thưởng GAFFA của Thụy Điển]] Best Foreign Solo Act Đề cử [84]
MTV Europe Music Awards Best Norwegian Act Đoạt giải [85]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Sigrid's debut album Sucker Punch has a crystalline self-assurance – review”. The Independent (bằng tiếng Anh). 7 tháng 3 năm 2019. Truy cập 8 Tháng Ba năm 2019.
  2. ^ “Radio 1's Big Weekend 2019 - Sigrid”. BBC Music Events (bằng tiếng Anh). Truy cập 12 Tháng tám năm 2019.
  3. ^ Savage, Mark (ngày 28 tháng 5 năm 2017). “Sigrid: Approaching pop from left-of-centre”. BBC News.
  4. ^ “One to watch: Sigrid”. The Guardian. ngày 20 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2017.
  5. ^ “10 things you need to know about sigrid”. i-D. ngày 10 tháng 2 năm 2017.
  6. ^ “Sigrid fra Ålesund er Ukas Urørt” (bằng tiếng Na Uy). NRK. Truy cập 6 Tháng tư năm 2017.
  7. ^ “Sigrid Raabe skal opptre for nær én million seere på lørdag! – Startsiden”. Nytt i uka (bằng tiếng Na Uy). Bản gốc lưu trữ 22 Tháng sáu năm 2018. Truy cập 6 Tháng tư năm 2017.
  8. ^ Rise, Olav Sindre (1 tháng 7 năm 2014). “Platekontrakt til Sigrid Raabe”. Sunnmørsposten (bằng tiếng Na Uy). Truy cập 6 Tháng tư năm 2017.
  9. ^ “Hun kan være Bergens nye stjerneskudd”. Bergens Tidende (bằng tiếng Na Uy). Truy cập 6 Tháng tư năm 2017.
  10. ^ “Sigrids gledestårer i BBC-studio” (bằng tiếng Na Uy). NRK. 25 tháng 2 năm 2017.
  11. ^ “Sigrids gledestårer i BBC-studio” (bằng tiếng Na Uy). NRK. Truy cập 6 Tháng tư năm 2017.
  12. ^ “Discography Sigrid”. Norwegian Charts Portal. Hung Medien.
  13. ^ a b “Discography Sigrid”. Australian Charts Portal. Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2017.
  14. ^ a b c d
  15. ^ a b c Peak chart positions in Scotland:
  16. ^ “Sigrid's 'Don't Killed My Vibe' Featured in the Sims 4”. Island Records. 22 tháng 5 năm 2017. Truy cập 1 Tháng mười hai năm 2017.
  17. ^ Don't Kill My Vibe - EP by Sigrid (bằng tiếng Anh), truy cập 28 Tháng Một năm 2019
  18. ^ “Sigrid”. Reading Festival. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
  19. ^ Savage, Mark (ngày 12 tháng 1 năm 2018). “Sigrid wins the BBC Sound of 2018” (bằng tiếng Anh). BBC News. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2018.
  20. ^ “The Playlist - The Playlist Sessions”. BBC. Bản gốc lưu trữ 18 Tháng Ba năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2018.
  21. ^ Sigrid (ngày 9 tháng 7 năm 2018). “SCHEDULES. WEDNESDAY”. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018 – qua Twitter.
  22. ^ Raw - EP by Sigrid (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2019
  23. ^ “Sigrid album được mong đợi từ rất lâu, 'Sucker Punch' sẽ được ra mắt vào mùa xuân tới”. www.nme.com. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2019.
  24. ^ Sucker Punch by Sigrid (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2019
  25. ^ Sigrid (ngày 4 tháng 9 năm 2018). “Sigrid announces to join Maroon 5's Red Pill Blues Tour”. Twitter. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2018.
  26. ^ “Sigrid is joining George Ezra on his upcoming tour and it's going to be amazing”. Dork (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2019.
  27. ^ “Sigrid announces UK Tour”. DIYMag (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2019.
  28. ^ sigrid (ngày 25 tháng 3 năm 2019). “North America!! I am really, really excited to announce that we're coming over to play some shows!!!! We will be touring across the US and Canada starting this September. Presale begins tomorrow with code "invain" with all remaining tickets on sale this Friday at 10am. WOOOOOH!pic.twitter.com/npVu97hGRH”. @thisissigrid (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2019.
  29. ^ “Check out Sigrid's new track 'Home To You', from The Aeronauts' film soundtrack”. Dork (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2019.
  30. ^ “VG-lista – Topp 40 Album uke 11, 2019”. VG-lista. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  31. ^ “ARIA Chart Watch #516”. auspOp. ngày 16 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019.
  32. ^ “Discographie Sigrid”. austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  33. ^ a b “Discografie Sigrid” (bằng tiếng Dutch). Ultratop. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  34. ^ “Discographie Sigrid”. GfK Entertainment Charts. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  35. ^ a b Peak chart positions in Ireland:
  36. ^ “ngày 15 tháng 3 năm 2019 - ngày 21 tháng 3 năm 2019”. Official Charts. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2019.
  37. ^ “Sverigetopplistan – Sveriges Officiella Topplista”. Sverigetopplistan. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. Click on "Veckans albumlista".
  38. ^ “Discographie Sigrid”. hitparade.ch. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2019.
  39. ^ a b c d e “BRIT Certified - bpi” (To access, enter the search parameter "Sigrid"). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2019.
  40. ^ “Sigrid”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
  41. ^ “Raw sáng tác bởi Sigrid trên Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2019.
  42. ^ a b “Discography Sigrid”. Norwegian Charts Portal. Hung Medien. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2019.
  43. ^ “Discographie Sigrid” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  44. ^ “Sigrid Chart History (Dance Club Songs)”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2019.
  45. ^ a b c “IFPI Norge” (To access, enter the search parameter "Sigrid" and select "SØK".). IFPI Norway. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  46. ^ “Raw, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  47. ^ “High Five, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  48. ^ “Schedules, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  49. ^ “BBC Radio 1 Playlist”. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019.
  50. ^ “you may have heard it live at one of our shows.. or you may have already heard it on the album.. but if you haven't! here's the next single! Mine Right Now 💐💐💐”. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019.
  51. ^ “Home To You by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2019.
  52. ^ “Dynamite (Acoustic), a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  53. ^ “I Don't Want to Know, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
  54. ^ “Focus (Demo), a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
  55. ^ “Sight Of You, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2019.
  56. ^ “Everybody Knows, a song by Sigrid on Spotify”. Spotify. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2019.
  57. ^ “Adrenaline”. ASCAP. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2019.
  58. ^ “Sigrid – Don't Kill My Vibe”. YouTube. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018.
  59. ^ “Sigrid - Plot Twist (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018.
  60. ^ “Sigrid - Strangers (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018.
  61. ^ “Sigrid - High Five (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2018.
  62. ^ “Sigrid - Sucker Punch (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018.
  63. ^ “Sigrid - Don't Feel Like Crying (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2019.
  64. ^ “Sigrid - Mine Right Now (Official Video)”. YouTube. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2019.
  65. ^ “Sigrid – Mine Right Now (Vertical Video)”. YouTube. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.
  66. ^ “OnklP er vinneren av P3-prisen” (bằng tiếng Na Uy). NRK. ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  67. ^ a b “Kan vinne tre prisar i kveld” (bằng tiếng Na Uy). NRK. ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  68. ^ “The Winners - Sigrid”. EBBA. ngày 23 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  69. ^ “GAFFA-Priset 2018 – och de nominerade är...”. GAFFA (bằng tiếng Thụy Điển). Sweden. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  70. ^ “Sigrid: Norwegian pop star wins BBC Sound of 2018”. BBC. ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  71. ^ “Introducing Our MTV Brand New For 2018 Shortlist…”. MTV. ngày 23 tháng 1 năm 2018.
  72. ^ “Lorde, Kasabian, and Dua Lipa lead VO5 NME Awards 2018 nominations”. NME. ngày 4 tháng 2 năm 2018.
  73. ^ “Årets nykommer & Gramostipend - og de nominerte er” (bằng tiếng Na Uy). Spellemannprisen. ngày 23 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 24 Tháng Một năm 2018. Truy cập 27 Tháng tư năm 2020.
  74. ^ “Popsolist - og de nominerte er” (bằng tiếng Na Uy). Spellemannprisen. ngày 23 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 24 Tháng Một năm 2018. Truy cập 27 Tháng tư năm 2020.
  75. ^ “Årets låt - og de nominerte er” (bằng tiếng Na Uy). Spellemannprisen. ngày 23 tháng 1 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 24 Tháng Một năm 2018. Truy cập 27 Tháng tư năm 2020.
  76. ^ “2018 UK Music Video Awards”. ngày 4 tháng 2 năm 2019 – qua Wikipedia.
  77. ^ “MTV VMAs 2018: See the nominees”. Pitchfork.com.
  78. ^ “Best Push Act”. MTV. ngày 13 tháng 10 năm 2018.
  79. ^ “Best Norwegian Act”. MTV. ngày 5 tháng 10 năm 2018.
  80. ^ a b “Ina Wroldsen got the P3 award” (bằng tiếng Na Uy). NRK. ngày 24 tháng 11 năm 2018.
  81. ^ a b c “NOMINERTE SPELLEMANNPRISEN 2018” (bằng tiếng Na Uy). Spellemannprisen. ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  82. ^ “2019 Music Week Awards finalists revealed...”. www.musicweek.com.
  83. ^ “GAFFA Prize - And the winners are...”. GAFFA (bằng tiếng Đan Mạch). Denmark. ngày 8 tháng 3 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  84. ^ “GAFFA-priset 2019 – här är artisterna som ligger bäst till”. GAFFA (bằng tiếng Thụy Điển). Sweden. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  85. ^ “MTV EMAs: Taylor Swift, BTS, Billie Eilish Among Winners”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ When initially released as part of the Don't Kill My Vibe EP, the song was entitled "Dynamite (Acoustic)", but its name was changed when it made the final cut of Sigrid's debut album, Sucker Punch.[52]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Sigrid

Bản mẫu:BBC Sound of...