Song Hye-kyo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Song Hye-kyo
송혜교
Song Hye-kyo in 2016 KBS Drama Award.jpg
Song Hye-kyo tại KBS Drama Awards năm 2016
Sinh 22 tháng 11, 1981 (35 tuổi)
Daegu,  Hàn Quốc
Tên khác Woodpecker, Hejgyo, Yookgyo, Hakkyo
Học vị Đại học Sejong
Nghề nghiệp Diễn viên, người mẫu
Năm hoạt động 1996–nay
Đại lý United Artists Agency
Tôn giáo Công giáo
Website www.songhyekyo.co.kr
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul 송혜교
Hanja 宋慧敎[1]
Romaja quốc ngữ Song Hye-gyo
McCune–Reischauer Song Hye-kyo
Hán-Việt Tống Huệ Kiều

Song Hye-kyo (sinh ngày 22 tháng 11 năm 1981) là nữ diễn viên Hàn Quốc được biết đến qua các phim Trái tim mùa thu, Một cho tất cả, Ngôi nhà hạnh phúc, Thế giới họ đang sống, Gió đông năm ấy, Hậu duệ mặt trời.[2] Năm 2017, cô đứng thứ 7 trong danh sách những người nổi tiếng của danh sách "Korea Power Celebrity" do tạp chí Forbes bình chọn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới sinh ra không lâu, Song Hye-kyo từng bị ốm đến mức cha mẹ và các bác sĩ nghĩ rằng cô không thể qua khỏi. Vì sự hồi phục kỳ diệu của cô, cha mẹ đăng ký khai sinh cho cô là 26 tháng 2 năm 1982 (thay vì ngày sinh thực là 22 tháng 11 năm 1981).[3] Sau này, cha mẹ ly hôn và cô sống với mẹ.[4] Hai mẹ con chuyển từ quê nhà Daegu đến quận GangnamSeoul, ở đây cô được đào tạo về trượt băng nghệ thuật khi học tiểu học nhưng từ bỏ vào năm lớp 8.[5] Dù cô tự nhận mình nhút nhát và hướng nội nhưng giáo viên thời trung học lại nhận xét cô có "tính cách hoà nhã, hoà đồng với bạn bè và tinh thần vui vẻ."[6][7].

Song Hye-kyo theo học Seoul Daedo Elementary School, Sookmyung Girl's Middle School và Eunkwang Girls' High School. Năm 2000, Song Hye-kyo ghi danh vào khoa đạo diễn của Đại học Sejong và tham gia học kỳ I năm 1 tại đây. Do lịch trình bận rộn quay phim truyền hình Trái tim mùa thu, cô đã xin bảo lưu kết quả. Sau đó, Song Hye-kyo không thể sắp xếp thời gian đi học và đến năm 2002, nhà trường buộc phải ra quyết định cho thôi học.[8]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2003, Song Hye-kyo và nam diễn viên Lee Byung-hun xác nhận hẹn hò. Tháng 6 năm 2004, cặp đôi quyết định chia tay.[9][10]

Tháng 8 năm 2009, cô và nam diễn viên Hyun Bin xác nhận đã hẹn hò từ tháng 6 năm 2009. Tháng 3 năm 2011, đại diện của cả hai thông báo cặp đôi đã chia tay vào đầu năm 2011.[11][12]

Ngày 5 tháng 7 năm 2017, theo thông báo chung từ cả hai công ty quản lý cho biết nữ diễn viên và bạn diễn Song Joong-ki trong phim truyền Hậu duệ mặt trời (2016) đã quyết định sẽ đính hôn và dự kiến diễn ra vào ngày 31 tháng 10 năm 2017.[13][14]

Pháp lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2014, đại diện của Song Hye-kyo đã đưa ra lời xin lỗi chính thức tới công chúng đối với nghi án trốn thuế, bằng lập luận rằng các kế toán đã hiểu sai công việc giấy tờ mà cô không hay biết về số tiền thuế thu nhập nộp thiếu từ năm 2009 tới năm 2011 tổng cộng là 2.56 tỉ ₩. Nữ diễn viên cho biết sau khi nhận được thông báo từ Cơ quan thuế Quốc gia, cô đã nộp đầy đủ số tiền phạt bổ sung lên tới 3.8 tỉ ₩ (3,7 triệu US$) vào tháng 10 năm 2012.[15][16][17][18][19]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1996 - 2004: Nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1996, 14 tuổi, Song Hye Kyo là học sinh trung học cơ sở năm thứ ba, cô đã giành chiến thắng trong Cuộc thi SunKyung Smart Model, và cô đã xuất hiện trong ngành giải trí với vai trò người mẫu cho công ty đồng phục trường học. Điều này đã dẫn đến việc cô được đóng một vai nhỏ trong bộ phim truyền hình đầu tiên: First Love. Cô tiếp tục xuất hiện trong một loạt các bộ phim truyền hình và sitcoms, đặc biệt là bộ phim Soonpoong Clinic. Nhưng đến bộ phim truyền hình Trái tim mùa thu vào năm 2000 với Song Seung-heonWon Bin, cô mới bắt đầu nổi tiếng ở Hàn Quốc và khắp châu Á. Bộ phim đạt được thành công nhất định, là tiên phong trong xu hướng âm nhạc Hàn Quốc cũng như Làn sóng Hàn Quốc và đưa Song Hye Kyo trở thành ngôi sao Hallyu.

Năm 2003, mức độ nổi tiếng của cô tiếp tục được gia tăng. Cô đóng vai chính cùng với Lee Byung Hun trong bộ phim truyền hình Một Cho Tất Cả, thu hút một lượng người xem lớn trên toàn quốc. Bộ phim đạt được tỷ lệ người xem cao nhất là 47,7%. Năm tiếp theo, cô đã tham gia cùng với ca sĩ Rain trong bộ phim hài Ngôi Nhà Hạnh Phúc. Bộ phim đã đạt được thành công nhanh chóng và giúp Song Hye Kyo trở thành một trong những nữ diễn viên Hàn Quốc nổi tiếng nhất ở Châu Á.

2005 - 2012: Ra mắt phim điện ảnh và các dự án ở nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2005, Song Hye Kyo đến San Francisco để học tiếng Anh, sau đó đến Seattle. Cô dành thời gian cho bản thân lại sau bộ phim Ngôi Nhà Hạnh Phúc. "Tôi đã có một khoảng thời gian nghỉ ngơi tốt, đó là cơ hội để tôi suy nghĩ về bản thân mình", - Song Hye Kyo. Cô trở lại Hàn Quốc vào ngày 5 tháng 3 năm 2005. Cùng năm, cô đã lần đầu xuất hiện trên màn ảnh rộng trong tác phẩm My Girl and I (làm lại từ bộ phim Crying Out Love) cùng với nam diễn viên Cha Tae Hyun. Cô chứng minh được bản thân khi đảm nhận nhiều vai trò khác nhau.

Cô trở lại màn ảnh rộng vào năm 2007, với một bộ phim chuyển thể Hwang Jin Yi. Mặc dù Jun Ji HyunSoo Ae là những lựa chọn ban đầu cho vai diễn này. Một năm sau, cô xuất hiện lần đầu ở Mỹ trong bộ phim Make Yourself at Home (tiêu đề cũ là Fetish), một bộ phim kinh dị tâm lý về cô gái được sinh ra từ một bà mẹ là người của giáo phái Saman, cô trốn tránh sức mạnh của một pháp sư trong mình bằng cách trở thành một cô dâu nhập cư ở Mỹ.

Cô tái xuất màn ảnh nhỏ vào cuối năm 2008 với Thế giới Họ Đang Sống, một bộ phim được lấy bối cảnh tại một đài truyền hình, trong đó cô và Hyun Bin đóng vai những PD làm việc cùng nhau và yêu nhau.

Trong năm 2010, cô đóng vai chính trong Camellia, phim bao gồm ba bộ phim ngắn do các đạo diễn châu Á đạo diễn. Mỗi tập được đặt trong bối cảnh quá khứ, hiện tại và tương lai của thành phố Busan. Trong đoạn cuối cùng của bộ phim Love for Sale, Song Hye Kyo và Kang Dong-won là hai diễn viên chính.

Song Hye Kyo được coi là một trong những phụ nữ đẹp nhất Hàn Quốc

Vào đầu năm 2011, Song Hye Kyo đã phát hành sách ảnh Moment, Song Hye-kyo được chụp bởi những nhiếp ảnh gia hàng đầu ở nhiều quốc gia trên thế giới: Atlanta, New York, Buenos Aires, Patagonia, Paris, Hà LanBrazil. Tiền thu được từ việc bán sách ảnh đã được quyên góp cho của các trẻ em khó khăn.

Cùng năm, Song Hye Kyo đóng vai một nhà làm phim tài liệu trong A Reason to Live (tên tiếng Việt: Lẽ Sống). Cô là một fan hâm mộ lớn của đạo diễn Lee Jeong-hyang, muốn tham gia diễn xuất trong bộ phim mặc dù cô đã gặp khó khăn để trở thành nhân vật, Song Hye Kyo nói rằng cô yêu thích kịch bản và cảm thấy diễn xuất của mình đã trưởng thành. Cô coi bộ phim là "bước ngoặt" trong cuộc đời cô.

Năm 2011, cô trở thành nữ diễn viên châu Á đầu tiên ký hợp đồng với hãng Effigies của Pháp, mở đường cho việc cô có thể vào thị trường châu Âu.

Cô đã phát hành một quyển tự truyện ảnh mang tên It's Time for Hye-kyo vào năm 2012. Tác phẩm nhanh chóng lọt Top 10 cuốn sách bán chạy nhất Hàn Quốc sau ngày ra mắt chỉ hơn một tuần.

Song Hye Kyo đóng một vai phụ trong The Grandmaster, bộ phim của đạo diễn Wong Kar-wai về Lý Tiểu Long, lúc đó cô đã học được tiếng Quảng Đông.

2013 - nay: Tiếp tục phát triển sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Song Hye Kyo hợp tác với biên kịch và đạo diễn của Thế giới Ta Đang Sống trong tác phẩm Gió Mùa Đông Năm Ấy, (dựa theo bộ phim thực hiện vào năm 2003 Ai Nante Irane Yo, Natsu). Cô là một cô gái mắc phải chứng suy giảm thị lực, mắt cô gần như không thể thấy gì, trong phim cô diễn xuất cùng với Jo In Sung. Bộ phim lan tỏa sức hút lớn ra toàn châu Á. Song Hye Kyo đã đoạt giải Daesang tại Giải APAN lần thứ 2 nhờ vai diễn Oh Young.

Năm 2014, Song Hye Kyo tái hợp với Kang Dong-won trong My Brilliant Life, một bộ phim chuyển thể của E J-yong từ cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất của Aerial: My Palpitating Life.

Năm 2013, The Crossing là bộ phim Trung Quốc thứ hai của cô được phát hành và được đạo diễn bởi John Woo.

Cô tiếp tục tham gia một bộ phim Trung Quốc khác vào năm 2015, The Queens, một bộ phim hài lãng mạn hiện đại về ba phụ nữ. Cùng tham gia với cô là Trần Kiều Ân và Y Năng Tịnh, dưới sự chỉ đạo của nữ diễn viên Y Năng Tịnh.

Năm 2016, Song Hye Kyo đóng vai chính trong bộ phim Hậu Duệ của Mặt Trời, bộ phim về chuyện tình giữa một Đại úy quân đội (do Song Joong Ki đóng) và một bác sĩ phẫu thuật (do Song Hye Kyo đóng) yêu nhau sau khi trải qua nhiều lần xông pha vào chốn hiểm nguy. Bộ phim cực kỳ thành công với tập cuối cùng đã thu được rating trên 38,8%, gây sốt trên đất nước Hàn Quốc, nhiều nước ở Châu Á và trên thế giới. Bộ phim đã giúp Hàn Quốc quảng bá nền văn hóa ra thế giới, Song Hye Kyo một lần nữa khẳng định vị trí ngôi sao Hallyu và cô thường xuyên đứng đầu các cuộc thăm dò dư luận ở châu Á trong năm 2016. Cuối năm, Song Hye Kyo đã đoạt giải Daesang, giải thưởng cao nhất tại KBS Drama Awards cùng với nam diễn viên Song Joong Ki.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Song Hye Kyo đã dành thời gian để giúp động vật từ năm 2007. Trong năm 2012, hình ảnh cô bí mật tham gia vào hoạt động tình nguyện xuất hiện trên mạng. Những hình ảnh cho thấy Song Hye Kyo làm hoạt động tình nguyện vào một ngày mưa ở nơi trú ẩn động vật hoang dã ở Cheonan. Vào năm 2013, Kara đã đăng ảnh của cô và người bạn diễn Im Se-mi của That Winter, Wind Blows làm việc tại một nhà lưu trú chó ở Yeoju. Cho đến nay, Song Hye Kyo vẫn tham gia vào các hoạt động liên quan.

Cộng tác với Giáo sư Seo Kyung-duk

Song Hye Kyo hợp tác với giáo sư Seo Kyung-duk của Đại học Sungshin, quyết định tặng tài liệu hoặc thông tin bằng tiếng Hàn cho nhiều địa điểm lịch sử, phòng trưng bày nghệ thuật và viện bảo tàng của Hàn Quốc trên thế giới. Ông Seo đã ca ngợi Song Hye Kyo.

  • Vào tháng 1 năm 2012, tài trợ xuất bản cuốn sách hướng dẫn MoMA tại thành phố New York.
  • Tháng 4 năm 2012, Song Hye Kyo cũng chi cho việc sản xuất cuốn sách mới của Hàn Quốc cho Tượng đài Yun Bong Gil tại Thượng Hải, Trung Quốc.
  • Vào tháng 11 năm 2012, đặt một hộp video quảng cáo về Hàn Quốc tại Bảo tàng Mỹ thuật ở Boston.
  • Song Hye Kyo nhận thức sâu sắc về những khó khăn mà những người khiếm thị gặp phải khi đóng trong Gió Mùa Đông Năm Ấy. Vì vậy, Tháng 3 năm 2013, Song Hye Kyo quyết định tài trợ cho việc xuất bản sách hướng dẫn cho người khiếm thị tại Hội trường Độc lập Hàn Quốc ở Cheonan.
  • Vào tháng 8 năm 2013, Song Hye Kyo và Seo Kyung-duk tài trợ cho việc khắc tranh trên đồng để đóng góp cho bảo tàng Yi Jun Peace ở Hague, Hà Lan.
  • Vào tháng 10 năm 2013, tặng sách hướng dẫn về Hàn Quốc tại Nhà Tưởng niệm An Jung-geun ở Harbin, Trung Quốc.
  • Vào tháng 11 năm 2013, fan hâm mộ của Song Hye-kyo đã thông báo rằng họ đã tặng sách hướng dẫn Hàn Quốc cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Uzbekistan
  • Tháng 4 năm 2014, tặng 10.000 tờ thông tin Hàn Quốc cho tòa nhà Chính phủ Hàn Quốc ở Hangzhou, Trung Quốc.
  • Vào tháng 4 năm 2015, Song Hye Kyo tặng tiền để in các tài liệu quảng cáo tại nhà thờ ở thành phố New York.
  • Tháng 4 năm 2016, cô đã tặng tài liệu quảng cáo tiếng Hàn cho Tượng Nữ thần Tự do ở thành phố New York.
  • Vào tháng 8 năm 2016, để kỷ niệm Ngày Giải phóng Dân tộc Hàn Quốc vào ngày 15 tháng 8, Song Hye Kyo đã hợp tác với giáo sư Seo đã tặng 10.000 tờ bướm cho làng Utoro ở Nhật Bản.
  • Vào tháng 12 năm 2016, cô và giáo sư Seo đã tặng 10.000 bản sao cuốn sách hướng dẫn của Hàn Quốc tới Nhà Tưởng niệm Yun Bong Gil tại Thượng Hải để tưởng niệm ngày mất của ông.
  • Tháng 3 năm 2017, Song Hye Kyo tổ chức hiến tặng 10.000 bản sao cuốn sách hướng dẫn của Hàn Quốc tới các địa điểm lịch sử của Hàn Quốc ở Tokyo.

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1996: KBS2 First Love: Một trong các học sinh
  • 1997: KBS2 Happy Morning: Oh Ye Boon
  • 1997: SBS Beautiful Face
  • 1997: SBS 70-minute drama: When They Met
  • 1997: MBC One of a Pair
  • 1997: KBS2 Áo Cưới: Cháu gái
  • 1998: MBC Six Siblings: Choi Eun Shil
  • 1998: SBS Sunpung Clinic: Oh Hye Kyo
  • 1998: SBS Deadly Eyes: Oh Jung Ah
  • 1998: SBS White Nights 3.98: Hong Jung Yeon lúc trẻ
  • 1998: SBS Tôi Là Ai?: Ye Rin
  • 1999: SBS Marching: Song Hye Kyo
  • 1999: SBS Cô Dâu Đáng Yêu: Kim Young Hee
  • 2000: KBS2 Trái Tim Mùa Thu: Yoon Eun Seo / Choi Eun Seo
  • 2001: MBC Người Quản Lí Khách sạn: Kim Yoon Hee
  • 2001: SBS Guardian Angel: Jung Da Su
  • 2003: SBS Một Cho Tất Cả: Min Soo Yeon / Angela
  • 2004: SBS Ánh Sáng Của Tình Yêu: Ji Yeon Woo
  • 2004: KBS2 Ngôi Nhà Hạnh Phúc: Han Ji Eun
  • 2008: KBS2 Thế giới Ta Đang Sống: Joo Joon Young
  • 2013: SBS Gió Đông Năm Ấy: Oh Young
  • 2016: KBS2 Hậu Duệ Mặt Trời: Kang Mo Yeon

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • My girl and I (2005)
  • Hwang Ji ni (2007)
  • Make yourself at home (2008)
  • Carmellia (2010)
  • Countdown (2011)
  • Today (A Reason to live) (2011)
  • The Grand Master (2013)
  • My Brilliant Life (2014)
  • The Crossing (2014)
  • The Queens (2015)
  • The Crossing 2 (2015)

Radio và chương trình giải trí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Vai trò Kênh phát sóng
1998 GO! Our Heaven MBC
1998 Inkigayo Live 20 MC với Park Soo-hong SBS
1999-2000 Our Happy Saturday MC
2000 Music Bank MC với Lee Hwi-jae KBS
2001 Mnet KM Music Festival MC với Cha Tae-hyun Mnet
2007 She's Olive: Song Hye-kyo in Paris Song Hye Kyo O'live
Guerilla Date Khách mời KBS
Blue Night với Sung Si-kyung MBC FM4U
2008 Gutannubo Fuji TV
2009 Good Morning Panda (Documentary) Người kể chuyện EBS
2011 Cultwo Show Khách mời SBS Power FM
Blue Night với Ahn Jung-yup MBC FM4U
Bae Cheol-soo's Music Camp
2016 May, the Children (Documentary) Người kể chuyện KBS1

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

MV[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1996: "This Promise" - Kim Soo Keun
  • 2000: "Curious Destiny" - Shin Sung Woo
  • 2000: "Once Upon A Day" - Kim Bum Soo

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Ca sĩ Ghi chú
2012 Switch Song Hye Kyo, John Park Nhạc quảng cáo nhãn hàng Laneige

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa sách Thể loại Tác giả Nhà xuất bản IBSN
2011 Moment, Song Hye Kyo Sách ảnh Song Hye Kyo Nangman Books 9788994842127
2012 It's Time For Hye Kyo Tự truyện Song Hye Kyo 9788994842226

Những giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm Kết quả
1996 SunKyung Smart Model Contest Grand Prize Không có Đoạt giải
1998 SBS Drama Awards Diễn viên mới xuất sắc How Am I? Đoạt giải
2000 KBS Drama Awards Giải diễn viên ăn ảnh Trái tim mùa thu Đoạt giải
Giải thưởng diễn viên xuất sắc Đoạt giải
2001 37th Baeksang Arts Awards Diễn viên được yêu thích nhất (hạng TV) Đoạt giải
Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất (TV) Đề cử
Gold Song Awards (Hong Kong) Tốp ngôi sao Hàn Quốc Không có Đoạt giải
16th Golden Disk Awards Popular Music Video Award Kim Bum-soo's Once Upon a Day Đoạt giải
SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao Thần hộ mệnh Đoạt giải
SBSi Award Đoạt giải
2002 CETV Awards Top 10 diễn viên ca sĩ châu Á Không có Đoạt giải
2003 SBS Drama Awards Top 10 ngôi sao Một cho tất cả Đoạt giải
Top Excellence Award, Actress Đoạt giải
2004 KBS Drama Awards Cặp đôi được yêu thích nhất (với Rain (nghệ sĩ)) Ngôi nhà hạnh phúc Đoạt giải
Nữ diễn viên được yêu thích nhất(TV) Đoạt giải
Top Excellence Award, Actress Đoạt giải
2005 41st Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất (TV) Đề cử
2006 42nd Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất (Film) Cô nàng đáng yêu Đề cử
43rd Grand Bell Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất Đề cử
2007 28th Blue Dragon Film Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất (TV) Nàng Hwang Jin Yi Đề cử
6th Korean Film Awards Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất Đoạt giải
2008 KBS Drama Awards Excellence Award, Actress in a Miniseries Thế giới họ đang sống Đề cử
2011 12th Women in Film Korea Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất (TV) Lẽ sống Đoạt giải
2013 49th Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất (TV) Gió đông năm ấy Đề cử
7th Mnet 20's Choice Awards 20's Drama Star - Female Đề cử
8th Seoul International Drama Awards Outstanding Korean Actress Đề cử
6th Korea Drama Awards Daesang (Grand Prize) Đề cử
2nd APAN Star Awards Top Excellence Award, Actress Đề cử
Daesang (Grand Prize) Đoạt giải
SBS Drama Awards Cặp đôi xuất sắc (với Jo In-sung) Đề cử
Top 10 Ngôi sao Đoạt giải
Top Excellence Award, Actress in a Miniseries Đoạt giải
2016 52nd Baeksang Arts Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất (TV) Hậu duệ mặt trời Đề cử
Nữ diễn viên được yêu thích nhất(TV) Đoạt giải
Ngôi sao toàn cầu iQiYi[20] Đoạt giải
5th APAN Star Awards 2016 Cặp đôi xuất sắc (với Song Joong Ki) Đoạt giải
Nữ diễn viên hàng đầu (phim ngắn tập) Đề cử
Daesang (Grand Prize) Đề cử
7th Korean and Popular Culture and Arts Awards Giải thưởng của Tổng thống Không có Đoạt giải
9th Korea Drama Awards Cặp đôi xuất sắc nhất (với Song Joong Ki) Hậu duệ mặt trời Đoạt giải
1st Asia Artist Awards Diễn viên xuất sắc nhất Đề cử
KBS Drama Awards Cặp đôi châu Á (với Song Joong Ki) Đoạt giải
Cặp đôi xuất sắc (với Song Joong Ki) Đoạt giải
Nữ diễn viên chính xuất sắc (phim ngắn tập) Đề cử
Daesang (Grand Prize) Đoạt giải
Top Excellence Award Đề cử
2017 5th DramaFever Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 宋慧喬真名曝光
  2. ^ Bản mẫu:뉴스 인용
  3. ^ 송혜교, 조촐한 생일파티 공개 '수수하지만 빛나는 미모'. My Daily (bằng tiếng Triều Tiên). 28 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ 스크린으로 돌아온 만인의 연인 송혜교. The Dong-a Ilbo (bằng tiếng Triều Tiên). 19 tháng 10 năm 2011. 
  5. ^ 송혜교 ‘어느새 데뷔 10년차!’ 기념 팬미팅. Naver (bằng tiếng Triều Tiên). 25 tháng 11 năm 2005. 
  6. ^ History Attests to Korean Stars' All-Natural Looks. The Chosun Ilbo. June 6, 2006.
  7. ^ “Interview: Song Hye Kyo Believes She's Become More Masculine Over Time”. enewsWorld. 29 tháng 8 năm 2014. 
  8. ^ Dramafever
  9. ^ [이병헌-송혜교 결별 선언] 만남에서 결별까지. Naver (bằng tiếng Korean). 15 tháng 6 năm 2004. 
  10. ^ “Celebrity Couple Calls it Quits”. HanCinema. 15 tháng 6 năm 2004. 
  11. ^ “[TALK OF THE TOWN] ‘Worlds Within’ stars couple up”. Korea JoongAng Daily. 6 tháng 8 năm 2009. 
  12. ^ “Hyun Bin, Song Hye-kyo Announce Split”. The Chosun Ilbo. 9 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ “송중기♥송혜교, 10월 결혼… “아름다운 앞날 축복해달라”[공식입장 전문]”. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017. 
  14. ^ “Descendants of the Sun stars Song Joong-ki, Song Hye-kyo to wed”. Channel News Asia. 
  15. ^ “Song Hye-kyo expresses deep regret over tax evasion”. The Korea Herald. 19 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ “Tax accountant victimizes Song Hae-kyo”. The Korea Times. 19 tháng 8 năm 2014. 
  17. ^ “Song probed for tax evasion”. Korea JoongAng Daily. 20 tháng 8 năm 2014. 
  18. ^ “Actress apologizes for tax evasion”. Korea JoongAng Daily. 22 tháng 8 năm 2014. 
  19. ^ “Song deals with a taxing issue”. Korea JoongAng Daily. 28 tháng 8 năm 2014. 
  20. ^ ““Hậu duệ mặt trời” giành chiến thắng tại Beaksang 2016”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]