Snoop Dogg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Snoop Dogg
Snoop Dogg 2016.jpg
Snoop Dogg biểu diễn tại Toronto, Ontario vào năm 2016
Sinh Cordozar Calvin Broadus, Jr.
20 tháng 10, 1971 (47 tuổi)
Long Beach, California, Hoa Kỳ
Tên khác
  • Snoop Rock
  • Snoop Doggy Dogg
  • Snoop Lion
  • DJ Snoopadelic
  • Snoopzilla
  • Bigg Snoop Dogg
  • Snoop Scorsese
Nghề nghiệp
  • Rapper
  • ca sĩ
  • nhà soạn nhạc
  • nhà sản xuất thu âm
  • điều hành thu âm
  • activist
  • diễn viên
Năm hoạt động 1992–nay
Quê quán Eastside, Long Beach, California
Phối ngẫu Shante Taylor (k. 1997; l. 2004) (m. 2008)
Con cái 3
Người thân Ray J (cousin)
Brandy Norwood (cousin)
Sasha Banks (cousin)
Daz Dillinger (cousin)
RBX (cousin)
Lil' ½ Dead (cousin)
Nate Dogg (cousin)
Bootsy Collins (chú)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
Hãng đĩa
Hợp tác với
Website snoopdogg.com

Calvin Cordozar Broadus, Jr.[1][2][3][4] (sinh 20 tháng 10 năm 1971)[2] thường được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Snoop Dogg là một rapper, ca sĩ, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ.[5][6]

Sự nghiệp âm nhạc của anh bắt đầu vào năm 1992 khi anh được phát hiện bởi Dr. Dre và xuất hiện trong buổi ra mắt solo của Dre, "Deep Cover", và sau đó là album đầu tay solo của Dre, The Chronic. Anh đã bán được hơn 23 triệu album tại Hoa Kỳ và 35 triệu album trên toàn thế giới.[5][7][8]

Album đầu tay của Snoop, Doggyu, được sản xuất bởi Dr. Dre, được phát hành vào năm 1993 bởi Death Row Records. Được kích thích bởi sự phấn khích do Snoop thể hiện trên The Chronic, album đã xuất hiện ở vị trí số một trên cả bảng xếp hạng Album R & B / Hip-Hop hàng đầu của Billboard. Bán được gần một triệu bản trong tuần đầu tiên phát hành, Doggyu đã trở thành chứng nhận bạch kim tăng gấp bốn lần vào năm 1994 và sinh ra một số đĩa đơn thành công, bao gồm "Tên tôi là gì?" và "Gin & Nước ép". Năm 1994, Snoop đã phát hành một bản nhạc phim trong Death Row Records cho bộ phim ngắn Murder Was the Case, với sự tham gia của chính anh. Album thứ hai của anh, Tha Dogg Father (1996), cũng đã ra mắt ở vị trí số một trên cả hai bảng xếp hạng, với "Snoop's Upside Ya Head" là đĩa đơn chính. Album được chứng nhận double platinum vào năm 1997.

Sau khi rời Death Row Records, Snoop đã ký hợp đồng với No Records Records, nơi anh đã thu âm ba album tiếp theo của mình, Da Game Is To Sold, Not to Told (1998), No Limit Top Dogg (1999) và Tha Last Meal (2000). Snoop sau đó đã ký hợp đồng với Priority / Capitol / EMI Records vào năm 2002, nơi anh phát hành Paid tha Cost để trở thành ông chủ. Sau đó, anh đã ký hợp đồng với Geffen Records vào năm 2004 cho ba album tiếp theo của mình, R & G (Nhịp điệu & Gangsta): Kiệt tác, Xử lý thảm xanh và Ego Trippin '. Malice 'n Wonderland (2009) và Doggumentary (2011) đã được phát hành trên Priority. Snoop Dogg đã đóng vai chính trong các bộ phim chuyển động và tổ chức một số chương trình truyền hình, bao gồm Doggy Fizzle Televizzle, Cha của Snoop Dogg và Dogg After Dark. Anh cũng huấn luyện một giải bóng đá trẻ và đội bóng đá trường trung học. Vào tháng 9 năm 2009, Snoop được EMI thuê làm chủ tịch của Priority Records được kích hoạt lại.[9]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Album hợp tác

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Top 10 Most Ridiculous Celebrity Name Changes”. Time. Ngày 31 tháng 7 năm 2012. 
  2. ^ a ă “Snoop Dogg Biography”. Biography.com. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014. Birth date: ngày 20 tháng 10 năm 1971 
  3. ^ Ordonez, Jennifer (ngày 16 tháng 9 năm 2002). “Suddenly No Longer Top Dog, Snoop Dogg Reinvents Himself”. The Wall Street Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  4. ^ Escoto, Mike (ngày 20 tháng 10 năm 2011). “Happy Birthday Snoop! See You at the Fair Tonight. | Phoenix New Times”. Blogs.phoenixnewtimes.com. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014. 
  5. ^ a ă “Billboard Magazine Match 1, 2008 - pág 25”. Prometheus Global Media. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2015.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Sales” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  6. ^ “Bio and Net Worth”. 23 tháng 6 năm 2017. 
  7. ^ “@snoopdogg • Instagram photos and videos”. Instagram. 
  8. ^ Ross, Christopher (27 tháng 8 năm 2015). “Um dia com o rapper Snoop Dogg”. Wsj.com. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017 – qua www.wsj.com. 
  9. ^ “Snoop Dogg Resurrects Priority Records”. XXLmag.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ “Royal Fam”. 23 tháng 6 năm 2017. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Snoop Dogg (1999). Tha Doggfather: The Times, Trials, and Hardcore Truths of Snoop Dogg. New York, N.Y., U.S.: William Morrow and Company. ISBN 0-688-17158-3. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]