Sims (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USS Sims (DD-409) - 19-N-20822.jpg
Tàu khu trục Sims (DD-409), chiếc dẫn đầu của lớp
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp tàu khu trục Sims
Xưởng đóng tàu:Bath Iron Works
Federal Shipbuilding
Newport News Shipbuilding
Xưởng hải quân Boston
Xưởng hải quân Norfolk
Xưởng hải quân Charleston
Xưởng hải quân Philadelphia
Bên sử dụng:Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước:Lớp Benham
Lớp sau:Lớp Benson
Thời gian đóng:1937-1940
Thời gian hoạt động:1939-1946
Hoàn tất:12
Bị mất:5
Nghỉ hưu:7
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.570 tấn Anh (1.600 t) (tiêu chuẩn)
2.465 tấn Anh (2.505 t) (đầy tải)
Độ dài: 348 ft 4 in (106,17 m) (chung)
Sườn ngang: 36 ft (11 m)
Mớn nước: 13 ft 4 in (4,06 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;
3 × nồi hơi ống nước
2 × trục
công suất 50.000 shp (37.000 kW)
Tốc độ: 37,7 hải lý một giờ (69,8 km/h; 43,4 mph)
Tầm hoạt động: 400 tấn (390 tấn Anh) dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
16 sĩ quan
235 thủy thủ
Vũ trang: 5 (sau 4) × pháo 5 inch (130 mm)/38 caliber;
2 × pháo Bofors 40 mm phòng không;
12 (sau 8) × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mark 15

Lớp tàu khu trục Sims bao gồm 12 tàu khu trục được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được đóng tại bảy xưởng tàu khác nhau và nhập biên chế trong những năm 19391940, chúng là lớp tàu khu trục cuối cùng của Hoa Kỳ được hoàn tất trước cuộc thế chiến.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc lớp Sims là lớp thứ sáu, cũng là lớp sau cùng của tàu khu trục "thế hệ ba" tải trọng 1500 tấn trước chiến tranh, vốn đã hiện đại hóa Hải quân Hoa Kỳ trong thập niên 1930. Đây là những chiếc sau cùng được chế tạo với một phòng động cơ, khác biệt với lớp Benson tiếp theo, để tăng cơ hội sống sót. Tuy nhiên chúng cũng là những chiếc đầu tiên gia tăng chiều dài lườn tàu, khởi đầu cho nhiều lớp tàu khu trục lớn và nhanh hơn được chế tạo trong chiến tranh.

Lớp Sims bắt đầu áp dụng Hệ thống Kiểm soát Hỏa lực pháo Mark 37.[1] Phân biệt bởi một bộ điều khiển đặt trên tháp pháo, hệ thống tiên tiến này được kiểm soát bởi một Máy tính Kiểm soát Hỏa lực Mark I đặt sâu trong lườn tàu, cho phép ngắm tự động những mục tiêu mặt nước hay trên không với giải pháp bắn trúng ngay phát đầu hầu như trong thời gian thực. Hệ thống này được tiếp tục phát triển, sẽ được sử dụng để kiểm soát hầu hết pháo 5 inch trên tàu khu trục hay tàu chiến lớn hơn, và tiếp tục phục vụ trên tàu chiến Hoa Kỳ cho đến thập niên 1970.

Những chiếc ban đầu được hoàn tất với 12 ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mark 15 (3 bệ × 4 ống), trong khi những chiếc sau hoàn tất chỉ với 8 ống (2 bệ × 4 ống) bố trí trên trục giữa. Tất cả được cải biến trở lại cấu hình 8 ống trước khi Thế Chiến II bắt đầu.

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Mọi chiếc lớp Sims đều đã tham gia chiến tranh, với bảy chiếc còn sống sót; không còn chiếc nào tiếp tục phục vụ sau năm 1946.

Trong số năm chiếc bị mất, bốn chiếc bị mất bởi Nhật Bản và một chiếc bị mất bởi Đức. Ba trong số bảy chiếc sống sót đang được đại tu khi chiến tranh kết thúc, và chúng bị bỏ dỡ dang và cuối cùng bị tháo dỡ. Bốn chiếc còn lại có khả năng đi biển được sử dụng như những mục tiêu trong Chiến dịch Crossroads: cuộc thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini vào năm 1946. Một chiếc bị đánh chìm trong vụ nổ thứ nhất, ba chiếc kia tiếp tục sống sót sau vụ nổ thứ hai, và cuối cùng bị đánh chìm hai năm sau đó sau khi phục vụ như những nền tảng thử nghiệm.

Tàu khu trục USS Russell (DD-414) vào năm 1943.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Sims (DD-409) 15 tháng 7 năm 1937 8 tháng 4 năm 1939 1 tháng 8 năm 1939 Bị máy bay Nhật Bản đánh chìm trong Trận chiến biển Coral, 7 tháng 5 năm 1942.
Hughes (DD-410) 15 tháng 9 năm 1937 17 tháng 6 năm 1939 21 tháng 9 năm 1939 Bị hư hại trong Chiến dịch Crossroads thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu ngoài khơi Kwajalein, 16 tháng 10 năm 1948.
Anderson (DD-411) 15 tháng 11 năm 1937 4 tháng 2 năm 1939 19 tháng 5 năm 1939 Bị đánh chìm trong Chiến dịch Crossroads (Thử nghiệm "Able") tại đảo san hô Bikini, 1 tháng 7 năm 1946.
Hammann (DD-412) 17 tháng 1 năm 1938 4 tháng 2 năm 1939 11 tháng 8 năm 1939 Bị tàu ngầm Nhật I-168 đánh chìm trong trận Midway với cùng loạt ngư lôi đã đánh đắm Yorktown, 6 tháng 6 năm 1942
Mustin (DD-413) 20 tháng 12 năm 1937 8 tháng 12 năm 1938 15 tháng 9 năm 1939 Bị hư hại trong Chiến dịch Crossroads tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu ngoài khơi Kwajalein, 18 tháng 4 năm 1948.
Russell (DD-414) 20 tháng 12 năm 1937 8 tháng 12 năm 1938 3 tháng 11 năm 1939 Bán để tháo dỡ, tháng 9 năm 1947
O'Brien (DD-415) 31 tháng 5 năm 1938 20 tháng 2 năm 1939 2 tháng 3 năm 1940 Trúng ngư lôi từ tàu ngầm Nhật I-19, với cùng loạt đã đánh đắm USS Wasp (CV-7) và làm hư hại USS North Carolina (BB-55), 15 tháng 9 năm 1942. Đắm ngày 19 tháng 10 năm 1942 ngoài khơi Suva lúc đang được kéo về Trân Châu Cảng để sửa chữa
Walke (DD-416) 31 tháng 5 năm 1938 20 tháng 10 năm 1939 27 tháng 4 năm 1940 Bị đánh chìm trong trận Hải chiến Guadalcanal, 15 tháng 11 năm 1942
Morris (DD-417) 7 tháng 6 năm 1938 1 tháng 6 năm 1939 5 tháng 3 năm 1940 Bán để tháo dỡ, 2 tháng 8 năm 1947.
Roe (DD-418) 23 tháng 4 năm 1938 21 tháng 6 năm 1939 5 tháng 1 năm 1940 Bán để tháo dỡ, tháng 8 năm 1947
Wainwright (DD-419) 7 tháng 6 năm 1938 21 tháng 6 năm 1939 15 tháng 4 năm 1940 Bị hư hại trong Chiến dịch Crossroads tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu tại Thái Bình Dương, 5 tháng 7 năm 1948.
USS Buck (DD-420) 6 tháng 4 năm 1938 22 tháng 5 năm 1939 15 tháng 5 năm 1940 Bị tàu ngầm U-boat Đức U-616 đánh chìm ngoài khơi Salerno, Ý, 9 tháng 10 năm 1943

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]