Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Trang khóa di chuyển

Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ South Korea)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Đại Hàn Dân Quốc
Tiêu ngữ홍익인간 (Hangul)
弘益人間 (Hanja)
Hongik Ingan (Romaja)
Hoằng Ích Nhân Gian
Cống hiến hạnh phúc cho nhân loại
[1]
Quốc ca애국가 (Hangul)
愛國歌 (Hanja)
Aegukga (Romaja)[a]
Ái quốc ca
Quốc hoa: Rose of sharon Icon.svg Hoa dâm bụt
무궁화 (Hangul)
無窮花 (Hanja)
Mugunghwa (Romaja)
Quốc ấn
Seal of South Korea.svg
대한민국의 국새 (Hangul)
大韓民國의 國璽 (Hanja)
Daehan Minguk-ui Guksae (Romaja)
Quốc ấn Đại Hàn Dân Quốc
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh) .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế .mw-parser-output .legend{page-break-inside:avoid;break-inside:avoid-column}.mw-parser-output .legend-color{display:inline-block;min-width:1.25em;height:1.25em;line-height:1.25;margin:1px 0;text-align:center;border:1px solid black;background-color:transparent;color:black}.mw-parser-output .legend-text{}   Tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát trên thực tế
Vị trí của Hàn Quốc trên thế giới (xanh)
  Tuyên bố chủ quyền và kiểm soát trên thực tế
  Tuyên bố chủ quyền nhưng không kiểm soát trên thực tế
Lãnh thổ thực tế (xanh đậm)
Lãnh thổ thực tế (xanh đậm)
Tổng quan
Thủ đôFlag of Seoul.svg Seoul
37°33′B 126°58′Đ / 37,55°B 126,967°Đ / 37.550; 126.967
Thành phố lớn nhấtSeoul
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Hàn Quốc
(Pyojun-eo)
Ngôn ngữ ký hiệu Hàn Quốc[2]
Văn tự chính thứcHangul
Sắc tộc
(2019)
95.1% Hàn (Triều Tiên)[3]
4.9% khác[3]
Tôn giáo chính
Tên dân cư
Chính trị
Chính phủNhà nước đơn nhất
Cộng hòa lập hiến
Tổng thống chế
Moon Jae-in
Kim Boo-kyum
Park Byeong-seug
Kim Myeong-soo
Yoo Nam-seok
Lập phápQuốc hội Hàn Quốc
Lịch sử
Độc lập 
13 tháng 10 năm 1897
17 tháng 11 năm 1905
22 tháng 8 năm 1910
1 tháng 3 năm 1919
11 tháng 4 năm 1919
15 tháng 8 năm 1945
8 tháng 9 năm 1945
15 tháng 8 năm 1948
25 tháng 6 năm 1950
27 tháng 7 năm 1953
25 tháng 2 năm 1988
27 tháng 4 năm 2018
Địa lý
Diện tích  
• Tổng cộng
100,363 km2 (hạng 107)
38,750 mi2
• Mặt nước (%)
0.3 (301 km2 / 116 mi2)
Dân số 
• Ước lượng 2019
Tăng 51,709,098[8] (hạng 27)
• Điều tra 2021
Giảm 51,330,639[9]
507/km2 (hạng 13)
1,313/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2021
• Tổng số
Tăng 2,503 nghìn tỷ USD[10] (hạng 14)
Tăng 48.309 USD[10] (hạng 25)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2021
• Tổng số
Tăng 1,824 nghìn tỷ USD[10] (hạng 10)
• Bình quân đầu người
Tăng 35.196 USD[10] (hạng 26)
Đơn vị tiền tệWon (₩) / Won 대한민국 원 (KRW)
Thông tin khác
Gini? (2018)Giảm theo hướng tích cực 34.5[11]
trung bình
FSI? (2021)Tăng theo hướng tiêu cực 32.5[12][13]
bền vững · hạng 159
HDI? (2020)Tăng 0.916[14]
rất cao · hạng 23
Múi giờUTC+09:00 (Giờ chuẩn Hàn Quốc)
• Mùa hè (DST)
UTC+09:00
Cách ghi ngày tháng
  • yyyy년 m월 d일
  • yyyy-mm-dd
    (năm-tháng-ngày)
Điện thương dụng220 V – 60 Hz
Giao thông bênPhải
Mã điện thoại+82
Mã ISO 3166KR
Tên miền Internet
Trang web
www.korea.net
Location of Hàn Quốc
Tiền thân
Đệ Ngũ Đại Hàn Dân Quốc

Hàn Quốc (tiếng Triều Tiên한국韓國Hanguk), tên gọi chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Triều Tiên대한민국大韓民國Daehan Minguk); là quốc gia cộng hòa lập hiến thuộc khu vực Đông Á, nằm trên nửa phía Nam của bán đảo Triều Tiên. Biên giới trên bộ cũng như trên biển ở phía Bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thông qua Khu vực phi quân sự liên Triềuvùng biển Bắc Triều Tiên qua Đường giới hạn phía Bắc, phía Đông tiếp giáp biển Nhật Bản, phía Nam giáp với đảo Kyushu (Nhật Bản) thông qua eo biển Triều Tiên và phía Tây là biển Hoàng Hải.[15]

Hàn Quốc có khí hậu ôn đới, địa hình chủ yếu là đồi núi, lãnh thổ trải rộng 100.363 km², quy mô dân số ước tính vào khoảng hơn 51 triệu người với 99% cư dân là người Triều Tiên[16], Hàn Quốc được coi là một quốc gia dân tộc.

Sau khi thành lập, Hàn Quốc trải qua chiến tranh Triều Tiên, trong các thập niên từ 1960 đến đầu thế kỷ 21, với sự kiện Kỳ tích sông Hán, kinh tế Hàn Quốc đã được khôi phục, phát triển vượt bậc và trở thành một nền kinh tế lớn. Năm 1996, Hàn Quốc chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia công nghiệp phát triển khi gia nhập OECD.

Hàn Quốc là quốc gia đạt được kỳ tích công nghiệp hóa thứ hai trong lịch sử châu Á sau Nhật Bản[17], là 1 trong 4 con rồng kinh tế châu Á cùng với Đài Loan, Hồng KôngSingapore, thành viên của hầu hết các tổ chức toàn cầu lớn trong đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, G-20, Câu lạc bộ Paris, IAEA, OECD, WTO, APEC,... Có chỉ số phát triển con người rất cao[18][19], là nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới[20][21], có chỉ số dân chủ cao nhất châu Á.[22][23] Mặc dù đã ký Hiệp ước không phổ biến các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, quốc gia này vẫn duy trì một lực lượng quân đội hiện đại - đứng hạng 8 về ngân sách quốc phòng (2021)[24] đồng thời là nhà xuất khẩu vũ khí lớn thứ 10 thế giới (2020).[25] Hộ chiếu Hàn Quốc nằm trong nhóm quyền lực nhất thế giới cùng Nhật Bản, Singapore[26], hiện đang giữ hạng 2 (2021)[27] và có những thời điểm vươn lên số 1 toàn cầu[28], đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản), hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội[29][30][31], được công nhận là một cường quốc khu vực tại Đông Á[32], cường quốc bậc trung trên thế giới[33] cũng như là một trong những đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ.[34]

Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã phát triển và truyền bá mạnh mẽ văn hóa Hàn Quốc ra phạm vi toàn cầu, hay còn được biết đến với tên gọi 'Làn sóng Hàn Quốc'.[35][36]

Mặc dù là một quốc gia phát triển, tuy nhiên hiện nay; Hàn Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như tình trạng lão hóa dân số do tỷ lệ sinh cũng như kết hôn giảm mạnh[37][38][39], các định kiến xã hội vẫn tồn tại[40][41], thất nghiệp[42], áp lực cuộc sống cao cùng nạn tự sát[43][44], bất bình đẳng xã hội với khoảng cách của sự phân hóa giàu nghèo đang ngày một gia tăng.[45]

Quốc hiệu

Trên toàn cầu

Hai tên gọi "Đại Hàn" (Daehan) và "Triều Tiên" (Joseon) tuy khác nhau trong tiếng Việt do phiên âm theo Hán tự, nhưng khi sử dụng quốc tế hoặc dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì đều được dịch giống nhau ví dụ; trong tiếng Anh: "Đại Hàn" hay "Triều Tiên" đều dịch thành "Korea", tiếng Pháp dịch là "Corée", tiếng Nga dịch là "Корея" (chuyển tự Latinh: Koreya), tiếng Tây Ban Nha dịch là "Corea",... Cách dùng này bắt nguồn từ quốc hiệu Cao Ly của nhà nước từng tồn tại trên bán đảo từ năm 918 đến năm 1392. Trong thời kỳ này, tên gọi "Cao Ly - Korea" đã thông qua những thương nhân người Ả-Rập mà lan rộng, truyền bá đến các quốc gia châu Âu.

Từ năm 1392, bán đảo nằm dưới sự cai trị của nhà Triều Tiên (Joseon). Kể từ đó, cái tên "Triều Tiên" được dùng làm quốc hiệu để chỉ chung cho toàn bộ dân tộc sinh sống trên bán đảo. Trong giai đoạn 1897-1910, sau khi ký kết các hiệp ước bất bình đẳng và chịu sự chi phối của Đế quốc Nhật Bản, toàn bộ bán đảo chuyển sang dùng danh xưng "Đế quốc Đại Hàn". Sau khi hai miền đất nước bị chia cắt vào năm 1945, vùng lãnh thổ phía Bắc chọn quốc hiệu cũ - gọi chính thể của mình là "Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên" trong khi vùng lãnh thổ phía Nam chọn quốc hiệu "Đại Hàn Dân Quốc", tiếp tục kế thừa "Đế quốc Đại Hàn" - "Đại Hàn Đế Quốc" (Daehan Jegug/대한제국/大韓帝國). Trong đó, chữ "Dân Quốc" (Hán tự: 民國) trong "Đại Hàn Dân Quốc" (大韓民國) được lấy theo quốc hiệu của Trung Hoa Dân Quốc, khi dịch sang các ngôn ngữ phương Tây thì cũng được dịch tương đương như "Cộng hoà Quốc" (共和國, nước Cộng hoà). Trong tiếng Anh, "Dân Quốc" và "Cộng hoà Quốc" đều được dịch là "Republic", tiếng Pháp dịch là "République", tiếng Tây Ban Nha là "República" còn tiếng Nga là "Республика" (chuyển tự Latinh: Respublika).

Phía Hàn Quốc luôn yêu cầu các đơn vị truyền thông nước ngoài và các cơ quan quốc tế khi ám chỉ tới "Hàn Quốc" thì không được dùng "South Korea" mà phải sử dụng quốc hiệu "Republic of Korea" hoặc "Korea Republic", nếu gọi ngắn thì chỉ dùng "Korea". Tuy nhiên, "South Korea" lại khá phổ biến trong tiếng Anh thường nhật vì được sử dụng để phân biệt với "North Korea" - tức Bắc Triều Tiên. Bên cạnh đó, các bản đồ chính thức ở cả Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đều không vẽ giới tuyến phi quân sự mà gộp chung lãnh thổ vào làm một, nhằm thể hiện rằng hai miền về bản chất vẫn là một dân tộc và lãnh thổ Triều Tiên là của chung.

Tại Việt Nam

Trong quá khứ, Hàn Quốc thường hay còn được gọi bằng các tên gọi khác như Đại Hàn, Nam Hàn (cách gọi tắt từ phía chính quốc khi đó và Trung Hoa Dân Quốc), Nam Triều Tiên (cách gọi của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) hoặc Cộng hòa Triều Tiên (cách gọi của phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trước năm 1992). Cụ thể, trong thời kỳ chia cắt Việt Nam (1954-1976), báo chí và truyền thông của Việt Nam Cộng hòa (trước đó là Quốc gia Việt Nam) thường chính thức gọi chính thể này là "Đại Hàn" hoặc "Nam Hàn". Sau năm 1975, những tên gọi cũ trên thì dần được chuyển dịch qua các ngôn ngữ phương Tây rồi tiếp tục dịch sang tiếng Việt mà trở thành "Cộng hoà Triều Tiên" (Republic of Korea) hoặc "Nam Triều Tiên" (South Korea) giống như cách gọi của Bắc Triều Tiên (North Korea).

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, bằng công hàm số KEV-398 gửi Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại sứ quán nước này đã đề nghị phía Việt Nam gọi chính thể của mình là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc" (từ "Hàn" ở đây không phải là "Lạnh" mà đó là ký âm tự của từ "Han" trong tiếng Hàn Quốc, có nghĩa là "Lớn"), không sử dụng các tên gọi cũ như "Cộng hoà Triều Tiên" hoặc "Nam Triều Tiên" nữa, vì "Triều Tiên" gợi nhắc đến danh xưng của miền Bắc (Bắc Triều Tiên). Đáp lại, Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã ra công văn số 733/ĐBA-NG ngày 21 tháng 4 năm 1994 gửi tất cả các cơ quan bộ, ngành, tổng cục, các cơ quan thông tin, truyền thông, tuyên truyền và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam yêu cầu "Từ nay gọi chính thể Nam Triều Tiên là "Đại Hàn Dân Quốc", gọi tắt là "Hàn Quốc", không dùng các tên gọi cũ như Cộng hoà Triều Tiên, Nam Triều Tiên hay Nam Hàn nữa".[46] Danh xưng Nam Triều Tiên hiện nay chỉ còn được truyền thông của phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sử dụng do nước này không công nhận tuyên bố chủ quyền của Hàn Quốc.

Trong đời sống thường nhật, tên gọi Hàn Quốc trong khẩu ngữ của người Việt - đặc biệt là thế hệ trẻ - thường được gọi tắt là Hàn, tương tự như cách gọi Trung (Trung Quốc), Nhật (Nhật Bản), Sing (Singapore), Đài (Đài Loan) hay Thái (Thái Lan),...

Lịch sử

Thời kỳ cổ đại

Các di chỉ khảo cổ học đầu tiên thuộc về thời kỳ Jeulmun

Những nghiên cứu, bằng chứng khoa học và chứng cứ khai quật khảo cổ học cho thấy rằng bán đảo Triều Tiên đã có xuất hiện con người sinh sống ngay từ thời đại đồ đá cũ.[47] Di chỉ khảo cổ học và các địa điểm định cư sớm nhất của con người tại đây trong thời kỳ Jeulmunthời kỳ Mumun được phát hiện ở phía nam bán đảo. Lịch sử Triều Tiên cổ đại bắt đầu với nhà nước Cổ Triều Tiên thành lập vào năm 2333 TCN bởi Đàn Quân, sau đó là giai đoạn tiền Tam Quốc với hàng loạt bộ lạc, tiểu quốc nhỏ phân tranh. Chế độ quân chủ của các quốc gia trên bán đảo có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc và Việt Nam - khi quyền cai trị thuộc về các triều đại phong kiến chuyên chế kế tập, Phật giáo Trung Hoa cùng Đạo giáo của Lão Tử có sức ảnh hưởng lớn và Nho giáo của Khổng Tử được lấy làm nền tảng tư tưởng gốc rễ cho toàn xã hội. Trong thời kỳ Tam Quốc, dưới triều đại Quảng Khai Thổ Thái Vương của Cao Câu Ly, lãnh thổ của ông được mở rộng sau một loạt chiến dịch quân sự nhằm chinh phục các tiểu quốc thành công, hình thành nên một trong những Đế quốc rộng lớn nhất Đông Bắc Á đương thời.[48][49] Sau Tam Quốc, Nam–Bắc Quốchậu Tam Quốc, bán đảo Triều Tiên tiếp tục trải qua triều đại Cao Lynhà Triều Tiên với vị thế là một đất nước độc lập cho đến cuối thời kỳ của Đế quốc Đại Hàn.

Thời kỳ cận đại

Nhật Bản tấn công đảo Ganghwa

Bước sang thời kỳ cận đại, Hoàng tộc Triều Tiên dưới quyền chi phối và lãnh đạo chuyên chính của Hưng Tuyên Đại Viện Quân đã thực thi chính sách "Bế quan tỏa cảng", tự cô lập đất nước cũng như thẳng tay đàn áp Thiên Chúa giáo. Trong khi đó, quốc gia láng giềng Nhật Bản, sau thất bại của Mạc phủ Tokugawa trong chiến tranh Mậu Thìn dẫn đến sự kết thúc của chế độ Shōgun, thành công của công cuộc Minh Trị Duy tân, chấm dứt chủ nghĩa Tỏa Quốc cùng chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Thanh–Nhật, chiến tranh Nga–Nhậtchiến tranh thế giới thứ nhất đã trở thành một thế lực mới, dần thay thế phương Bắc mở rộng ảnh hưởng lên bán đảo Triều Tiên, Hải quân Nhật Bản sử dụng "Ngoại giao pháo hạm" - mở đầu bằng sự kiện chiến hạm Unyō tấn công đảo Ganghwa (1875), gây áp lực buộc nhà Triều Tiên phải mở cửa các hải cảng đồng thời nhanh tay kiểm soát vùng lãnh thổ này trước các đế quốc phương Tây - khởi đầu bằng Điều ước bất bình đẳng Nhật–Triều (1876). Cuối cùng, sau sự kiện Thủ tướng Nhật Bản Itō Hirobumi bị nhà cách mạng An Jung-geun ám sát tại nhà ga Cáp Nhĩ Tân (26/10/1909).[50] Đế quốc Nhật Bản sử dụng vũ lực để sáp nhập bán đảo, quân phiệt Nhật ép vua Thuần Tông ký kết Nhật–Triều Tịnh Hợp điều ước (Điều ước Sáp nhập hay "Hiệp ước quốc sỉ" - theo cách gọi của các thế hệ người Hàn Quốc sau này), trực tiếp kiểm soát bán đảo trong vòng 35 năm từ 1910-1945, giai đoạn này được gọi là Triều Tiên thuộc Nhật.

Thời kỳ hiện đại

Thành lập Dân Quốc

Bản đồ sơ lược cuộc chiến
Thay đổi lãnh thổ trong suốt cuộc chiến
Vĩ tuyến 38° Bắc và Đường Phân chia ranh giới Quân sự liên Triều
Lễ kỷ niệm 60 năm Chiến tranh Triều Tiên (2010)

Thời kỳ Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên từ năm 1910 đến 1945 chấm dứt sau khi Đế quốc này bại trận trong chiến tranh Thái Bình Dương vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai và đầu hàng, bán đảo được quân đội Đồng Minh giải phóng và theo thoả thuận của Hội nghị Yalta, Triều Tiên bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự bởi Liên Xô cùng Hoa Kỳ, Liên bang Xô viết chiếm đóng miền Bắc cho đến vĩ tuyến 38 trong khi Hoa Kỳ chiếm đóng từ vĩ tuyến 38 về phía Nam, hai siêu cường sau đó đã không thể đạt được đồng thuận về việc áp dụng Đồng uỷ trị ở Triều Tiên.

Tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc đề ra giải pháp nhằm tiến hành tổng tuyển cử tại Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, các chính phủ lâm thời tại hai miền đã khước từ việc này, Liên Hợp Quốc sau đó tiếp tục đưa ra một giải pháp khác kêu gọi bầu cử ngay tại địa phương nhưng những hoạt động bầu cử độc lập riêng rẽ đầu tiên đã được tiến hành bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1948 tại các tỉnh phía nam vĩ tuyến 38, điều này dẫn tới việc thành lập Nhà nước Đại Hàn Dân Quốc do Lý Thừa Vãn đứng đầu, sau đó đáp lại, miền Bắc cũng tiến hành tổ chức bầu cử, chính phủ và nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời; do Kim Nhật Thành lãnh đạo, mỗi bên đều tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn bộ bán đảo. Trong khi Bắc Triều Tiên chịu sự ảnh hưởng của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và được sự hậu thuẫn từ phía Liên Xô, Trung Quốc và Khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa thì ngược lại, Nam Triều Tiên được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, điều này khiến cho những mâu thuẫn chính trị - xã hội giữa hai miền vốn đã trong tình trạng căng thẳng, nay càng trở nên nghiêm trọng và gay gắt. Các mâu thuẫn và xung đột sau đó dẫn đến kết cục là Chiến tranh Triều Tiên khi Quân đội Nhân dân Triều Tiên vượt vĩ tuyến 38, cáo buộc quân đội miền Nam vượt qua trước và tổng tấn công, Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc hậu thuẫn Đại Hàn Dân Quốc còn đứng đằng sau Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là Liên Xô, Trung Quốc và Khối Xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến kéo dài tới ngày 27 tháng 7 năm 1953 và chỉ tạm dừng khi Lực lượng Liên Hợp Quốc, Quân đội Nhân dân Triều Tiên cùng Chí nguyện quân Trung Quốc ký kết Thoả thuận đình chiến tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm thuộc Khu phi quân sự Triều Tiên, vĩ tuyến 38 chia cắt bán đảo Triều Tiên vĩnh viễn từ đó đến nay. Chiến tranh Triều Tiên khiến cho hơn 3 triệu người thiệt mạng và hàng chục triệu người khác bị ảnh hưởng, rất nhiều người dân, binh lính, quân nhân bị thương tật, một số khác thì bị mất nhà cửa hoặc chia lìa vĩnh viễn những người thân trong gia đình, cuộc chiến này còn tiêu tốn của các bên số tiền lên tới hơn 30 tỷ đô la Mỹ vào thời điểm những năm 1950-53, tương đương với khoảng 325 tỷ theo thời giá ước đoán hiện nay.[51]

Sau chiến tranh, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tiếp tục theo đuổi sự nghiệp thống nhất đất nước trên cơ sở lập luận "một Triều Tiên", không công nhận chính phủ Hàn Quốc và chọn con đường thống nhất đất nước bằng "Cách mạng Xã hội chủ nghĩa". Ngược lại, phía Hàn Quốc cũng coi chính phủ của mình là chính thể có chủ quyền hợp pháp duy nhất trên toàn bộ bán đảo Triều Tiên và không công nhận chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Những quan điểm cứng nhắc, không nhân nhượng lẫn nhau khiến cho quá trình hòa giải giữa hai bên không thể thực hiện được cho đến tận thập niên 1960. Đầu thập niên 1970, quan hệ hai miền dần được cải thiện. Hai bên chính thức công nhận chính phủ của nhau. Năm 1991, hai nhà nước được mời gia nhập Liên Hợp Quốc cùng một lúc. Hàn Quốc là quốc gia đầu tư kinh tế và hoạt động chủ yếu, tích cực nhất trong chiến dịch viện trợ lương thực giúp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vượt qua nạn đói thập niên 1990 thông qua Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hợp Quốc.

Thời kỳ độc tài quân sự

Tướng Park Chung-hee (giữa) trong cuộc đảo chính 16 tháng 5
Park Chung-hee xây dựng hình ảnh thông qua sự sùng bái cá nhân

Quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc bị thấm đẫm bởi máu, xung đột và bạo lực. Lý Thừa Vãn sau khi lên nắm quyền lực đã cho thực thi một chính sách cai trị độc tài, đàn áp quyết liệt, thẳng tay đối với những người cánh tả, thậm chí còn sát hại không ít nhân vật, chính khách bất đồng chính kiến. Đồng thời, bộ máy quản lý đất nước do ông xây dựng cũng bị nạn tham nhũng đục khoét, tàn phá nặng nề, kinh tế đất nước trì trệ, phát triển chậm chạp. Chính vì thế nên sang đến năm 1960, Lý Thừa Vãn phải đối mặt với làn sóng bất bình cực lớn của người dân. Cuối cùng, ông phải rời bỏ nhiệm sở, lên máy bay chạy sang bang Honolulu (Hoa Kỳ) và sống tị nạn tại đây cho tới cuối đời. Hiện nay, dư luận và giới chuyên gia ở Hàn Quốc vẫn đánh giá về Lý Thừa Vãn rất tiêu cực.[52]

Chính phủ dân sự ngắn ngủi kế nhiệm của Tổng thống Chang Myon bị lật đổ sau cuộc đảo chính của tướng Park Chung-hee vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Năm 1963, Park Chung-hee kiểm soát chính phủ và chính thức lên nắm quyền tổng thống. Sau đó, ông ta trở thành nhà độc tài thứ 2 của Hàn Quốc.

Thông qua hoạt động của Hiệp hội kêu gọi tái thiết quốc gia, Park Chung-hee đã giải tán Quốc hội cùng các đảng phái chính trị đối lập đang hoạt động, đồng thời thẳng tay đàn áp các phong trào chống đối. Park Chung-hee ban hành loạt sắc lệnh cấm công nhân tổ chức mít tinh, biểu tình, diễu hành. Ông còn cài cắm lực lượng mật thám, nhân viên thân tín của chính phủ vào bên trong nội bộ các tổ chức công đoàn công nhân để giám sát và rồi dần dần kìm hãm phong trào đấu tranh của họ. Bên cạnh đó, về chính sách đối ngoại, quân đội Hàn Quốc được Park Chung Hee gửi sang chiến đấu cùng Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lực lượng chính tiến hành các vụ đàn áp, bắt bớ, thủ tiêu, do thám trong nước theo mệnh lệnh của Park.[52]

Trong suốt thập niên 1960, chính phủ của Park Chung-hee có xu hướng đàn áp thô bạo ngày càng gia tăng. Năm 1971, Park Chung-hee đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia "dựa trên thực tế nguy hiểm của tình hình quốc tế". Tới tháng 10 năm 1972, ông lại khởi xướng một cuộc đảo chính để tự giải thể quốc hội và đình chỉ hiến pháp, dọn đường để bản thân lên nắm quyền lực thông qua bản Hiến pháp Duy Tân vào tháng 11 và sau đó là một cuộc trưng cầu dân ý bị đánh giá, chỉ trích là gian lận nặng nề, theo đó, hiến pháp mới chính thức chấm dứt bầu cử dân chủ trực tiếp và suy tôn Park Chung-hee làm Tổng thống trọn đời. Park bị chỉ trích là một nhà độc tài quân sự tàn nhẫn, thế nhưng đổi lại, nền kinh tế Hàn Quốc đã được cải thiện rất đáng kể dưới nhiệm kỳ của Park. Chính phủ của ông đã phát triển một hệ thống đường cao tốc trên toàn quốc, hệ thống tàu điện ngầm Seoul và đặt nền tảng to lớn, vững chắc cho sự chuyển biến thần kỳ, mạnh mẽ của đất nước Hàn Quốc trong những thập niên sau đó.

Ngày 16 tháng 10 năm 1979, tại trường Đại học Busan, một nhóm sinh viên đã xuống đường kêu gọi chấm dứt chế độ độc tài. Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan rộng, buổi tối hôm đó đã có tới hơn 50.000 người tụ tập ở phía trước của hội trường thành phố Pusan. Trong hai ngày tiếp theo, một số văn phòng công cộng đã bị tấn công và khoảng 400 người biểu tình đã bị bắt giữ. Vào ngày 18 tháng 10, chính phủ Park Chung Hee tuyên bố thiết quân luật tại Pusan. Thế nhưng các cuộc biểu tình đã lan tới thành phố Masan, đặc biệt là ở Trường Đại học Tổng hợp Kyungnam. Bạo lực leo thang với các cuộc tấn công vào các đồn cảnh sát và trụ sở các cơ quan của đảng cầm quyền trong thành phố. Khủng hoảng xã hội đã khiến nội bộ lực lượng cầm quyền bị rạn nứt. Ngày 26 tháng 10 năm 1979, Park Chung-hee bị bắn chết bởi Kim Jae-gyu, đương kim Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (NIS) và nhóm của mình. Ngay sau đó, Kim Jae-gyu cùng đồng phạm bị tử hình bằng hình thức treo cổ, nhưng cho đến tận ngày nay, một Uỷ ban đặc biệt của chính phủ vẫn đang phải phải tiếp tục thảo luận về việc có nên coi Kim Jae-gyu là người góp công cho quá trình dân chủ hoá của Hàn Quốc hay không.

Thời đại Park Chung-hee kết thúc trong bạo lực và bất ổn xã hội. Một chính phủ tạm thời được thành lập, đất nước bị đặt trong tình trạng thiết quân luật. Bản thân Park Chung-hee chết do bị ám sát bởi một quan chức thân tín phản bội. Sự nghiệp chính trị của ông cũng bị hoen ố vì độc tài và ngày nay, nhiều người Hàn Quốc căm ghét Park Chung Hee dù ông có công rất lớn trong việc xây dựng và tái thiết lại đất nước. Khi Roh Moo-hyun lên làm Tổng thống vào năm 2003, chính phủ vẫn phải tiếp tục ban hành các đạo luật mới và thành lập các uỷ ban điều tra về tình trạng bạo lực dưới thời Park Chung-hee. Tuy vậy, trong một cuộc khảo sát của Viện nghiên cứu và phân tích thông tin Gallup vào năm 2015 tại Hàn Quốc, Park Chung-hee đã được bình chọn là Tổng thống vĩ đại nhất trong lịch sử nước này (với tỷ lệ bình chọn là 44%).[53]

Tổng thống Chun Doo-hwan (phải) năm 1983
Nghĩa trang Mangwol ở Gwangju - nơi thi thể các nạn nhân của vụ thảm sát Gwangju được chôn cất.

Năm 1980, tướng Chun Doo-hwan được một hội đồng quân sự bầu lên làm tổng thống. Ngày 18 tháng 5 năm 1980, tại thành phố Gwangju - thủ phủ của tỉnh Jeolla Nam khi đó - đã xảy ra Phong trào dân chủ Gwangju - khi người dân địa phương tổ chức đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp tàn bạo một cuộc biểu tình ôn hòa đòi cải cách nền dân chủ cũng như đòi quyền tự do bầu cử của sinh viên địa phương.[54][55] Quân đội Hàn Quốc với cả vũ khí sát thương hạng nặng như vòi rồng, xe tăng, xe bọc thép,... đã được điều động đến. 4 giờ sáng ngày 27 tháng 5 năm 1980, quân đội từ 5 hướng tiến vào trung tâm thành phố và đánh bại hoàn toàn lực lượng dân quân chỉ trong vòng 90 phút. Trong sự kiện này, quân đội Hàn Quốc được cho là đã nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân.[56][57]

Sau khi đàn áp hoàn toàn cuộc nổi dậy của người dân trong cuộc Thảm sát Gwangju, Chun Doo-hwan trở thành nhà độc tài thứ 3 trong lịch sử chính trị Hàn Quốc. Cũng giống như người tiền nhiệm Park Chung-hee, Chun bắt đầu tiến hành kiểm soát đất nước một cách chặt chẽ hơn, ông ta loại bỏ hoàn toàn các chính trị gia đối lập khỏi chính trường và tiến hành thanh lọc xã hội theo quy mô lớn. Đồng thời, chính phủ Chun Doo-hwan thiết lập một cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt mang tên gọi "Trại giáo dục Samcheong", để tiến hành chương trình "giáo dục thanh lọc".[58] Khoảng hơn 40 nghìn người bị bắt đưa đến các cơ sở của trại Samcheong. Số liệu thống kê về sau cho thấy có 54 người đã bị giết trong quá trình giam giữ và 397 người khác chết sau đó.[58] Vào năm 1986, Chun Doo-hwan tiếp tục ra lệnh bắt giữ và tra tấn nhiều nhà hoạt động có tư tưởng trái với khuynh hướng của giới cầm quyền, đồng thời nghiêm cấm triệt để các tổ chức công đoàn hoạt động, rất nhiều tổ chức chính trị theo đuổi dân chủ tự do bị đàn áp khốc liệt như Liên minh Dân chủ Thống nhất hay Phong trào Nhân dân.

Vào tháng 1 năm 1987, một vụ tra tấn dã man của đã dẫn tới cái chết của Park Jong-cheol, sinh viên trường Đại học Quốc gia Seoul. Đầu năm 1987, người dân Hàn Quốc lại bắt đầu nổi dậy sau cái chết của sinh viên họ Park. Họ tổ chức hàng loạt các cuộc bạo động lớn để phản đối chính sách bắt bớ, thủ tiêu, tra tấn tàn bạo của chế độ Chun Doo-hwan và đồng thời tiếp tục yêu cầu tiến hành sửa đổi Hiến pháp. Đây cũng chính là sự khởi đầu cho "Cuộc Nổi dậy Dân chủ Tháng Sáu" - hơn 1,4 triệu người đã tham gia cuộc "Tuần hành Hòa bình Vĩ đại của Nhân dân" được tổ chức tại 34 thành phố và 4 tỉnh, họ hô to khẩu hiệu "Bãi bỏ hiến pháp xấu xa""Xóa bỏ chế độ độc tài". Dưới áp lực ấy, chính quyền Chun Doo-hwan đã buộc phải sửa đổi Hiến pháp, ban hành bản Hiến pháp mới vào ngày 29 tháng 10 năm 1987. Mặc cho các tội ác của mình, Chun Doo-hwan vẫn nắm giữ vị trí cao nhất trong bộ máy quyền lực ở Hàn Quốc cho tới năm 1988 và mãi đến tận năm 1996 mới bị chính phủ kết tội tham nhũng, hối lộ, ra lệnh thảm sát dân thường và bị kết án tử hình nhưng sau đó được giảm xuống còn chung thân và cuối cùng, ông ta nhanh chóng được Tổng thống Kim Young-sam ân xá vào ngày 22 tháng 12 năm 1997.

Chính phủ dân sự

Tổng thống Kim Dae-jung - người thúc đẩy dân chủ, nhân quyền ở Hàn Quốc và các chính sách hòa giải với Bắc Triều Tiên, ông đôi khi được gọi là Nelson Mandela của châu Á.
Park Geun-hye - nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc.

Các cuộc nổi dậy trong thập niên 1980 đã để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào năm 1992 với đường lối cầm quyền cùng chính sách đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Trước đó, vào năm 1987, Hiến pháp Hàn Quốc đã được sửa đổi, theo đó, người dân lại được quyền trực tiếp bầu ra Tổng thống. Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ của quốc gia này. Thủ đô Seoul được chọn làm nơi tổ chức Thế vận hội Olympic năm 1988, một kỳ Thế vận hội vô cùng thành công và đã thúc đẩy đáng kể vị thế quốc tế của Hàn Quốc.[59] Hàn Quốc chính thức được mời trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc vào năm 1991.

Tuy đạt được nhiều tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa, chính trường Hàn Quốc vẫn chưa bao giờ hết khốc liệt hay có dấu hiệu hạ nhiệt, các đời tổng thống tiếp theo là tướng Roh Tae-woo (1987) Kim Young-sam (1992) và Kim Dae-jung (1998) đều để lại nhiều dấu ấn với cả tích cực lẫn tiêu cực. Trong đó, vị tổng thống thứ sáu - Roh Tae-woo bị kết án tù vì các tội danh liên quan đến hối lộ, tham nhũng. Tuy vậy, sang đến năm 2000, Tổng thống Kim Dae-jung gây tiếng vang lớn khi được trao giải Nobel Hoà Bình vì những nỗ lực của ông trong việc bình thường hoá quan hệ với CHDCND Triều Tiên[60]. Vào tháng 6 năm 2000, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của CHDCND Triều Tiên, hội nghị là thành quả tích cực sau nhiều năm Hàn Quốc thực thi Chính sách Ánh dương với CHDCND Triều Tiên do tổng thống Kim Dae-jung đề xướng. Năm 2003, học trò của ông, Roh Moo-hyun kế nhiệm. Thế nhưng sau đó, đến lượt Roh cũng phải đối mặt với lời buộc tội tham nhũng, ông tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 2009 trong khi các cuộc điều tra vẫn đang tiếp diễn, do vậy, nhiều người nghi ngờ rằng vụ tự sát của ông là do sức ép đến từ các thế lực khác.

Sau đó là ông Lee Myung-bak làm tổng thống trong giai đoạn 2008-2013. Năm 2018, ông Lee bị bắt giam do bị tòa án cáo buộc ít nhất 12 tội danh, trong đó có việc nhận hối lộ 11 tỷ Won (tương đương 10,2 triệu USD) của Cơ quan Tình báo Quốc gia (NIS) và các doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, còn là những cáo buộc về tội danh trốn thuế và chiếm đoạt 35 tỷ Won từ một công ty mà ông Lee bí mật sở hữu. Vào tháng 3 năm 2019, ông Lee được cho phép tại ngoại vì những lo ngại liên quan đến vấn đề sức khỏe, tuy nhiên, vào ngày 19 tháng 2 năm 2020, tòa án quận trung tâm Seoul đã chính thức ra bản án tuyên phạt ông Lee Myung-bak 17 năm tù giam cùng phạt tiền tổng cộng 13 tỷ Won (tương đương khoảng 11 triệu USD).[61]

Tiếp đến là Park Geun-hye (con gái của cố Tổng thống Park Chung-hee), bà là nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại và đồng thời cũng là vị nữ tổng thống dân cử đầu tiên tại châu Á. Tuy nhiên, tới đầu năm 2017, đến lượt Park Geun-hye cũng bị Quốc hội nước này phế truất và bắt giam với các cáo buộc tiết lộ bí mật quốc gia, nhận hối lộ, để người không có bất kỳ chức vụ, thẩm quyền gì là bà Choi Soon-sil (bạn thân) can thiệp bất hợp pháp vào các tài liệu mật cũng như công việc nội bộ của chính phủ, lạm quyền và tham nhũng.

Như vậy, tính cho đến năm 2018, trong số 11 đời Tổng thống Hàn Quốc (không tính các quyền Tổng thống chỉ tạm thời đảm nhiệm chức vụ trong mấy tháng do khủng hoảng chính trị), đã có 1 người bị ám sát, 1 người tự sát do bị điều tra, 1 người bị đảo chính và phải chạy ra nước ngoài tị nạn, 4 người khác bị bắt giam do các tội danh liên quan đến tham nhũng, nhận hối lộ.[62] Những vụ bê bối liên quan đến giới chính trị gia hay lãnh đạo các doanh nghiệp kinh tế lớn luôn là một vấn nạn gây ám ảnh, nhức nhối tại quốc gia này[63] bên cạnh sự gia tăng của các loại tội phạm tình dục.[64]

Tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên là một chủ đề chính trị đang được bàn luận sôi nổi, rộng rãi ở Hàn Quốc hiện nay, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một hiệp định hoà bình nào được ký kết. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện vẫn không cho phép người dân được tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc có các hành động diễn thuyết, tuyên truyền, phát biểu ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài[65] hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc, tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không có sự cho phép của chính phủ có thể bị phạt tối đa lên tới 10 năm tù giam[66][67][68]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc dỡ bỏ luật này, nhưng hiện tại điều đó vẫn chưa được thực thi. Tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in cũng hy vọng hai miền sẽ tái thống nhất trong hòa bình - sớm nhất là vào năm 2045.[69]

Khôi phục và phát triển kinh tế

Chính sách độc tài khắc khổ

Tăng trưởng GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên trong giai đoạn từ 1950-2016.

Sau chiến tranh Triều Tiên, vào giai đoạn trước khi tướng Park Chung-hee lên nắm quyền vào năm 1961, kinh tế Hàn Quốc khá nghèo nàn với thu nhập bình quân đầu người ít hơn 100 USD mỗi năm. Hàn Quốc thời điểm đó bị xếp hạng là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Ở giai đoạn này, kinh tế Hàn Quốc cơ bản phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ. Khi đó, viện trợ từ chính phủ Mỹ chiếm phần lớn trong tổng ngân sách chính phủ cũng như tổng sản lượng quốc gia (GNP) của Hàn Quốc. Mặc dù cho một số khu vực của đất nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật Bản nhưng nhìn chung vào đầu thập niên 60, Hàn Quốc vẫn là một nước thuần nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển hơn so với CHDCND Triều Tiên - vốn không những rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên[70] mà còn được Liên Xô, Trung Quốc cùng khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa viện trợ, giúp đỡ.

Để xóa bỏ đói nghèo và tái tạo động lực phát triển kinh tế, Park Chung-hee đã thành lập Hội đồng Tối cao phụ trách Tái thiết Quốc gia, mang "kỷ luật quân đội" và chính sách cải cách kinh tế - xã hội kiểu "độc tài" - áp dụng trên toàn quốc. Một trong những mục tiêu, tham vọng chính của tướng Park là chấm dứt tình trạng lạc hậu, nghèo đói ở Hàn Quốc và biến đất nước này từ một nền kinh tế thuộc 'Thế giới thứ tư' trở thành một cường quốc kinh tế hàng đầu của thế giới, ông phát biểu cũng như đặt câu hỏi với các tướng lĩnh cấp dưới; rằng:[71][72]

Ngay sau khi thực hiện thành công cuộc đảo chính để lên nắm chính quyền vào tháng 7 năm 1961, tướng Park Chung-hee tuyên bố bắt đầu tiến trình "dọn rác" để thanh lọc xã hội.[73] Ông trực tiếp chỉ đạo các lực lượng cảnh sát, quân đội thực hiện hàng ngàn vụ đàn áp, bắt bớ và tiếp tục tái khẳng định quyết tâm của mình khi diễn thuyết trước hơn 20.000 sinh viên của Đại học Seoul bằng loạt câu nói nổi tiếng:

Một trong những việc đầu tiên ông làm là đem tử hình 24 quan chức và doanh nhân vì tội tham nhũng. Toàn xã hội "thắt lưng buộc bụng", trong các công ty, mọi người đều phải làm việc hết sức mình, ai làm không chăm sẽ bị phê bình, mắng nhiếc trước mặt mọi người, thậm chí, trong văn hóa, nội quy của các trường học công ty, doanh nghiệp Hàn Quốc thời bấy giờ có quy định "nếu như học sinh, nhân viên mắc lỗi, làm sai hoặc lười biếng thì giáo viên, cấp trên của họ có quyền tát bạt tai để làm gương mà người đó không được phép tỏ thái độ hay phản đối". Một số ngành do quân đội trực tiếp xây dựng và quản lý, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền trừng phạt bằng đòn roi. Những du học sinh trước khi ra nước ngoài học tập phải cam kết không ở lại nước ngoài mà phải về nước phục vụ dù muốn hay không, những ai đã học xong mà không quay về nước thì gia đình họ sẽ phải chịu những hình phạt nặng nề.

Tổng thống Park Chung-hee đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng nền kinh tế Hàn Quốc thông qua chính sách công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu.
Xưởng đóng tàu của Hyundai ở Ulsan năm 1976

Park chuyển chiến lược kinh tế của đất nước từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu sang công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu. Ông thành lập một Ủy ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) để điều hành nền kinh tế đất nước. Lấy những "Kế hoạch kinh tế 5 năm" - vốn đã từng rất thành công của Liên Xô trước đây - làm kiểu mẫu, Park đề ra "Kế hoạch 5 năm" lần đầu tiên vào năm 1962, nhiệm vụ chủ chốt của kế hoạch này là tập trung phát triển các ngành công nghiệp nhẹ nhằm mục đích xuất khẩu. Ông tuyên bố thành phố Ulsan sẽ là một "khu vực phát triển công nghiệp đặc biệt" của đất nước. Ngay sau đó, Hyundai - một trong những tài phiệt lớn đầu tiên của Hàn Quốc đã nhanh chân tận dụng vị thế đặc biệt của Ulsan để biến thành phố này thành nơi đặt các nhà máy chính của mình.

Hầu hết các nhà sử học đều coi 'Kế hoạch 5 năm đầu tiên' là điểm cất cánh của nền kinh tế Hàn Quốc. Từ năm 1962 đến năm 1966, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc đạt tới 7,6%. Sản lượng công nghiệp xuất khẩu tăng trên 30% mỗi năm, sản lượng sản xuất tăng trên 15% mỗi năm. Các chính sách phát triển kinh tế của Park được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và mong muốn giành quyền tự chủ cho đất nước do đó; ông chủ trương tự lực, không để cho nền kinh tế Hàn Quốc bị phụ thuộc và chi phối bởi nước ngoài. Ban đầu, ông ra sức hạn chế đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hàn Quốc. Tuy nhiên, theo lời khuyên từ giới chuyên môn, ông bắt đầu dần nới lỏng những hạn chế này, mặc dù vậy, các công ty nước ngoài khi đó muốn đầu tư vào thị trường Hàn Quốc thì bắt buộc phải tiến hành chuyển giao công nghệ ở một mức độ nhất định cho các doanh nghiệp trong nước. Năm 1966, 'Đạo luật kích thích vốn đầu tư nước ngoài' được chính phủ Park thông qua đã cung cấp thêm những ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài và hợp lý hóa quy trình đầu tư vào Hàn Quốc. Kế hoạch năm năm lần thứ hai (1967-1971) tiếp tục nhấn mạnh hơn vào việc thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khuyến khích chuyển giao công nghệ và cải thiện cơ sở hạ tầng trong nước.[74] Từ năm 1973, kinh tế Hàn Quốc đặt trọng tâm chủ yếu vào 6 ngành là thép, hóa chất, luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu và điện tử. Giai đoạn phát triển công nghiệp này tập trung tại các thành phố nhỏ nằm ở phía đông nam đất nước.[75]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Park Chung-hee là dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, tiêu dùng hết sức tiết kiệm. Để người lao động có thể sống với mức lương rất thấp, chính quyền đã áp dụng biện pháp bảo hộ, giữ giá những sản phẩm nông nghiệp cũng luôn ở mức rất thấp. Cuối thập niên 70, nền công nghiệp Hàn Quốc đã sản xuất được máy thu hình màu nhưng chỉ để xuất khẩu còn trong nước vẫn dùng TV trắng đen. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, quần áo thời trang cho đến xe hơi cao cấp,... đều bị hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa để nguồn vốn quý giá không bị chảy ra nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của Hàn Quốc cũng phải trả giá bằng sự hy sinh rất lớn của tầng lớp lao động. Quyền của người lao động bị hạn chế tối đa vì từ năm 1962, chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng triệt để, không có ngoại lệ, từ Tổng thống, quan chức đến dân chúng. Người dân, người lao động Hàn Quốc thời kỳ đó phải làm việc nặng nhọc triền miên và cật lực nhưng đời sống rất kham khổ. Hàng tuần mỗi người dân đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền. Thời gian lao động kéo dài từ 12-14 thậm chí 16 tiếng mỗi ngày với điều kiện lao động kém cùng tiền lương rất thấp. Những phản kháng do tự phát hay có tổ chức của công nhân, nông dân hoặc dân nghèo thành thị đòi hỏi cải thiện điều kiện sống đều bị chính quyền Park Chung Hee thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Michael Schuman, một nhà báo nổi tiếng chuyên về lĩnh vực kinh tế học của thời báo Time (Mỹ) nhận định:[76]

Tham chiến tại Nam Việt Nam

Lục quân Hàn Quốc đang chiến đấu cùng Hoa Kỳ

Mặt khác, theo yêu cầu hỗ trợ của Hoa Kỳ và từ chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, Park Chung-hee đã gửi hơn 325.000 quân nhân sang tham chiến cùng với quân đội Mỹ, Việt Nam Cộng hòaKhối đồng minh chống cộng (Úc, New Zealand, Thái Lan, Philippines,...) trong chiến tranh Việt Nam - vừa để nhằm mục đích "nâng cao vị thế quốc gia", hỗ trợ đồng minh Hoa Kỳ trong việc hoàn thành kế hoạch tham vọng chống lại sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn cầu theo Học thuyết Domino cũng như đổi lấy những khoản viện trợ từ phía chính phủ nước này.[77] Đây là lực lượng quân sự nước ngoài có quy mô lớn thứ hai trong cuộc chiến chỉ sau Hoa Kỳ[78], số lượng binh sĩ Hàn Quốc tham chiến đạt mức cao nhất trong năm 1968 với khoảng trên 50.000 người[79]. Ước tính sau 9 năm chiến đấu ở Nam Việt Nam (1964–1973): có khoảng từ 4.407[80][81] - 5.099 lính tử trận, 10.962 người khác bị thương và 4 mất tích trong suốt cuộc chiến.[80][82] Đội quân này gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ đàn áp, thảm sát thường dân, xóa sổ nhiều làng mạc Nam Việt Nam bị nghi ngờ là du kích, hỗ trợ cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi tham chiến đồng thời bỏ lại hàng ngàn đứa con lai khi rời đi. Sau này, phía Hàn Quốc thống kê rằng quân đội của họ đã làm tổng cộng khoảng 41.000 người Việt Nam bị coi là Việt Cộng thiệt mạng.[80]

Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho binh lính Hàn Quốc. Tổng cộng Mỹ đã viện trợ hoặc cho Hàn Quốc vay ưu đãi khoảng 10 tỷ USD (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2017) từ năm 1946-1978. Trong đó nhiều nhất là giai đoạn 1965-1972: trong 7 năm này, Hàn Quốc nhận được 5 tỷ USD (tương đương 35 tỷ USD theo thời giá 2017) - nhiều gấp 3 lần giai đoạn trước. Trong 2 năm đầu (1965-1966), thu nhập từ cuộc chiến chiếm khoảng 40% ngoại hối của Hàn Quốc. Một số học giả tính toán rằng khoản thu này chiếm từ 7-8% GDP Hàn Quốc trong những năm 1966-1969.[83] Số tiền được chính phủ Mỹ chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức "bán công khai" như trợ cấp phát triển quốc phòng, hợp đồng dân sự, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các đời Tổng thống JohnsonNixon.[84]

Cùng với quân đội sang Nam Việt Nam, các công ty công nghiệp lớn của Hàn Quốc; như Hyundai, đã tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm khi tham gia vào việc hoàn thành các dự án xây dựng, hậu cần, giao thông vận tải lớn tại đây, giúp tập đoàn này giành được những hợp đồng giá trị hơn ở Trung Đông cùng nhiều nơi khác trên khắp thế giới sau này.[80]

Nhờ viện trợ và tiền lương của Mỹ trả cho binh lính Hàn Quốc, kinh tế nước này phát triển nhanh chóng. Trong vòng 10 năm từ 1964-1974, GNP bình quân tăng hơn 5 lần (từ 103 lên 541 USD).[80] Nhưng đổi lại, rất nhiều máu đã đổ khi Hàn Quốc tham chiến ở Nam Việt Nam và nhiều ý kiến cho rằng những tổn thất sinh mạng đó góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế sau này.[80] Trong bài phát biểu nhân "Ngày tưởng niệm" (6/6/2017), Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã tái khẳng định:[85]

Hỗ trợ từ Nhật Bản và Hoa Kỳ

Nhật Bản và Hoa Kỳ cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc. Tổng thống Park Chung-hee quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào năm 1965 - một động thái gặp phải sự phản đối gay gắt của nhiều người dân Hàn Quốc. Lao động giá rẻ ở trong nước kết hợp với vốn và công nghệ của Nhật Bản đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao, Nhật Bản trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai của Hàn Quốc chỉ sau Hoa Kỳ. Trong vòng 10 năm sau đó, thương mại giữa hai nước đã được mở rộng hơn 10 lần, từ năm 1962 đến 1979, khoảng 60% công nghệ từ nước ngoài của Hàn Quốc là do Nhật Bản cung cấp.[86]

Thị trường Hoa Kỳ cùng với các khoản đầu tư và chuyển giao công nghệ của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển biến thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc. Kinh tế Nhật Bản cũng là một mô hình rất tốt để Hàn Quốc noi theo trong công cuộc định hình, phát triển nền kinh tế quốc gia. Trong thời kỳ thuộc địa và kể cả sau khi giành được độc lập, người Hàn Quốc đã học hỏi được rất nhiều điều từ người Nhật về những gì mà một quốc gia không thuộc phương Tây có thể làm để công nghiệp hóa cũng như hiện đại hóa thành công. Một nhà kinh tế học người Hàn Quốc từng mô tả chính sách của cộng đồng doanh nghiệp nước này vào thời kỳ đó là: "Làm hệt như những gì người Nhật đã từng làm, nhưng cố gắng tìm cách làm sao để đạt được điều đó một cách nhanh hơn, hiệu quả và ít tốn kém hơn".[87]

Cải cách văn hóa - xã hội

Park Chung-hee cho rằng, Hàn Quốc trước tiên cần phải phát triển kinh tế vững mạnh rồi sau đó mới có thể có được dân chủ:

Bằng lý lẽ này, Park Chung-hee sử dụng hệ thống cảnh sát mật để theo dõi và dẹp tan mọi hành vi chống lại ông. Tất cả mọi cá nhân có phát ngôn hoặc hành động chống lại chính phủ, mọi cuộc biểu tình đòi tăng lương đều bị đáp lại bằng sự trừng phạt, bắt bớ, trấn áp thẳng tay. Park Chung-hee sử dụng luật an ninh chống cộng để bỏ tù và tra tấn bất cứ ai bất đồng chính kiến. Các cuộc biểu tình, hệ thống báo chí và phát ngôn nói chung đều bị kiểm duyệt hà khắc. Các sĩ quan cảnh sát mang thước và chặn thanh niên trên phố để đo tóc và váy của họ. Chính quyền sẽ can thiệp rất thô bạo nếu thanh niên để tóc dài, phụ nữ mặc váy ngắn. Gián điệp, chỉ điểm có mặt khắp mọi nơi, giám sát đến cả trường học. Những người bất đồng chính kiến khó thoát khỏi bị bắt và kết cục là cuộc sống mòn mỏi ở trong tù. Ở Hàn Quốc thời điểm này, nếu một người bị quy là người cộng sản, người đó sẽ mất hết mọi quyền tồn tại trong xã hội. Quy kết và phê phán nhằm vào một chính sách nào đó của chính phủ, chính khách đối lập là mang tư tưởng "Cộng sản chủ nghĩa" là phương cách được chính quyền Park ưa thích và tận dụng rất hiệu quả. Khi một nhà hoạt động xã hội bị bắt, người đó sẽ bị tra tấn dã man để phải thú nhận mình là người cộng sản[88]. Cho đến nay, không một chính trị gia Hàn Quốc nào có thể tạo được một sự uy quyền bao trùm tuyệt đối lên đất nước cũng như khiến cả một thế hệ người dân Hàn Quốc sợ hãi như Park Chung-hee.

Chế độ độc tài quân sự của Park Chung-hee mang tính chất chuyên chế độc đoán, phản dân chủ mạnh mẽ, nhưng cũng không thể phủ nhận những mặt tích cực của chế độ chính trị này đối với việc định hướng diện mạo nền kinh tế và xã hội Hàn Quốc ngày nay. Bên cạnh các biện pháp chính trị, Park Chung-hee sử dụng các yếu tố văn hóa Nho giáo để thúc đẩy phát triển đất nước. Vào đầu những năm 1970, Park Chung-hee dự định dẹp bỏ tất cả những gì gọi là truyền thống để nhanh chóng đạt được hiện đại hóa. Phong trào xây dựng nông thôn mới (Saemaul Undong) đã đập phá nhiều di sản văn hóa, những truyền thống đều bị coi là "cổ hủ", "lạc hậu" và "lỗi thời", cần phải gạt bỏ nhanh chóng để tiến lên hiện đại hóa:[89]

Nhưng về tư tưởng, Park Chung-hee nhận thấy rằng ông không thể đưa ra một học thuyết chính trị mới nào đủ hoàn thiện để có thể hoán đổi, thay thế được vị trí của Nho giáo trong xã hội Hàn Quốc mà nhận ra rằng, không thể không duy trì những yếu tố tích cực của tôn giáo này, trong đó, Trung (trung thành) và Hiếu (hiếu thảo) là hai giá trị tồn tại xuyên suốt qua nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc. Cũng trong thời gian này, xã hội Hàn Quốc xảy ra nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng giữa các học giả về tính hữu dụng của những yếu tố tích cực trong Nho giáo truyền thống. Cuối cùng, kết quả là Park Chung-hee đã đi đến quyết định: "Giá trị quan của Nho giáo về 'Trung' và 'Hiếu' là những nền tảng không thể tách rời của xã hội", chính sách giáo dục đề cao đạo Khổng được ông ra chỉ thị tiếp tục giảng dạy trong nhà trường cũng như truyền bá sâu rộng trong đời sống nhân dân.[90]

Thành quả

Olympic Seoul 1988
Tăng trưởng GDP (PPP) của Hàn Quốc từ năm 1911-2008.
Hyundai Pony - mẫu xe hơi "Made in Korea" đầu tiên được sản xuất hàng loạt và xuất khẩu.[91]

Sự tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này đã cải thiện đáng kể mức sống cho người dân Hàn Quốc. Cuối năm 1965, khoảng 58,7% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống còn 50,4% vào năm 1970 và 38,4% vào năm 1978. Công nghiệp hóa dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng dân số đô thị của Hàn Quốc, tăng từ 28,3% tổng số năm 1960 lên 54,9% vào năm 1979. Năm 1960, khoảng một phần ba trẻ em từ 12 đến 14 tuổi theo học tại các trường trung học; tỷ lệ đó tăng lên 53,3% vào năm 1970 và 74,0% vào năm 1975. Năm 1960, chỉ có khoảng 19,9% dân số từ 15 đến 17 tuổi đi học; tỷ lệ đó tăng lên 29,3% vào năm 1970 và 40,5% vào năm 1975[92]. Năm 1970, quá trình xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã được hoàn thành, liên kết thủ đô Seoul với các khu vực phía đông nam cũng như các thành phố cảng lớn ở phía nam đất nước[93]. Vào năm 1969, cả nước chỉ có 200.000 máy truyền hình thì đến năm 1979 đã có khoảng 6 triệu máy[94]. Nếu như vào năm 1969, chỉ có 6% hộ gia đình ở Hàn Quốc sở hữu một chiếc TV thì đến năm 1979, tỷ lệ này đã là 4/5.[94]

Nhờ những biện pháp cứng rắn về chính trị, khắc khổ về kinh tế cũng như sử dụng yếu tố văn hóa, từ thập niên 1960 trở đi, kinh tế Hàn Quốc phát triển với tốc độ nhanh chóng.[95] Tuy nhiên, vào ngày 26 tháng 10 năm 1979, tổng thống Park Chung-hee bất ngờ bị ám sát, sự tăng trưởng đều đặn của đất nước cũng đột ngột dừng lại, kéo theo đó là một thời kỳ hỗn loạn liên tiếp về chính trị cộng với sự tăng vọt của giá dầu mỏ cùng vụ mùa thu hoạch lúa gạo thất bát và tỷ lệ lạm phát lên tới 44% năm 1979 đã khiến cho nền kinh tế Hàn Quốc phải chịu mức suy thoái chạm mức 6% trong năm 1980. Nhưng sau đó, nền kinh tế đã nhanh chóng được phục hồi và quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng. Thập niên 1980 tiếp tục chứng kiến tốc độ tăng trưởng GDP cao - đạt đỉnh điểm vào những năm 1986-1988 ở mức 12% mỗi năm khiến cho kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất trên thế giới tại thời điểm đó[96], Hàn Quốc sau đó được xếp vào nhóm những nước công nghiệp mới của thế giới. Trong những năm kế tiếp, tuy có chậm lại nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục gia tăng đều đặn cho đến năm 1997 với tốc độ trung bình là 10% mỗi năm[96]. Thời kỳ cải cách thành công và bùng nổ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc được gọi là Kỳ tích trên dòng sông Hán.

Sự hình thành Chaebol

Trụ sở chính của Samsung - Chaebol lớn mạnh nhất Hàn Quốc
Tổng thống Park Geun-hye cùng các chủ tịch Samsung Lee Kun-hee và Hyundai Chung Mong-koo.

Trong bối cảnh chính trị như vậy, nền kinh tế Hàn Quốc cũng phát triển theo mô hình "Độc tài". Các Chaebol - tức Tài phiệt, là thuật ngữ dùng để chỉ các đại tập đoàn gia đình lớn. Thông thường, tài phiệt là các tập đoàn đa quốc gia với thành viên bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp quốc tế nhưng đều nằm dưới sự điều khiển của một ông chủ duy nhất nắm quyền điều hành trên tất cả các cơ sở này.[97][98] Hiện nay, ở Hàn Quốc có đến hàng chục nhóm tài phiệt như vậy, hầu hết nằm dưới sự điều khiển tuyệt đối của một vài gia tộc. Đến năm 2008, khoảng 80% GDP của Hàn Quốc có nguồn gốc từ các tài phiệt, chỉ riêng Samsung đã chiếm tới 1/5 giá trị xuất khẩu của nước này. Các lãnh đạo tài phiệt đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối nền chính trị Hàn Quốc. Ví dụ, vào năm 1988, chủ tịch của tập đoàn Hyundai khi ấy là ông Chung Mong-joon đã trúng cử vào Quốc hội Hàn Quốc, một số lãnh đạo tài phiệt khác cũng trúng cử đại biểu quốc hội thông qua cơ chế đại biểu tỷ lệ.

Các tài phiệt chỉ nắm giữ một phần nhỏ cổ phần nhưng lại có rất nhiều quyền lực và có khả năng kiểm soát tất cả các công ty con. Ví dụ: Samsung chỉ sở hữu 0,5% tài sản của các hãng thuộc quyền, nhưng thực tế thì một tổ chức mẹ có quyền chi phối mọi mặt tất cả các công ty con này. Điều này cho thấy mức độ tuân thủ pháp luật ở các tài phiệt Hàn Quốc là rất thấp.[98] Các tài phiệt duy trì quyền lực của mình thông qua việc sở hữu chéo (cross-holding).[99] Các tài phiệt lũng đoạn nền kinh tế Hàn Quốc, trở nên quá lớn để có thể bị khống chế hay sụp đổ (too big to fall), một số công ty như Hyundai, SK thậm chí còn có dính líu đến những vụ bê bối liên quan tới các tổng thống Kim Dae-jung và Roh Moo-hyun.[100]

Từ năm 1998 đến 2007, Hàn Quốc đã có những tiến bộ trong quá trình dân chủ hoá, song đôi khi vẫn trượt theo hướng độc tài, nhiều tổ chức phi chính phủ giả hiệu hoạt động theo mệnh lệnh của chính quyền, nhiều tổ chức cánh hữu hiện "vẫn tìm cách bảo vệ những quyền ưu tiên mà họ có được từ thời kỳ độc tài". Ở Hàn Quốc, quá trình dân chủ hoá diễn ra trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng nhưng không thúc đẩy phát triển dân chủ mà vẫn mang nặng tính bóc lột khiến cho người dân Hàn Quốc hiện nay phải gánh chịu rất nhiều áp lực trong cuộc sống.[101]

Địa lý

Khái quát

Hàn Quốc nhìn từ vệ tinh

Lãnh thổ Hàn Quốc được sắp xếp thành 17 đơn vị hành chính, bao gồm cả thực thể địa lý tranh chấp như nhóm đảo Liancourt (Dokdo) (với Nhật Bản và Bắc Triều Tiên) và các bãi đá ngầm Socotra, Gageo (với Trung Quốc) mà nước này tuyên bố chủ quyền và hiện đang duy trì quyền tài phán cùng sự kiểm soát trên thực tế.

Vì Hàn Quốc nằm ở phần phía nam của Bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Á, vậy nên quốc gia này cũng được coi là 1 bán đảo. Nước này có đường biên giới trên bộ duy nhất với CHDCND Triều Tiên, nằm ở phía bắc với đường biên giới dài 238 km dọc theo Khu phi quân sự Triều Tiên. Hàn Quốc chủ yếu được bao bọc bởi biển, với 8.460 km đường bờ biển trải dài cả ba mặt tây, nam và đông. Phía tây là Hoàng Hải, phía nam là biển Hoa Đông, và phía đông là đảo Ulleungdo và đảo Liancourt trên biển Nhật Bản (biển này còn được gọi là 'biển Đông' theo cách gọi của người Hàn Quốc). Lãnh thổ Hàn Quốc trải dài từ vĩ độ 33° đến 38° Bắc và kinh độ từ 124° đến 130° Đông. Tổng diện tích tính riêng phần đất liền (chưa tính các hòn đảo) của Hàn Quốc là khoảng 100.032 km² (38.623 sq mi)[102]. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích nằm ở phía đông còn lại là vùng đồng bằng duyên hải ở phía tây và nam. Bãi bồi ven biển Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai trên thế giới và bức tường chắn sóng biển bao quanh Saemangeum là bờ đê nhân tạo dài nhất thế giới.[103]

Địa hình

Bản đồ mô phỏng địa hình Hàn Quốc
Tâm chấn các trận động đất ở Hàn Quốc (từ M2.0 trở lên).

Không giống như Nhật Bản hay các tỉnh phía bắc Trung Quốc, địa chất của bán đảo Triều Tiên tương đối ổn định. Không có núi lửa hoạt động (ngoại trừ núi Bạch Đầu ở biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, hoạt động gần đây nhất vào năm 1903) và cũng không có các trận động đất mạnh.

Hàn Quốc ít các vùng đồng bằng rộng, các vùng đất thấp là sản phẩm của hoạt động xói mòn núi. Khoảng 30% lãnh thổ Hàn Quốc là các vùng đất thấp, phần còn lại bao gồm vùng cao và những ngọn núi. Phần lớn các vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển, đặc biệt là bờ biển phía tây và dọc theo những con sông lớn. Đồng bằng quan trọng nhất là đồng bằng sông Hán bao quanh Seoul cho tới ven biển phía tây nam của thành phố Pyeongtaek cùng lưu vực các sông Geum, Nakdong, Yeongsan và Honam ở phía tây nam. Một dải đồng bằng hẹp ven biển chạy dọc theo bờ biển phía đông đất nước.

Khoảng 3.000 hòn đảo; chủ yếu là nhỏ và không có người ở; nằm ngoài bờ biển phía tây và phía nam của Hàn Quốc. Jeju nằm cách bờ biển phía nam Hàn Quốc khoảng 100 km, đây là hòn đảo lớn nhất cả nước với diện tích 1.845 km². Jeju cũng là nơi có ngọn núi cao nhất Hàn Quốc là Hallasan - một ngọn núi lửa đã ngưng hoạt động, cao 1.950 mét so với mực nước biển. Các hòn đảo lớn khác ở phía đông của Hàn Quốc bao gồm Ulleungdo, Dokdo trong khi Marado và Socotra những hòn đảo cực nam.

Thành phố lớn nhất của Hàn Quốc là Seoul, có dân số chính thức khoảng trên 10 triệu người và nằm ở phía tây bắc, những thành phố lớn khác là Incheon ở phía tây Seoul, Daejeon ở miền trung, Gwangju ở phía tây nam, Daegu và Busan ở phía đông nam.

Hàn Quốc có 20 công viên quốc gia cùng những địa điểm thiên nhiên nổi tiếng như Cánh đồng trà Boseong, Công viên sinh thái vịnh Suncheon hay Công viên Quốc gia núi Jiri.

Khí hậu

Các kiểu khí hậu của Hàn Quốc
Tuyết rơi kỷ lục ở Hàn Quốc năm 2004

Hàn Quốc có sự xen kẽ giữa khí hậu lục địa ẩm ướt, ôn đớikhí hậu cận nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu và đông. Mùa xuân thường kéo dài từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5, mùa hè từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 9, mùa thu từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11 và mùa đông từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3. Mùa đông có thể rất lạnh với nhiệt độ thường xuyên dưới 0 °C và tối thiểu xuống dưới −20 °C (−4 °F) ở những vùng nội địa của đất nước do gió mùa mang không khí lạnh từ Siberia thổi tới. Ở Seoul, nhiệt độ trung bình tháng 1 là −7 đến 1 °C (19 đến 34 °F) và phạm vi nhiệt độ trung bình tháng 8 là 22 đến 30 °C (72 đến 86 °F). Nhiệt độ mùa đông cao hơn dọc theo bờ biển phía nam và thấp hơn đáng kể ở các vùng núi. Mùa hè có thể nóng và ẩm khá khó chịu, với nhiệt độ vượt quá 30 °C (86 °F) ở hầu hết các vùng của đất nước.

Do ở phía nam và bị biển bao bọc chung quanh, đảo Jeju có thời tiết ấm hơn và dễ chịu hơn so với các vùng khác của Hàn Quốc. Nhiệt độ trung bình trên đảo vào khoảng từ 2,5 °C (36,5 °F) trong tháng Giêng đến 25 °C (77 °F) trong tháng Bảy.

Những cơn mưa nặng hạt tập trung vào một quãng thời gian ngắn ngủi trong mùa hè. Mùa mưa ở Hàn Quốc được gọi là Jangma, bắt đầu từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7. Lượng mưa trung bình hàng năm thay đổi từ 1.370 mm (54 inch) ở Seoul đến 1.470 mm (58 inch) ở Busan. Hiếm khi nào mưa ít hơn 750 milimét (29,5 inch) trong năm, phần lớn các năm đều có lượng mưa trên 1.000 milimét 39,4 inch. Thế nên, đất nước này có đủ mưa để duy trì sản xuất nông nghiệp.

Hàn Quốc ít bị bão hơn so với Nhật Bản, Đài Loan, bờ biển phía đông của Trung Quốc, Philippines. Có khoảng từ 1-3 cơn bão mỗi năm. Bão thường đổ bộ vào Hàn Quốc vào cuối mùa hè, đặc biệt là trong tháng Tám, và mang lại những cơn mưa xối xả. Lũ lụt thỉnh thoảng gây ra thiệt hại đáng kể, như làm sạt lở đất do địa hình chủ yếu là đồi núi của đất nước.

Môi trường

Suối Cheonggyecheon
Sông Hán
Cánh đồng chè Boseong

Trong 20 năm đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế thần kỳ của Hàn Quốc, nước này có rất ít nỗ lực để bảo vệ môi trường. Công nghiệp hóa và phát triển đô thị không được kiểm soát đã dẫn đến nạn phá rừng và phá hủy các vùng đất ngập nước. Tuy nhiên, gần đây đã có những nỗ lực để khắc phục những vấn đề này, bao gồm cả một dự án năng lượng xanh năm năm do chính phủ điều hành trị giá 84 tỷ USD nhằm mục đích thúc đẩy hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.

Chiến lược kinh tế dựa trên nền tảng xanh là sự đại tu toàn diện nền kinh tế của Hàn Quốc, tốn gần 2% trong tổng GDP quốc gia. Sáng kiến ​​phủ xanh bao gồm những nỗ lực như xây dựng mạng lưới xe đạp trên toàn quốc, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và năng lượng gió, giảm các phương tiện phụ thuộc vào dầu, hỗ trợ thời gian tiết kiệm ánh sáng ban ngày và sử dụng rộng rãi các công nghệ thân thiện với môi trường như đèn LED trong điện tử và chiếu sáng.

Chương trình tiêu chuẩn danh mục tái tạo với các chứng chỉ năng lượng tái tạo có từ năm 2012 đến 2022. Các hệ thống hạn ngạch ủng hộ các máy phát lớn, tích hợp theo chiều dọc và các tiện ích điện đa quốc gia, nếu chỉ vì các chứng chỉ thường được quy định theo đơn vị một Megawatt/giờ, chúng cũng khó thiết kế và thực hiện hơn so với biểu giá Feed-in. Khoảng 350 đơn vị nhiệt điện kết hợp vi mô dân cư đã được lắp đặt vào năm 2012.

Nước máy của Seoul gần đây đã trở nên an toàn để uống, các quan chức thành phố gắn nhãn hiệu "Arisu" để thuyết phục công chúng. Những nỗ lực cũng đã được thực hiện với các dự án trồng rừng. Một dự án trị giá hàng tỷ đô la khác là sự phục hồi suối Cheonggyecheon, một con suối chảy qua trung tâm Seoul mà trước đó đã bị lấp lại khi xây đường cao tốc. Một thách thức lớn nữa là chất lượng không khí, với mưa axit, oxit lưu huỳnh và bão bụi vàng từ Trung Quốc thổi qua hàng năm là những vấn đề đặc biệt. Người ta thừa nhận rằng tình trạng này xày ra một phần là do ảnh hưởng từ các khu vực Nội Mông và Hoa Bắc của Trung Quốc lân cận - những nơi đang bị ô nhiễm không khí trầm trọng.

Hàn Quốc là thành viên của Hệ thống Hiệp ước châu Nam Cực, Công ước về Đa dạng sinh học, Nghị định thư Kyoto (hình thành Nhóm toàn vẹn môi trường (EIG), liên quan đến UNFCCC, với Mexico và Thụy Sĩ), CITES, UNCLOS, Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện, Nghị định thư MontrealCông ước Ramsar.

Hành chính

Lãnh thổ Hàn Quốc bao gồm 1 thủ đô (đặc biệt thị), 8 tỉnh (đạo), 6 thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị), 1 tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) và 1 thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị). Thủ đô của Hàn Quốc - Seoul - là thành phố lớn nhất cũng như một thành phố toàn cầu quan trọng. Ngoài ra, vùng thủ đô Seoul - trung tâm đô thị lớn thứ 5 trên thế giới - cũng là một trong những đại đô thị có quy mô kinh tế lớn nhất hiện nay với hạng 5 châu Á, 17 thế giới về GDP (2020).[104][105][106]

Bản đồ Tên Hangul Hanja Hán-Việt Dân số
Thủ đô (đặc biệt thị) (Teukbyeolsi)
Seoul 서울특별시 서울特別市 Seoul đặc biệt thị 9.794.304
Thành phố trực thuộc trung ương (quảng vực thị) (Gwangyeoksi)
Busan 부산광역시 釜山廣域市 Phủ Sơn quảng vực thị 3.635.389
Daegu 대구광역시 大邱廣域市 Đại Khâu quảng vực thị 2.512.604
Incheon 인천광역시 仁川廣域市 Nhân Xuyên quảng vực thị 2.628.000
Daejeon 대전광역시 大田廣域市 Đại Điền quảng vực thị 1.442.857
Gwangju 광주광역시 光州廣域市 Quang Châu quảng vực thị 1.456.308
Ulsan 울산광역시 蔚山廣域市 Uất Sơn quảng vực thị 1.087.958
Tỉnh (đạo) (Do)
Gyeonggi 경기도 京畿道 Kinh Kỳ đạo 10.415.399
Gangwon 강원도 江原道 Giang Nguyên đạo 1.592.000
Chungcheong Bắc 충청북도 忠淸北道 Trung Thanh Bắc đạo 1.462.621
Chungcheong Nam 충청남도 忠淸南道 Trung Thanh Nam đạo 1 840.410
Jeolla Bắc 전라북도 全羅北道 Toàn La Bắc đạo 1.890.669
Jeolla Nam 전라남도 全羅南道 Toàn La Nam đạo 1.994.287
Gyeongsang Bắc 경상북도 慶尙北道 Khánh Thượng Bắc đạo 2.775.890
Gyeongsang Nam 경상남도 慶尙南道 Khánh Thượng Nam đạo 2.970.929
Tỉnh tự trị (đặc biệt tự trị đạo) (Teukbyeoljachi-do)
Jeju 제주특별자치도 濟州特別自治道 Tế Châu đặc biệt tự trị đạo 560.000
Thành phố tự trị (đặc biệt tự trị thị) (Teukbyeol-jachisi)
Sejong 세종특별자치시 世宗特別自治市 Thế Tông đặc biệt tự trị thị 122.263

Các thành phố lớn:

Toàn cảnh thành phố Seoul nhìn từ tháp N Seoul Tower trên đỉnh núi Namsan vào buổi sáng

Chính trị

Hệ thống bầu cử và phân quyền của Hàn Quốc
Quốc hội Hàn Quốc
Biểu đồ các đảng phái chính trị của Hàn Quốc từ năm 2005-2018
Moon Jae-in presidential portrait.jpg Kim Boo-kyum - 20170119 k.jpg
Moon Jae-in
Tổng thống thứ 12
Kim Boo-kyum
Thủ tướng thứ 43
Nhà Xanh

Thể chế chính trị của Hàn Quốc là dân chủ đại nghịdân chủ trực tiếp với Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, chính phủ quốc gia hoạt động, vận hành theo hệ thống Tổng thống chế toàn phần, trong đó, Tổng thống là nhà lãnh đạo đất nước, người đứng đầu chính phủ kiêm Tổng tư lệnh của các lực lượng vũ trang.

Cấu trúc của chính phủ Hàn Quốc được xác định bởi Hiến pháp Hàn Quốc. Giống như nhiều quốc gia dân chủ khác, Hàn Quốc có một chính phủ được chia thành ba nhánh tách biệt: hành pháp, tư pháplập pháp. Các cơ quan hành pháp và lập pháp hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia, mặc dù các bộ khác nhau trong ngành hành pháp cũng thực hiện các chức năng địa phương. Chính quyền địa phương là bán tự trị, và có các cơ quan hành pháp và lập pháp của riêng họ. Ngành tư pháp hoạt động ở cả cấp quốc gia và địa phương. Hàn Quốc là một nền dân chủ lập hiến.

Hiến pháp Hàn Quốc đã được chú trọng sửa đổi nhiều lần kể từ khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1948 sau khi độc lập. Tuy nhiên, văn bản này vẫn giữ được nhiều đặc điểm rộng rãi và ngoại trừ Đệ Nhị Đại Hàn Dân Quốc tồn tại trong thời gian ngắn, Hàn Quốc luôn có một hệ thống tổng thống với một uỷ ban điều hành độc lập. Theo hiến pháp hiện hành, nhà nước đôi khi được gọi là Đệ Lục Đại Hàn Dân Quốc. Cuộc bầu cử trực tiếp lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1948.

Mặc dù Hàn Quốc đã trải qua một loạt các chế độ độc tài quân sự từ những năm 1960 cho đến những năm 1980, nhưng quốc gia này đã chuyển mình, phát triển thành một nền dân chủ tự do thành công. Ngày nay, The World FactbookCơ quan Tình báo Kinh tế đã công nhận và mô tả nền dân chủ của Hàn Quốc là một nền dân chủ hiện đại, hoàn chỉnh với đầy đủ chức năng.[108] Hàn Quốc được xếp hạng 39 trên thế giới về chỉ số nhận thức tham nhũng với số điểm 59 trên 100.[108]

Theo Điều luật 70 của Hiến pháp, người đứng đầu chính phủ Đại Hàn Dân Quốc là Tổng thống do mỗi công dân mang quốc tịch Hàn Quốc từ đủ 18 tuổi trở lên trực tiếp bỏ phiếu bầu ra, thời hạn nhiệm kỳ kéo dài trong 5 năm và không được phép tái ứng cử. Tổng thống là đại diện cao nhất của quốc gia và có toàn quyền chỉ huy quân đội (tương đương với chức vụ: Tổng Tư lệnh). Ngoài ra, Tổng lý Quốc vụ - tức chức vụ Thủ tướng cũng do Tổng thống chỉ định nhưng Tổng thống mới thực sự là người lãnh đạo Chính phủ. Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên. Thành viên chính phủ do Thủ tướng chỉ định. Chức vụ Thủ tướng cũng như Bộ trưởng phải được sự thông qua của Quốc hội.

Nơi ở cũng như làm việc chính thức của các đời Tổng thống Hàn Quốc hiện nay là Nhà Xanh.

Quốc hội Hàn Quốc chỉ có một viện, đại biểu Quốc hội được bầu mỗi bốn năm một lần. Quốc hội có tất cả 299 đại biểu và tổng cộng 300 ghế.

Cơ quan quan trọng thứ ba trong hệ thống chính trị của Hàn Quốc là Toà án Tối cao. Cơ quan này theo dõi hoạt động của chính phủ và ra các phán quyết cuối cùng. Toà án gồm có chín thẩm phán tối cao. Tổng thống trực tiếp chỉ định ba người trong số này, ba người được quốc hội bầu ra, tuy nhiên vẫn phải được sự chấp thuận của Tổng thống. Chánh án toà án tối cao là người chỉ định ba thẩm phán còn lại.

Quân sự

Quân đội Hàn Quốc là một trong những tổ chức quân sự mạnh trên thế giới[109][110][111], tuy nhiên, lực lượng này không phát triển hay sở hữu vũ khí hạt nhân do đã ký kết Hiệp ước không phổ biến. Tổng số quân nhân của Hàn Quốc năm 2019 là 6.708.000 người (≈600.000 phục vụ trực tiếp - lớn thứ 7 trên thế giới và hơn 3.100.000 dự bị).[112]

Năm 2019, ngân sách quốc phòng của Hàn Quốc là 44 tỷ đô la Mỹ, chiếm 2,7% tổng GDP[113] - xếp thứ 10 thế giới[114][115], năm 2020 là 45.5 tỷ[116], năm 2021 tăng lên 48 tỷ - giữ hạng 8 toàn cầu.[24]

Theo Hiệp định Phòng thủ chung Hàn–Mỹ được ký kết vào năm 1953, quân đội Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện, đặt căn cứ quân sự, đưa toàn bộ lãnh thổ Hàn Quốc vào "Ô bảo hộ Hạt Nhân" cùng với NATO, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc, hỗ trợ đào tạo nhân lực, đảm bảo an ninh quốc phòng cho đồng minh Hàn Quốc đồng thời, các đơn vị vũ trang trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ đóng gần lãnh thổ Hàn Quốc như Hạm đội 7 cũng sẵn sàng tham chiến cùng lực lượng mặt đất trong trường hợp nước này bị xâm lược hoặc tấn công phủ đầu.

Khoảng 2.000 nam giới Hàn Quốc được chọn ra mỗi năm để phục vụ 21 tháng trong Chương trình KATUSA - biểu tượng của quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn trên lĩnh vực quân sự, nhằm tăng cường sức mạnh cho lực lượng liên quân Hoa Kỳ - Hàn Quốc (USFK). Đây là chương trình tuyển quân đặc biệt mà Hoa Kỳ chưa từng thiết lập ở bất cứ quốc gia đồng minh nào khác ngoại trừ Hàn Quốc.[117]

Quân đội Hàn Quốc được cấu thành từ 5 quân chủng chính bao gồm: Lục quân (ROKA), Hải quân (ROKN), Không quân (ROKAF), Thủy quân lục chiến (ROKMC) và quân nhân dự bị, bên cạnh đó còn có các đơn vị tác chiến đặc biệt như Lực lượng Triển khai Chiến tranh Đặc biệt trực thuộc Bộ Tư lệnh Chiến tranh Đặc biệtLực lượng Bảo vệ bờ biển.[118] Theo hiến pháp, toàn bộ công dân mang quốc tịch Hàn Quốc là nam giới từ 18 đến 28 tuổi đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc bất kể người đó là ai, thời gian tại ngũ thường là 18 tháng đối với lục quân cùng thủy quân lục chiến, 20 tháng với hải quân và 21 tháng với không quân.

Lục quân Hàn Quốc ước tính hiện có khoảng 2.500 xe tăng đang hoạt động[119], bao gồm cả những mẫu được thiết kế, lắp ráp và sản xuất nội địa như K1 88 và đặc biệt là K2 Báo Đen - một trong những mẫu xe tăng hiện đại cũng như có giá thành đắt đỏ bậc nhất trên thế giới hiện nay[120][121], tạo thành 'xương sống' cho lực lượng tăng thiết giáp và bộ binh cơ giới kết hợp cùng một kho vũ khí lớn bao gồm nhiều hệ thống pháo các loại với khoảng 1.700 pháo tự hành K55, K9 Thunder, pháo phản lực bắn loạt K136, K239, thiết giáp K200, xe chiến đấu bộ binh "lưỡng cư" K21 đặc biệt với khả năng tiêu diệt trực thăng[122]. Quân đội Hàn Quốc cũng đang chú trọng vào phát triển và hoàn thiện các loại Robot quân sự với công nghệ tự động hóa cùng quá trình điều khiển có sự hỗ trợ của lực lượng tác chiến điện tử nhằm chiến đấu, tiêu diệt mục tiêu hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo[123][124], ví dụ như pháo binh Robot I-UGV - một sản phẩm hợp tác với tập đoàn vũ khí Hanwha Defense - có thể nghe tiếng súng địch để khóa mục tiêu.[125]

Hải quân Hàn Quốc được đánh giá là lực lượng hải quân lớn thứ 8 trên thế giới[126][127][128]. Hạm đội chiến lược của lực lượng này bao gồm nhóm tàu khu trục lớp Chungmugong Yi Sun-sin, tàu tấn công đổ bộ các lớp Dokdo, Soyang, Solgae, tàu ngầm diesel-điện các lớp Dosan Ahn Chang-ho (có khả năng mang theo và phóng tên lửa đạn đạo (SLBM) - đưa Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên không sở hữu vũ khí hạt nhân làm được điều này[129]), Sohn Won-yil (lớp 214) và Jang Bogo (lớp 209) - tất cả đều được trang bị công nghệ AIP cùng tàu khu trục lớp King Sejong the Great Destroyer - trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis thế hệ mới nhất cho phép theo dõi, đánh chặn và tiêu diệt đồng thời nhiều tên lửa hành trình hoặc tên lửa đạn đạo của đối phương, tạo thành "Chiếc ô phòng thủ tên lửa trên biển" của Hải quân Hàn Quốc - chống lại mối đe dọa tên lửa đến từ phía Bắc Triều Tiên.

Không quân Hàn Quốc hiện đang vận hành 1.649 máy bay các loại, trong đó có 680 trực thăng cùng nhiều UAV thế hệ mới - biến lực lượng này trở thành lực lượng không quân lớn thứ 5 trên thế giới[130][131], bao gồm một số loại máy bay chiến đấu tiên tiến như F-15K Slam Eagle, F-15E, KF-16C/D (đã được nâng cấp, sửa đổi nhiều) và KAI T-50 Golden Eagle nội địa, được hỗ trợ bởi các phi đội máy bay chiến đấu cũ nhưng được bảo trì tốt như F-4EKF-5E/F - vẫn phục vụ hiệu quả cho không quân bên cạnh các tiêm kích hiện đại hơn như F-35. Trong nỗ lực để đạt được sức mạnh không chỉ về số lượng mà còn cả tính hiệu quả, việc đưa 4 vận tải cơ Boeing 737 AEW&C tập trung vào hoạt động thu thập, phân tích thông tin tình báo trên chiến trường hiện đại được kỳ vọng sẽ tăng cường khả năng hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ với độ chính xác cao nhất.

Vào tháng 5 năm 2011, công ty Hàng không Vũ trụ Samsung, nhà sản xuất thiết bị hàng không vũ trụ, máy bay chiến đấu cùng động cơ máy bay lớn nhất của nước này, đã ký một hợp đồng trị giá 400 triệu đô la để bán 16 máy bay huấn luyện T-50 Golden Eagle cho quân đội Indonesia, đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á xuất khẩu máy bay phản lực siêu vượt âm.[132][133]

Tháng 12 năm 2019, Hàn Quốc tiếp nhận máy bay không người lái Northrop Grumman RQ-4 Global Hawk trị giá 123 triệu USD của Mỹ, trở thành nước châu Á đầu tiên sở hữu loại UAV này.[134]

Tháng 7 năm 2020, vệ tinh liên lạc quân sự đầu tiên đã được phóng thành công vào không gian, đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia thứ 10 trong danh sách số ít các nước trên thế giới hiện nay đang sở hữu vệ tinh liên lạc dành riêng cho các mục đích quân sự hoạt động trong vũ trụ.[135]

Tháng 4 năm 2021, tập đoàn Công nghiệp Hàng không Hàn Quốc (KAI) giới thiệu nguyên mẫu đầu tiên trong dự án mang tên gọi "KAI KF-X" - chương trình phát triển máy bay tiêm kích siêu thanh thế hệ mới sau thành công của KAI FA-50 trị giá 8 tỷ USD, hợp tác cùng với chính phủ và quân đội Indonesia, đây là chương trình phát triển tiêm kích lớn và đắt đỏ nhất trong lịch sử nước này, đặt tham vọng xuất khẩu, cạnh tranh trên thị trường vũ khí với chiến đấu cơ tàng hình F-35 do Mỹ sản xuất.[136]

Trong khoảng thời gian gần đây, Hàn Quốc cũng thường gửi quân đội ra nước ngoài để hỗ trợ cho các lực lượng Mỹ. Quân đội Hàn Quốc đã tham gia vào hầu hết các cuộc xung đột lớn mà quân đội Hoa Kỳ khởi xướng trong vòng hơn 73 năm qua kể từ khi thành lập. Trong quá khứ, Hàn Quốc đã điều động hơn 325.000 binh sĩ tham gia chiến đấu bên cạnh các lực lượng của Mỹ, Úc, Philippines, New Zealand, Thái Lan, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia (tiền thân của nhà nước Cộng hòa Khmer sau này) và Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh Việt Nam với số lượng tối đa lên tới khoảng 50.000 quân mỗi năm. Năm 2004, Hàn Quốc đã gửi 3.300 binh sĩ của Sư đoàn Zaytun tới miền bắc Iraq, trở thành quốc gia có đóng góp lớn thứ ba trong lực lượng liên minh này chỉ sau Mỹ và Anh. Nước này tuyên bố ủng hộ, tham chiến và hỗ trợ đối với tất cả các chiến dịch can thiệp quân sự của Mỹ cùng NATO vào Iraq, LibyaSyria. Bắt đầu từ năm 2001 đến nay, Hàn Quốc đã triển khai 24.000 binh sĩ tới khu vực Trung Đông - Vùng Vịnh để hỗ trợ cuộc chiến chống khủng bố của các lực lượng quốc tế dẫn đầu bởi Mỹ. Hơn 1.800 binh sĩ khác cũng được triển khai tới Trung Đông kể từ năm 2007 để củng cố cho Lực lượng gìn giữ Hòa bình của Liên Hợp Quốc nhằm chống lại các âm mưu tấn công khủng bố tại Liban.

Một số vũ khí - khí tài chế tạo nội địa, hợp tác sản xuất và nhập khẩu nổi tiếng:

Ngoại giao

Khái quát

Hội nghị thượng đỉnh G20 Seoul
Cựu chủ tịch World Bank Jim Yong Kim (trái)
Cựu Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon

Hàn Quốc duy trì mối quan hệ ngoại giao hữu nghị với 191 quốc gia trên toàn cầu.[137] Nước này cũng là nước thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế lớn, trong số đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, WTO, OECD, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), FAO, UNIDO, IAEA, ITU, UNESCAP, ICAO, IEA, Interpol, Câu lạc bộ Paris, Liên minh MIKTA, Ủy ban Đặc biệt phụ trách Hỗ trợ Phát triển và Hợp tác Kinh tế trực thuộc OECD (DAC), Nhóm các nền kinh tế lớn G-20, Khối Đồng minh không thuộc NATO của Hoa Kỳ,... Quốc gia này cũng đồng thời là thành viên sáng lập của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Đông Á, Cộng đồng Đông ÁNgân hàng Phát triển châu Á (ADB),...

Quan hệ ngoại giao của Hàn Quốc với các quốc gia khác trên thế giới
  Hàn Quốc
  Quan hệ ngoại giao chính thức
  Không có quan hệ ngoại giao

CHDCND Triều Tiên

Bán đảo Triều Tiên cũng như biên giới hai miền nhìn từ vệ tinh
Nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in gặp nhau ở DMZ năm 2018.
Khu vực An ninh chung ở Khu phi quân sự liên Triều

Trong những năm gần đây, tình hình chính trị - quân sự trên bán đảo Triều Tiên luôn được đặt trong trạng thái căng thẳng cao độ, triển vọng hòa bình, ổn định và phi hạt nhân hóa bị đánh giá ở mức độ thấp do xung đột chính trị liên Triều cùng Chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Tuy vậy, tái thống nhất với CHDCND Triều Tiên lại đang là một chủ đề chính trị đang được bàn luận rất sôi nổi ở Hàn Quốc hiện nay, thậm chí, người ta còn đã đề cập đến khả năng áp dụng thể chế chính trị "một quốc gia, hai chế độ" để tái thống nhất bán đảo, chính quyền Hàn Quốc cũng đang có kế hoạch tham vọng lớn tiến đến tới công cuộc tái thống nhất hòa bình với Bắc Triều Tiên trong năm 2045[138], thế nhưng, hiện tại vẫn chưa có bất kỳ hiệp định hoà bình chính thức nào được ký kết, khiến cho đề xuất trên hay các ý kiến khác mới chỉ dừng lại ở mức ý tưởng. Luật an ninh quốc gia Hàn Quốc hiện nay vẫn không cho phép người dân tiếp nhận bất cứ thông tin nào từ phía Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, những ai bày tỏ thái độ ủng hộ, có các hành động tuyên truyền hoặc phát biểu, diễn thuyết ca ngợi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ bị trục xuất khỏi nước này nếu là người nước ngoài[65] hoặc kết án 7 năm tù giam nếu là công dân Hàn Quốc, nếu tự ý tổ chức các chuyến đi du lịch, đến thăm Bắc Triều Tiên mà không được sự cho phép của chính phủ thậm chí hình phạt còn nặng nề hơn - với bản án hình sự có thể lên tới mức 10 năm tù giam[66][67][68]. Tổng thống Roh Moo-hyun đã từng nghĩ tới việc giảm hoặc dỡ bỏ một số điều luật của luật này, nhưng hiện tại ý tưởng đó vẫn chưa được thực thi.

Tháng 6 năm 2000, hai chính phủ đã chính thức gặp gỡ với nhau. Với tư cách là một phần của "Chính sách Ánh Dương" của tổng thống Kim Dae-jung, một hội nghị thượng đỉnh Liên Triều đã diễn ra tại Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp gỡ này được xem như là sự thắng lợi của chính sách ánh dương trong việc bình thường hoá quan hệ giữa hai miền Triều Tiên. Cuối năm đó, Kim Dae-jung được nhận giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên, do sự bất bình trong dân chúng đối với các cách tiếp cận không có kết quả với Bắc Triều Tiên dưới các chính quyền trước đó cũng như trong bối cảnh các vụ khiêu khích của Bắc Triều Tiên liên tiếp diễn ra, một chính phủ bảo thủ đã được bầu lên vào năm 2007 do Lee Myung-bak, cựu thị trưởng Seoul làm tổng thống.

Cả Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đều tuyên bố chủ quyền của mình đối với toàn bộ bán đảo và các hòn đảo xa bờ, cả hai cũng đồng thời coi chính quyền của họ là chính quyền hợp pháp duy nhất trên bán đảo Triều Tiên. Những nỗ lực hòa giải giữa hai miền vẫn tiếp tục tiếp diễn kể từ khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Tuy nhiên tiến trình hòa giải này hứa hẹn vẫn sẽ còn phức tạp sau các vụ thử tên lửa đạn đạo của CHDCND Triều Tiên thời gian gần đây, khiến cho mối quan hệ giữa hai miền trở nên căng thẳng. Năm 2017, tân Tổng thống Moon Jae-in lên nắm quyền, hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi lớn nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nhà nước. Trong một cuộc khảo sát vào năm 2014, số người Hàn Quốc được hỏi có cái nhìn tích cực về CHDCND Triều Tiên chỉ chiếm 3%, tuy nhiên, theo một cuộc khảo sát khác vào năm 2017 của chính phủ, có tới 56% người Hàn Quốc ủng hộ việc tái thống nhất với miền Bắc.[139][140]

Trong năm 2018, Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên đã tổ chức 3 hội nghị thượng đỉnh liên Triều lần lượt vào các tháng 4, tháng 59. Đặc biệt, vào ngày 27 tháng 4, cả 2 miền dù vẫn chưa ký hiệp định hòa bình nhưng đã ra bản Tuyên bố Bàn Môn Điếm, qua đó chấm dứt nội chiến, kết thúc trạng thái xung đột cùng thái độ thù địch để tiến tới kỷ nguyên hòa bình lâu dài, thịnh vượng và tái thống nhất. Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhân đạo nhiều nhất cho Bắc Triều Tiên trong năm 2019.[141]

Nhật Bản

Tổng thống Moon Jae-in và cựu Thủ tướng Nhật Bản Shinzō Abe trong chuyến thăm chính thức năm 2018.

Mặc dù là hai quốc gia láng giềng và đều là đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Bắc Á nhưng người dân Hàn Quốc (đặc biệt là các thế hệ trung niên và cao tuổi) đa phần đều có cái nhìn tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân chủ yếu do nước này phải chịu sự cai trị của Nhật Bản trong vòng 35 năm (1910-1945) kể từ khi Nhật chiếm bán đảo Triều Tiên vào năm 1910. Dù Nhật Bản đã trao trả độc lập cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên vào năm 1945 nhưng phải chờ đến tận năm 1965 thì hai quốc gia mới chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Hàn Quốc.[142]

Trong giai đoạn bán đảo Triều Tiên bị Đế quốc Nhật Bản đô hộ, hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã cộng tác với phát xít Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập. Ngày nay, sử sách Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với Nhật là "Ngụy quân". Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn một bộ quy định về những đối tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra một danh sách 4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch đối với con cháu của họ, bản thân Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng cho rằng: "xóa sạch những dấu tích của việc cộng tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu".[143]

Hàn Quốc và Nhật Bản đã từng đồng tổ chức World Cup 2002. Tuy nhiên, quan hệ của Hàn Quốc và Nhật Bản sau đó trở nên căng thẳng vì những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn đối với đảo Liancourt - nhóm đảo mà Hàn Quốc đã kiểm soát từ tháng 7 năm 1954. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều coi hòn đảo này là một phần lãnh thổ không thể tách rời của họ[144][145][146], dẫn đến những tranh cãi gay gắt và hiện nay vẫn chưa tìm được biện pháp giải quyết.

Chiến tranh thương mại

Sticker kêu gọi tẩy chay hàng hóa Nhật Bản tại một cửa hàng Hàn Quốc.

Ngoài ra, giữa 2 nước gần đây cũng bắt đầu xảy ra những mâu thuẫn liên quan đến vấn đề thương mại song phương và bồi thường hậu quả hậu chiến tranh, bắt nguồn từ việc Toà án Tối cao Hàn Quốc ra bản án buộc các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản như Mitsubishi Heavy Industries, Nippon SteelNachi-Fujikoshi,... phải bồi thường thiệt hại cho những người Hàn Quốc bị ép buộc lao động khổ sai và mua vui cho binh lính Nhật trong thời kỳ phát xít Nhật chiếm đóng bán đảo Triều Tiên, phía Nhật Bản không đồng ý vì cho rằng vấn đề đó đã được giải quyết từ hiệp ước năm 1965 khi nước này tiến hành bình thường hóa mối quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, đồng thời áp đặt lệnh hạn chế xuất khẩu các nguyên vật liệu dùng trong công nghệ cao như Fluorinated Polyamides, Photoresists, Hydrogen Fluoride,... sang thị trường Hàn Quốc và gạch tên nước này khỏi danh sách các quốc gia được hưởng ưu đãi thương mại từ chính phủ Nhật Bản, Hàn Quốc đáp trả bằng các biện pháp tương tự, trong đó bao gồm việc tẩy chay hàng hóa Nhật Bản[147], hạn chế xuất khẩu các mặt hàng công nghệ cao như màn hình OLED, chip nhớ, vi mạchchất bán dẫn,... sang thị trường Nhật Bản[148][149]. Chấm dứt Hiệp định chia sẻ thông tin tình báo chung đã được ký kết với Nhật Bản từ trước đó - hay còn được biết đến với tên gọi Thỏa thuận An ninh chung về Thông tin Quân sự (GSOMIA)[150], dẫn đến nguy cơ bùng phát một cuộc "chiến tranh thương mại" mới với tính chất và mức độ rủi ro tương tự như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, đáng lo ngại hơn, cuộc chiến này sẽ nổ ra giữa hai nền kinh tế hàng đầu tại châu Á[149], gây gián đoạn chuỗi cung ứng cho các sản phẩm công nghệ cao trên toàn cầu[151] đồng thời đẩy giá thành của các sản phẩm công nghệ đó lên cao[152][153], mặc dù đã có một số cuộc gặp cấp cao được tổ chức, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một cuộc đàm phán song phương chính thức nào để giải quyết dứt điểm các vấn đề phức tạp trên.

Chính sách kiểm duyệt

Do tâm lý bài Nhật mạnh mẽ kể từ sau khi giành được độc lập, chính phủ Hàn Quốc ban hành và duy trì các đạo luật nhằm kiểm duyệt chặt chẽ, khắt khe đối với tất cả những chương trình truyền hình, sản phẩm truyền thông liên quan đến Làn sóng Nhật Bản như phim ảnh, trò chơi, âm nhạc, sách báo, truyện tranh cùng phim hoạt hình,... nếu những sản phẩm này muốn được thâm nhập vào thị trường Hàn Quốc. Năm 2003, phim truyền hình và âm nhạc Nhật Bản (J-pop) vẫn bị cấm phát sóng trên truyền hình mặt đất tại Hàn Quốc.[154] Ngày 23 tháng 2 năm 2011, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc Chung Byoung-guk thông báo rằng nước này "có thể xem xét xóa bỏ các lệnh cấm trong tương lai".[155] Tuy nhiên, đến năm 2014, bài hát tiếng Hàn Uh-ee của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Crayon Pop đã bị đài KBS cấm phát sóng vì có từ tiếng Nhật pikapika trong lời bài hát.[156] Năm 2018, nhóm nhạc nữ Hàn-Nhật IZ*ONE cho phát hành các bài hát có chứa tiếng Nhật và đã không được phép phát sóng trên truyền hình Hàn Quốc vì nội dung "mang đậm màu sắc Nhật Bản", đài Fuji News Network của Nhật Bản nhận xét: "sự ghê tởm đối với văn hóa Nhật Bản tại Hàn Quốc vẫn còn tàn tích rất mạnh mẽ".[157]

Trung Quốc

Tổng thống Moon Jae-in cùng Phu nhân và Chủ tịch Tập Cận Bình cùng Phu nhân trong chuyến thăm chính thức năm 2017.
THAAD

Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hàn Quốc nhìn chung là rất thù địch vào khoảng thời gian trước những năm 1980, khi ấy Trung Quốc đại lục chỉ công nhận chính quyền Bắc Triều Tiên trong khi Hàn Quốc cũng chỉ công nhận chính quyền Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Đài Loan. Hàn Quốc trở thành quốc gia châu Á cuối cùng thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 24 tháng 8 năm 1992. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc đã nỗ lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác trong nhiều lĩnh vực, trong đó: đầu tư, chuyển giao công nghệ, thương mại, du lịch và giao lưu văn hóa là những yếu tố quan trọng nhất để tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nhà nước.

Mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi đáng kể vào cuối năm 2016 sau khi quân đội Hàn Quốc tuyên bố ý định sẽ cùng quân đội Mỹ tiến hành triển khai THAAD (Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối) trên lãnh thổ nước này, một động thái mà chính phủ Trung Quốc phản đối gay gắt[158]. Chính phủ Hàn Quốc và Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc triển khai THAAD hoàn toàn là một biện pháp phòng thủ, chỉ nhắm vào Bắc Triều Tiên và không có ý định đe dọa lợi ích an ninh của Trung Quốc, song, chính phủ Trung Quốc lại coi đây là một động thái gây thù địch, đe dọa an ninh cũng như chống lại họ.[159] Chính phủ Trung Quốc ngầm áp đặt một chiến dịch tẩy chay không chính thức đối với hàng hóa Hàn Quốc trong nỗ lực ngăn chặn họ triển khai hệ thống tên lửa. Truyền thông Trung Quốc liên tục đưa tin về việc công dân nước này tẩy chay các sản phẩm có xuất xứ từ từ Hàn Quốc chẳng hạn như xe hơi của Hyundai, Kia, điện thoại di động và các thiết bị, sản phẩm công nghệ của Samsung, LG,... Hàng hóa của Hàn Quốc sau đó bị loại bỏ khỏi kệ hàng siêu thị tại Trung Quốc, nhiều thương hiệu bán lẻ lớn như Lotte, CJ, Shinsegae,... buộc phải đóng cửa hàng loạt các cơ sở kinh doanh hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn khỏi thị trường tỷ dân này[160], trong khi khách du lịch và nhiều công ty du lịch Trung Quốc đồng loạt hủy bỏ các chuyến bay đi, đến Hàn Quốc[161][162]. Tuy nhiên, vào cuối tháng 10 năm 2017, hai nước đã kết thúc cuộc tranh chấp ngoại giao kéo dài gần 1 năm và nhanh chóng nỗ lực để đưa mối quan hệ giữa hai chính phủ trở lại đúng hướng, kể từ đó, tất cả các lệnh hạn chế về thương mại và văn hóa của Trung Quốc đối với Hàn Quốc cũng được dỡ bỏ, cùng với đó là sự hợp tác về chính trị, an ninh, kinh tế và trao đổi văn hóa giữa hai nước đã dần trở lại trạng thái bình thường.[163]

Vào ngày 29 tháng 11 năm 2010, tài liệu mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bị rò rỉ bởi Wikileaks đã đề cập đến nội dung của một cuộc trò chuyện giữa hai quan chức Trung Quốc ẩn danh với Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Chun Yung-woo. Trong cuộc trò chuyện này, hai quan chức đã tuyên bố rằng chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẵn sàng ủng hộ một bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới quyền chính phủ miền Nam, miễn là chính quyền này không thù địch với Trung Quốc.[164]

Một cuộc khảo sát được công bố vào năm 2019 bởi Trung tâm nghiên cứu PewHội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago (Mỹ) cho thấy rằng có tới 63% người dân Hàn Quốc giữ quan điểm tiêu cực về Trung Quốc.[165] Sang đến năm 2020, tình hình tiếp tục diễn biến theo hướng tiêu cực, với gần 60% người dân Hàn Quốc xem Trung Quốc (một trong những đối tác thương mại lớn nhất) là 'đối thủ', 75% cho biết họ có 'ác cảm' đối với người Trung Quốc, 83% không có niềm tin vào Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong việc xử lý các vấn đề khu vực cũng như quốc tế, tỷ lệ người Hàn có thiện chí với Trung Quốc chỉ ở mức 24%, đồng thời liên tục giảm mạnh qua từng năm - tập trung vào giới trẻ.[166] Cũng trong một cuộc khảo sát khác được báo Dong-a Ilbo thực hiện cùng năm, kết quả cho thấy gần 53% người dân Hàn Quốc nói họ ủng hộ quốc gia tham gia vào nỗ lực chống lại "Bắc Kinh cùng chủ nghĩa bành trướng" của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden, đặc biệt, với nhóm ở độ tuổi 20 - tỷ lệ này tăng lên mức 66%.[166] Thậm chí, sau sự bùng phát của Đại dịch COVID-19, xu hướng bài Trung Quốc ở quốc gia này hiện nay còn lớn hơn cả Nhật Bản.[167] Bên cạnh đó, hai quốc gia cũng đang tranh chấp chủ quyền của các bãi đá ngầm Socotra, Gageo trên biển Hoàng Hải và xảy ra nhiều tranh cãi xung quanh nguồn gốc của các món ăn nổi tiếng như Kim chi, canh Samgyetangbánh gạo (Tteokbokki) - vốn từ lâu đã được coi là một biểu tượng của đất nước, văn hóa cũng như nền ẩm thực Hàn Quốc.[168][169]

Việt Nam

Một biểu ngữ tại Việt Nam kêu gọi phát triển hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Việt - Hàn.
Park Hang-seo - huấn luyện viên trưởng của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam, ông được coi là người có ảnh hưởng tích cực nhất trong quan hệ Hàn-Việt hiện nay.[170]

Tương tự Trung Quốc, quan hệ giữa Hàn Quốc với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước năm 1975 là cực kỳ thù địch, khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đồng minh thân cận với Bắc Triều Tiên còn Hàn Quốc là Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, khác biệt trong quan điểm chính trị kết hợp cùng hàng loạt chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam từ phía Hoa Kỳ, quan hệ ngoại giao giữa nhà nước Việt Nam thống nhất và Hàn Quốc tiếp tục bế tắc.

Đầu năm 1980, Mỹ bắt đầu nới lỏng các chính sách cấm vận, hàng hoá Việt Nam (chủ yếu là gạo) bắt đầu được phép vào thị trường Hàn Quốc. Năm 1990, sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, quan hệ ngoại giao giữa hai nước dần cải thiện. Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao của Hàn Quốc với Việt Nam là ngày 22 tháng 12 năm 1992 và hai quốc gia bắt đầu nâng cấp mối quan hệ lên thành "Đối tác chiến lược" từ năm 2009.

Từ năm 2011 đến nay, Hàn Quốc luôn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, đứng thứ hai về lượng vốn ODA cho Việt Nam sau Nhật Bản. Thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc chiếm hơn 40% tổng quy mô trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc với các nước ASEAN khác. Samsung của Hàn Quốc hiện đang là tập đoàn có mức đóng góp nhiều nhất vào tổng giá trị GDP của Việt Nam trong năm 2018 với 28% đồng thời cũng liên tục là doanh nghiệp FDI có quy mô lớn nhất tại quốc gia này, giữ vai trò quan trọng trong giá trị xuất khẩu hàng năm cũng như thị trường lao động[171][172][173]. Bên cạnh đó hiện nay, văn hóa – ngôn ngữ Hàn Quốc (Hàn Quốc học) là ngành học hàng đầu tại Việt Nam, được Bộ Giáo dục Việt Nam đưa vào giảng dạy ở tất cả các cấp bậc trong hệ thống giáo dục[174][175], có tiêu chuẩn đầu vào khắt khe, cạnh tranh nhất đối với bậc Đại học[176][177] đồng thời cũng là một trong những chuyên ngành được sinh viên Việt Nam lựa chọn theo đuổi nhiều nhất hiện nay.

Năm 2020, Việt Nam vượt qua Hồng Kông và Nhật Bản để trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Hàn Quốc sau Mỹ và Trung Quốc, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 48.5 tỷ USD và được dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ.[178]

Liên minh châu Âu (EU)

Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc là những đối tác thương mại quan trọng, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 9 của EU và EU là điểm đến xuất khẩu lớn thứ 3 của Hàn Quốc.[179] Đặc biệt, Hàn Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có đồng thời với EU 3 hiệp định về kinh tế, chính trị và an ninh.[180] EU coi Hàn Quốc là một đối tác quan trọng trong chính sách Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của khối và ủng hộ việc cải thiện quan hệ liên Triều, thiết lập nền hòa bình lâu dài cũng như tiến tới phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.[181] Bên cạnh đó, hai bên cũng thúc đẩy hợp tác nhằm tăng cường an ninh trên biển ở Vịnh Guinea và các khu vực lân cận thuộc châu Phi để đối phó với những mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng đến từ nạn cướp biển.[182]

Nga

Bên cạnh quan hệ ngoại giao hữu nghị cơ bản, Hàn Quốc và Liên bang Nga cùng tham gia Đàm phán Sáu bên về vấn đề tên lửa - hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Ngoài ra, Hàn Quốc là một trong những khách hàng mua khí đốt lớn của Nga và đồng thời có nhiều hợp tác, thương mại song phương trong lĩnh vực quân sự.[183] Hiện nay, hai nước đang đàm phán về việc mở lại một đường ống dẫn khí đốt tự nhiên từ Nga xuyên qua bán đảo Triều Tiên.[184] Vào tháng 6 năm 2018, Moon Jae-in trở thành nhà lãnh đạo Hàn Quốc đầu tiên phát biểu trước Quốc hội Nga[185] và tới ngày 22 tháng 6 cùng năm, Tổng thống Hàn Quốc đã cùng với người đồng cấp Nga Vladimir Putin chính thức ký kết văn kiện thành lập một khu vực thương mại tự do.[186]

Hoa Kỳ

Tổng thống Moon Jae-in và Tổng thống Joe Biden trong chuyến thăm chính thức (21/5/2021).

Mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nước được bắt đầu từ ngay khi kết thúc Thế Chiến II, sau khi Nhật Bản đầu hàng và trao trả độc lập cho bán đảo Triều Tiên. Theo quyết định của Hội nghị Yalta, Hoa Kỳ tạm thời tiếp quản miền nam bán đảo trong vòng ba năm, trong khi Liên Xô tiếp quản miền Bắc. Năm 1948, với sự ủng hộ của Mỹ, Lý Thừa Vãn thành lập nhà nước Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc). Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, quân đội Hoa Kỳ cùng Liên Hợp Quốc đã được gửi đến kịp thời để giúp đỡ nhà nước cùng quân đội Hàn Quốc chống lại các cuộc tấn công từ phía Bắc Triều Tiên. Sự tham chiến của Hoa Kỳ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn thất bại của quân đội Hàn Quốc non trẻ trước sức tấn công từ phía quân đội Bắc Triều Tiên vốn được Liên Xô hậu thuẫn. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ và Hàn Quốc thành lập Liên minh quân sự chung, ký kết Hiệp ước Phòng thủ chung. Ngày nay, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì một số lượng lớn binh sĩ cùng các căn cứ quân sự tại Hàn Quốc, Hạm đội 7 trực thuộc Hải quân Hoa Kỳ cũng phụ trách việc đảm bảo an ninh quốc phòng cho Hàn Quốc, ngoài ra, lực lượng này cũng sẵn sàng tham chiến nếu như xảy ra xung đột vũ trang hoặc đồng minh Hàn Quốc bị tấn công xâm lược. Tại hội nghị thượng đỉnh G-20 năm 2009 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh, Tổng thống Barack Obama trong tuyên bố của mình đã nhấn mạnh rằng:[34]

Hàn Quốc là một trong những nước đồng minh không thuộc khối NATO quan trọng của Hoa Kỳ bên cạnh các quốc gia: Argentina, Australia, Bahrain, Israel, Nhật Bản, Jordan, Kuwait, Maroc, New Zealand, Philippines và Thái Lan. Lãnh thổ Hàn Quốc hiện nay cũng đang nằm dưới "Ô bảo vệ Hạt Nhân" của Hoa Kỳ cùng với khối NATO, phần lớn châu Âu, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Úc.

Mặc dù hai nước duy trì mối quan hệ đồng minh thân cận trong phần lớn các đời Tổng thống Mỹ, tuy nhiên, dưới thời Tổng thống Donald Trump, mối quan hệ này bị rạn nứt do Hàn Quốc và Mỹ xảy ra nhiều bất đồng, tranh cãi xung quanh việc chi trả chi phí hoạt động cho các lực lượng quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc.[187][188] Nhiều cuộc đàm phán song phương cấp cao đã được tiến hành, một số thỏa thuận đã được thông qua[189][190], tuy nhiên; giữa hai đồng minh vẫn chưa thể tìm được tiếng nói chung[191]. Hiện nay, sau thời kỳ cầm quyền của ông Trump, Tổng thống kế nhiệm Joe Biden và chính quyền Seoul đã xử lý thành công vấn đề trên, qua đó, Hàn Quốc đồng ý đóng góp 1,03 tỷ USD cho các lực lượng Mỹ đồn trú tại nước này.[192]

Xã hội

Dân cư, nhân khẩu và sắc tộc

Nam nữ Hàn Quốc trong trang phục truyền thống Hanbok.

Vào tháng 4 năm 2016, dân số Hàn Quốc được Văn phòng Thống kê Quốc gia ước tính là khoảng 50,8 triệu người, với dân số ở trong độ tuổi lao động và tổng tỷ suất sinh tiếp tục có xu hướng suy giảm.[193] Hàn Quốc là nước có mật độ dân số rất cao, ước tính lên tới 505 người trên mỗi km² vào năm 2015, nhiều hơn 10 lần so với mức trung bình toàn cầu. Hầu hết người Hàn Quốc sống ở khu vực thành thị, do quá trình di cư ồ ạt khỏi các vùng nông thôn trong quá trình mở rộng kinh tế nhanh chóng của đất nước trong những năm 1970, 1980 và 1990[194]. Theo điều tra dân số năm 2005, khu vực nội thành Seoul có dân số hơn 10 triệu người. Khu vực đại đô thị Seoul có hơn 30 triệu dân (khoảng hơn một nửa dân số Hàn Quốc), trở thành khu vực đô thị lớn thứ 5 trên thế giới.[104] Các thành phố, khu vực đô thị lớn khác bao gồm có: nội thị Seoul (~10 triệu cư dân)[195], Busan (3,5 triệu), Incheon (3,0 triệu), Daegu (2,5 triệu), Daejeon (1,4 triệu), Gwangju (1,4 triệu) và Ulsan (1,1 triệu).[196]

Trong thành phần dân cư của Hàn Quốc thì người Hàn-Triều Tiên chiếm đại đa số với gần 99%[16], đây là một quốc gia dân tộc đồng nhất, nhóm dân tộc thiểu số duy nhất là một bộ phận nhỏ người gốc Hoa và gốc Nhật. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia sớm phục hồi, vì vậy nên một số lượng lớn lao động từ các nước đang phát triển đã đổ về đây để tìm kiếm việc làm. Một bộ phận không nhỏ người nước ngoài cũng đang sinh sống, học tập, làm việc tại Hàn Quốc, họ tập trung tại những khu vực kinh doanh năng động nhất của Seoul, chẳng hạn như Itaewon, ở đây người ta có thể tìm thấy những khu "Làng Liên Hợp Quốc" bên cạnh rất nhiều đại sứ quán và các công ty nước ngoài.

Tình trạng già hóa dân số

Tỷ lệ sinh của Hàn Quốc là thấp nhất thế giới trong năm 2009[197]. Nếu tỷ lệ này tiếp tục được duy trì, dân số của Hàn Quốc dự kiến sẽ giảm 13% xuống còn 42,3 triệu người vào năm 2050[198]. Tỷ lệ sinh trung bình hàng năm của Hàn Quốc là khoảng 9 ca sinh trên 1000 người[199][200]. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh đã tăng 5,7% kể từ năm 2010 và Hàn Quốc không còn là quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới nữa[201]. Theo công bố năm 2011 từ báo Chosun Ilbo, tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc (1,23 trẻ em sinh ra trên mỗi phụ nữ) cao hơn so với Đài Loan (1,15) và Nhật Bản (1,21)[202]. Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc trong năm 2008 là 79,10 tuổi (đứng thứ 34 trên thế giới)[203] nhưng đến năm 2015 đã tăng lên 81 tuổi[204]. Hàn Quốc là nước có sự sụt giảm mạnh nhất về dân số ở độ tuổi lao động trong số các quốc gia thuộc OECD.[205][206][207] Năm 2015, Cục Thống kê Quốc gia ước tính rằng dân số của đất nước sẽ đạt đến đỉnh điểm vào năm 2035.[193]

Hiện nay, trước áp lực của cuộc sống hiện đại, ngày càng nhiều người trẻ Hàn Quốc ở độ tuổi 20-30 chọn cách sống độc thân, không con cái, dẫn đến nhiều hệ quả kinh tế - xã hội; đặc biệt là sự lão hoá dân số đi kèm cùng sụt giảm lao động trẻ tuổi. Họ được gọi là "Thế hệ Sampo" và thường bị chỉ trích là ích kỷ.[208]

Lý do để trở thành Thế hệ Sampo[209]
%
Không có tiền tiết kiệm
53.5
Áp lực cuộc sống cao dù cho có nhiều tiền
42.1
Khó kiếm việc làm
33.1
Thu nhập sau thuế thấp
32.1
Nợ cá nhân cao
16.8

Vấn nạn "hôn nhân mua bán"

Trong những năm gần đây, với tỷ lệ chênh lệch giới tính, bất bình đẳng giai cấp xã hội, chi phí sinh hoạt, nuôi dạy con cái ngày một tăng cao kết hợp cùng xu hướng muốn theo đuổi lối sống độc thân, tự do, tự chủ của nữ giới[210] đã dẫn đến hệ quả là ngày càng có nhiều nam giới Hàn Quốc (phần lớn sống ở khu vực nông thôn hoặc có thu nhập cá nhân ở mức thấp[45]) gặp khó khăn, không muốn hoặc không thể lấy được vợ. Tình trạng dần trở nên nghiêm trọng đến nỗi chính phủ Hàn Quốc phải vào cuộc nghiên cứu, đề xuất giải pháp "giải cứu" cho những người này, qua đó; họ sẽ được chính quyền địa phương hỗ trợ một khoản chi phí để sang "mua vợ" tại các nước đang phát triển[211][212], những quốc gia có con người, văn hóa, phong tục tập quán gần gũi với Hàn Quốc đặc biệt như Trung Quốc[213] và Việt Nam (nhóm cộng đồng chiếm số lượng đông đảo nhất)[214][215][216], Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanmar, Uzbekistan hay Philippines,... thường được họ ưu tiên lựa chọn để tiến hành các cuộc "hôn nhân mua bán". Mặc dù bước đầu cơ bản giải quyết được vấn đề xã hội và ổn định dân số, thế nhưng, nhiều trong số các cuộc hôn nhân kể trên thường đem lại những hệ lụy đáng tiếc do sự khác biệt văn hóa, lối sống, bất đồng ngôn ngữ cùng thái độ kỳ thị con lai, tư tưởng "trọng nam" của nam giới, những người bảo thủ theo chủ nghĩa thuần huyết Triều Tiên cũng như văn hóa gia đình Hàn Quốc, đồng thời góp phần khiến cho tỷ lệ dân nhập cư và số lượng các gia đình đa chủng tộc tại đất nước này đang ngày một tăng cao.[217][218]

Quá trình di dân

Ngược lại cũng có rất nhiều người Hàn Quốc-Bắc Triều Tiên hiện đang sinh sống, học tập, làm việc tại nước ngoài, ví dụ như Trung Quốc và nhiều nước thuộc vùng Trung Á (nguyên nhân bắt nguồn từ việc nhà độc tài Liên Xô cũ Stalin đã đưa hàng ngàn người Triều Tiên tới đó sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu chiến tranh thế giới thứ hai và đặc biệt, chính tại Hàn Quốc lại là nơi có đông đảo nhất cộng đồng người đào tẩu Bắc Triều Tiên sinh sống). Trong thời kỳ bị Nhật Bản đô hộ, một số lượng lớn người Hàn-Triều Tiên cũng bị đưa sang Nhật, hình thành nên một cộng đồng dân cư mới ở đây. Sau Thế Chiến 2, sự bất ổn chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đã dẫn tới việc một số Hàn Quốc di cư sang châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Canada, Nga và Hoa Kỳ. Sau năm 1992, khi tình hình chính trị trong nước dần trở lại ổn định, nhiều người đã quay trở về quê hương và mang cho mình hai quốc tịch.

Áp lực cuộc sống và nạn tự sát

Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên những áp lực rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử, cho tới kiếm việc làm - làm việc[219], kết hôn, sinh - nuôi dạy con cái,...[220][221] Do các áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc cũng luôn thuộc mức rất cao trên thế giới. Năm 2012, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc là 28,9 vụ/100.000 dân, cao hơn nhiều so với mức 12,1 vụ của Mỹ, 7,8 vụ của Trung Quốc và cao hơn 2,5 lần so với mức trung bình trên toàn cầu. Áp lực cuộc sống cao dẫn tới nhiều chứng bệnh nguy hiểm như trầm cảm, căng thẳng tâm lý, rối loạn lo âu và tự sát là nguyên nhân số một trong những ca tử vong của thanh thiếu niên (từ 15 tới 30 tuổi).[222][223][224]

Hiện nay, ngày càng có nhiều người già, người cao tuổi Hàn Quốc đang phải sống, làm các công việc chân tay nặng nhọc[225] và cuối cùng là vào tù do phạm pháp[226][227] hoặc qua đời trong cô độc[228], đây là một trong những tồn tại nhức nhối của xã hội mà chính phủ Hàn Quốc vẫn đang loay hoay tìm cách giải quyết. Những biến động ở Hàn Quốc vốn đã bắt đầu nhen nhóm kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1997 tàn phá nền kinh tế đồng thời làm nhiều người mất việc và điều này khiến cho họ bị tụt lại trong sự cạnh tranh gay gắt của xã hội. Nhiều người cao tuổi không có tiền tiết kiệm khi về hưu, họ gặp khó khăn nghiêm trọng về tài chính trong khi con cái cùng những thế hệ kế cận lại không đủ khả năng chu cấp cho cha mẹ, kết hợp với tâm lý, văn hóa "không muốn bản thân trở thành gánh nặng cho con cháu" vốn đã ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều thế hệ người cao tuổi Hàn Quốc đã khiến cho vấn đề trên ngày càng trở nên trầm trọng.[225] Trợ cấp xã hội dành cho những người ngoài độ tuổi 50 chỉ ở mức tương đối thấp. Chỉ số Hưu trí toàn cầu Mercer Melbourne 2015 xếp hạng Hàn Quốc đứng thứ 24 trong 25 quốc gia có nền kinh tế lớn, chỉ cao hơn Ấn Độ. Năm 2014, chỉ 45% người Hàn Quốc trong độ tuổi từ 55 đến 79 có lương hưu và chi tiêu trung bình hàng tháng của họ là 431 USD, bằng 82% mức chi phí sinh hoạt tối thiểu cho một người trẻ tuổi. Khoảng 30% người cao tuổi có thu nhập hàng tháng dưới mức 'nghèo tuyệt đối' - theo quy chuẩn của chính phủ Hàn Quốc. Cứ 4 người cao tuổi Hàn Quốc lại có một người mắc chứng trầm cảm, tỷ lệ tự sát của nhóm người cao tuổi cao gấp đôi so với mức trung bình cả nước và được dự báo sẽ còn tiếp tục gia tăng.[225]

Hàn Quốc là nước xếp cao nhất trong các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và liên tục có số vụ tự sát thuộc hàng đầu trong các nước phát triển. Nhà ga tàu điện ngầm ở Seoul đã phải dựng hàng rào chắn để ngăn chặn những người mắc bệnh trầm cảm có thể nhảy xuống bất kỳ lúc nào khi tàu đến và toàn bộ 8 cây cầu trong thành phố đều được lắp đặt dày đặc các hệ thống camera CCTV nhằm phát hiện nhanh người có ý định tự sát. Quốc gia này là nơi thường xuyên xảy ra các vụ tự tử của sinh viên, ca sĩ, người mẫu, diễn viên, vận động viên thể thao, chính trị gia nổi tiếng.

Theo các chuyên gia về tâm thần học tại Đại học Quốc gia Seoul và cũng là thành viên của Hiệp hội ngăn chặn tự sát, tự sát tập thể khá phổ biến ở Hàn Quốc và đang có xu hướng gia tăng - đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997).[231] Năm 2011, trước tình hình trên, một số người đứng ra tổ chức những khoá học chết thử với lý do "trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ". Mục đích của chương trình này là muốn người tham gia "nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn" thay vì tìm đến cái chết.[232]

Ở các gia đình Hàn Quốc có hai vợ chồng cùng đi làm, đàn ông chỉ dành khoảng 40 phút làm việc nhà hoặc trông con, ít hơn rất nhiều so với mức trung bình 3 giờ/ngày của phụ nữ. Theo thống kê, số giờ làm việc trung bình của một người Hàn Quốc là 2.113 giờ/năm, đứng thứ hai trong số các quốc gia thành viên OECD và chỉ xếp sau Mexico[233]. Không dừng lại ở đó, nhiều cuộc khảo sát khác gần đây còn cho thấy thực tế tệ hơn đang diễn ra và xu hướng giống như Nhật Bản - nơi thường xuyên có người lao động chết hoặc tự kết liễu bản thân do lao lực, căng thẳng tâm lý hoặc kiệt sức trong công việc. "Gwarosa" - thuật ngữ dùng để phản ánh tình trạng trên ở Hàn Quốc cũng bắt nguồn từ thuật ngữ "Karōshi" - với ý nghĩa tương tự của Nhật Bản.[234]

Hàn Quốc đã thực hiện Chiến lược ngăn ngừa tự tử (STOPS) nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng kết hợp cùng với sự hỗ trợ từ phía chính phủ trong công tác phòng chống và ngăn chặn tự sát.[235] Những biện pháp này đem lại hiệu quả tích cực, kể từ năm 2010, tỷ lệ tự tử ở Hàn Quốc bắt đầu giảm mạnh. Bên cạnh đó, việc cấm lưu hành thuốc diệt cỏ Paraquat được coi là chìa khóa trong việc giảm tỷ lệ tự sát ở nơi đây. Từ năm 2011 đến 2015, tỷ lệ tử vong do tự tử ở Hàn Quốc đã giảm gần 15%. Ông Moon Jae-in - Tổng thống nhậm chức năm 2018, cam kết sẽ tiếp tục hạ thấp tỷ lệ tự tử xuống còn 20 vụ trên 100.000 người vào năm 2020.[236]

Tôn giáo

Tôn giáo tại Hàn Quốc (2015)[5]

  Không tôn giáo (56.1%)
  Tin Lành (19.7%)
  Phật giáo (15.5%)
  Công giáo Rôma (7.9%)
  Khác (0.8%)

Theo số liệu thống kê đến năm 2015 do chính phủ Hàn Quốc cung cấp, có khoảng 56,1% công dân cho biết họ theo chủ nghĩa vô thần - tức không đặt niềm tin hay tuân theo bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo nào. Người theo đạo Cơ đốc hoặc Kitô giáo chiếm 27,6% dân số - trong số đó, Tin Lành chiếm 19,7%, Công giáo là 7,9% và 15,5% là Phật tử[237]. 0,8% còn lại theo các tôn giáo thiểu số khác như Đạo giáo, Vu giáo hay Shaman giáo.

Tại Hàn Quốc có khoảng ≈40.000 người bản địa theo Hồi giáo (khoảng 0,09% dân số), chưa kể nhóm lao động nước ngoài tới từ các quốc gia theo đạo Hồi[238]. Hàn Quốc cũng là quốc gia có tỷ lệ dân số theo đạo Công giáo tương đối cao.

Nhiều người dân Hàn Quốc không đặt nặng vấn đề tôn giáo, họ tổ chức ngày lễ của nhiều tôn giáo khác nhau. Việc pha trộn tôn giáo này từng vấp phải sự phản đối kịch liệt của các tín đồ Nhân chứng Giê-hô-va; tuy nhiên, những nghi lễ cổ truyền vẫn đang được duy trì. Các giá trị của đạo Khổng (Nho giáo) hiện vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống thường nhật của người dân nơi đây.

Người dân Hàn Quốc được hưởng tự do tôn giáo ở mức độ cao, tuy nhiên, những vấn nạn, bê bối liên quan đến các giáo phái cuồng giáo luôn luôn là một trong những vấn đề gây nhức nhối, ám ảnh trong xã hội.[239]

Thành tựu

Mặc dù còn nhiều tồn tại; tuy nhiên, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thấp nhất trên thế giới với chỉ 3,03%[240][241]. Quốc gia này cũng đứng thứ 4 châu Á sau Singapore, Nhật Bản và Hồng Kông, giữ hạng 9 toàn cầu về tuổi thọ trung bình của người dân (đồng hạng với Israel).[242] Tỷ lệ tội phạm giết người có chủ đích tính riêng trong phạm vi lãnh thổ Hàn Quốc năm 2018 là 0.60% - mức rất thấp theo nghiên cứu và công bố của Văn phòng Liên Hợp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC).[243][244] Chỉ số khủng bố bằng 0 (hoàn toàn không có khủng bố)[245] và chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao[18], đồng thời gần như không có người mù chữ - với tỷ lệ biết chữ đạt 99% dân số trong năm 2020.[246]

Theo một loạt các cuộc khảo sát được tiến hành bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn QuốcViện nghiên cứu Gallup (Mỹ) vào năm 2019 cho kết quả: 82% người Hàn Quốc được hỏi đã trả lời rằng Hàn Quốc là một nơi đáng để sinh sống, 63.6% số người được hỏi trả lời rằng họ cảm thấy ổn và tương đối hài lòng với cuộc sống hiện tại. Cũng theo Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu năm 2019 của Liên Hợp Quốc, Hàn Quốc là quốc gia hạnh phúc thứ 54 trên thế giới[247]. Năm 2020, đất nước này đứng thứ 2 châu Á (sau Nhật Bản) và hạng 17 thế giới về chỉ số tiến bộ xã hội.[29][30][31]

Giáo dục

… Nếu ngủ 3 tiếng mỗi đêm, bạn có thể mơ tới việc thành một phần của S.K.Y. Nếu ngủ 4 tiếng, bạn có thể thi đỗ vào trường đại học khác. Còn nếu ngủ 5 tiếng hoặc hơn, nhất là trong năm cuối cấp, thì hãy quên ngay ý định bước chân vào cổng trường đại học…

Cuộc chiến thi đại học Hàn Quốc, Pháp luật và bạn đọc - Báo điện tử Sức khỏe & Đời sống, 17 tháng 9 năm 2020.[248]

Hệ thống trường học hiện đại ở Hàn Quốc bao gồm có sáu năm tiểu học, ba năm trung học cơ sở và ba năm trung học phổ thông. Học sinh bắt buộc phải học tiểu học và trung học cơ sở nhưng không phải trả chi phí giáo dục, ngoại trừ một khoản phí nhỏ gọi là "phí hỗ trợ các hoạt động của nhà trường". Khoản phí này khác nhau tùy theo từng trường học. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thế giới (OECD) khởi xướng và chỉ đạo - hiện đang xếp hạng giáo dục khoa học của Hàn Quốc tốt thứ 3 trên thế giới và luôn cao hơn mức trung bình của OECD.[249][250]

Trong năm 2015, quốc gia này đã chi 5,1% GDP cho tất cả các cấp cũng như hoạt động giáo dục - cao hơn khoảng 0,8 điểm phần trăm so với mức trung bình của OECD (4,3%). Giáo dục là chìa khóa giúp cho đất nước vốn nghèo tài nguyên thiên nhiên này[251], từ một vùng đất hoang tàn do chiến tranh, nhanh chóng phát triển thịnh vượng trong suốt hơn 60 năm qua nhưng đồng thời cũng tồn tại nhiều mặt tối.[252] Sang đến năm 2019, con số này đã tăng lên mức 6,3%[253] - vượt xa so với các nước cùng khu vực[254] và 2020 tiếp tục tăng thêm 2,6% - lên mức 8,9%.[255]

Cũng trong năm 2020, chính phủ Hàn Quốc chi ra tổng cộng 4,81% GDP cho nghiên cứu và phát triển - con số này cao thứ 2 châu Á cũng như toàn cầu chỉ sau Israel (với 4,95%).[256]

Một chính quyền tập trung ở Hàn Quốc sẽ giám sát quá trình giáo dục trẻ em từ mẫu giáo đến năm thứ ba và năm cuối của trường trung học. Năm học được chia thành hai học kỳ, lần đầu tiên bắt đầu vào đầu tháng ba và kết thúc vào giữa tháng bảy, lần thứ hai bắt đầu vào cuối tháng tám và kết thúc vào giữa tháng hai. Lịch trình không được chuẩn hóa thống nhất và thay đổi từ trường này sang trường khác. Hầu hết các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông của Hàn Quốc đều có đồng phục học sinh, được mô phỏng theo đồng phục kiểu phương Tây. Đồng phục nam thường bao gồm quần dài và áo sơ mi trắng, còn nữ mặc váy và áo sơ mi trắng (điều này chỉ áp dụng ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông).

Năm 2017, thống kê có khoảng 123.000 sinh viên quốc tế đang theo học tại các trường Đại học của Hàn Quốc, trong số đó, hơn một nửa đến từ Trung Quốc. Cũng theo Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ nước này, số lượng học bổng cho sinh viên nước ngoài tại Hàn Quốc sẽ tăng gấp đôi (tuỳ theo chương trình) theo từng năm và số lượng dự kiến sẽ tăng lên tới hơn 200.000 sinh viên vào năm 2023.[257]

Hàn Quốc là một trong những quốc gia hàng đầu trong OECD về kỹ năng đọc viết, toán học và khoa học với số học sinh trung bình đạt điểm 519 so với mức trung bình của OECD là 492 - đứng thứ 9 trên thế giới, xếp hạng 4 châu Á về năng lực Anh ngữ trong năm 2020 theo công bố của tổ chức giáo dục quốc tế EF[258] và là một trong những nước có lực lượng lao động với trình độ học vấn bình quân cao nhất thế giới trong OECD[259]. Hàn Quốc nổi tiếng với quan điểm "chạy đua" về giáo dục, nơi nỗi ám ảnh quốc gia về vấn đề dạy và học được gọi là cơn sốt giáo dục[260]. Tuy vậy, "nỗi ám ảnh" về học tập này về một khía cạnh khác; cũng đem lại thành quả tích cực - đã giúp cho quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên này liên tục đứng top đầu trong các bảng xếp hạng giáo dục quốc tế, trong đó, năm 2014, trong bảng xếp hạng Toán học và Khoa học của sinh viên do Tổ chức Hợp tác và Kinh tế và Phát triển (OECD) công bố, Hàn Quốc xếp thứ hai trên toàn thế giới chỉ sau Singapore.[261]

Hàn Quốc cũng xếp thứ hai về toán học và văn học, đứng thứ nhất về giải quyết vấn đề. Mặc dù học sinh và sinh viên Hàn Quốc thường được xếp hạng cao trong các bài kiểm tra, cuộc thi kiến thức và so sánh quốc tế, tuy nhiên hệ thống giáo dục đôi khi bị lên án vì tập trung nhấn mạnh vào việc học thụ động và học thuộc lòng. Cũng giống như hệ thống giáo dục tại những quốc gia Đông Á láng giềng khác như Trung Quốc và Nhật Bản, hệ thống giáo dục, thi cử và tuyển sinh Đại học của Hàn Quốc khắt khe, khắc nghiệt, cạnh tranh và rập khuôn hơn hệ thống giáo dục ở hầu hết các nước phương Tây[262]. Đặc điểm nổi bật nhất của giáo dục Hàn Quốc là sự cạnh tranh khốc liệt. Cuộc đua đến với các trường đại học hàng đầu sớm được khởi tranh bắt đầu ngay từ lớp mẫu giáo, khi lên các cấp độ cao hơn, trường tiểu học và trung học giống như một đấu trường để tranh giành thành tích, điểm số, học sinh Hàn Quốc hiện nay học trung bình 16 tiếng/ngày - bao gồm cả việc học chính, học thêm giờ, ăn bữa tối tại trường và học tiếp luôn sang đến hết ngày thứ bảy đồng thời vẫn phải chịu một số hình phạt thể xác nếu học tập không tốt, không đạt được điểm cao[263], nhưng chỉ điểm cao hay vừa đủ đậu vẫn là không đủ, điều quan trọng là điểm của mỗi học sinh này luôn phải tốt hơn những người khác. Điểm mấu chốt của nền giáo dục Hàn Quốc là lấy thi cử làm trung tâm. Su-neung (Tu năng), tức kỳ thi tuyển sinh đại học - là cánh cửa duy nhất dẫn học sinh-thanh niên đến với sự nghiệp, tiền tài, thành công, địa vị xã hội và khả năng kết hôn trong cuộc sống. Khi Su-neung diễn ra, học sinh-thí sinh tự do thi liên tục 8 tiếng trong một ngày, cùng vào khoảng thời gian đó, phương tiện giao thông bị cấm bấm còi, hạn chế di chuyển vào những tuyến đường xung quanh địa điểm thi, các văn phòng, công sở bắt đầu vào làm muộn hơn thường nhật, lực lượng cảnh sát, y tế, cứu hỏa, bảo vệ,... túc trực toàn thời gian, sẵn sàng trợ giúp thí sinh khi xảy ra sự cố, máy bay dân sự tạm dừng cất-hạ cánh trong thời gian diễn ra phần thi nghe của môn tiếng Anh, các địa điểm tôn giáo như chùa, nhà thờ,... mở cửa nhiều ngày liền để phục vụ nhu cầu tâm linh; như cầu nguyện, cầu may mắn, bình an, thuận lợi,... cho con em mình trong kỳ thi của các bậc phụ huynh. Ngoài ra, việc thành lập các trường tư thục độc lập với học phí cao (Hagwon) cũng bị các bậc cha mẹ Hàn Quốc lên án như là một vấn đề lớn, nhức nhối của xã hội.[252]

Giáo dục đại học luôn được đặt lên hàng đầu trong xã hội Hàn Quốc, được xem là một trong những nền tảng cơ bản của cuộc sống. Thành công trong giáo dục đại học là niềm tự hào của các gia đình và là điều cần thiết để cải thiện vị thế của một người trong xã hội Hàn Quốc. Người Hàn Quốc coi việc tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu là mục tiêu cao nhất vì điều đó sẽ dẫn đến một công việc tốt. Những người không đạt được giáo dục đại học phải đối mặt với nhiều định kiến và thường bị coi là "công dân hạng hai", dẫn đến triển vọng công việc thấp cũng như khó lòng cải thiện được địa vị trong xã hội.[264]

Ý kiến ​​quốc tế về hệ thống giáo dục Hàn Quốc hiện đang gây nhiều tranh cãi. Hệ thống này đã được ca ngợi vì nhiều lý do, bao gồm kết quả kiểm tra tương đối cao và vai trò chính của nó trong việc mở ra sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc đồng thời tạo ra một trong những lực lượng lao động có tay nghề, kỹ năng làm việc cùng khả năng sáng tạo cao nhất trên thế giới theo nghiên cứu và công bố của Bloomberg L.P.International Innovation Index (chỉ số đổi mới toàn cầu)[265][266]. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng ca ngợi hệ thống giáo dục nghiêm ngặt của Hàn Quốc, nơi có hơn 80% học sinh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào các trường đại học[267]. Tỷ lệ tuyển sinh đại học của quốc gia này đã tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, biến Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có bình quân trình độ học vấn cũng như chỉ số sáng tạo cao nhất thế giới[268][269][270]. Trong năm 2017, quốc gia này đứng thứ 5 thế giới về tỷ lệ phần trăm công dân từ 25 đến 64 tuổi hoàn thành giáo dục đại học với 47,7%. Ngoài ra, 69,8% người Hàn Quốc ở độ tuổi 25-34 cũng đã hoàn thành xong chương trình giáo dục đại học - đây là tỷ lệ cao nhất trong OECD.[271][272]

Hàn Quốc thường tự hào vì nền công nghiệp giáo dục của mình. Nhưng rồi đất nước này lại đi hơi quá trớn với nó - với 407 trường cao đẳng và đại học được thành lập, kết quả là sinh viên tốt nghiệp quá nhiều khiến cho tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Giáo dục đã trở thành một cổng chi tiêu tài chính làm tê liệt nền kinh tế lớn thứ 4 châu Á. Việc học thêm và luyện thi đại học gây nợ nần cho các gia đình nhiều hơn 3% GDP và tất cả chỉ để tạo ra những "thanh niên thất nghiệp tuổi 20".[42] Chính phủ đã đưa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp cao vào danh sách các nhóm ưu tiên hàng đầu bằng cách đầu tư vào các chương trình công cộng, nhưng chương trình này lại không đủ quan tâm đến những người trẻ tuổi. OECD cũng kêu gọi ngành công nghiệp Hàn Quốc tham gia đóng một vai trò xây dựng, thiết thực và hiệu quả hơn nữa trong việc đào tạo, nâng cao trình độ nghề vì việc quá tập trung vào nhóm cử nhân tốt nghiệp từ các trường đại học đang khiến cho tỷ lệ cạnh tranh việc làm tại khu vực đô thị tăng cao nhưng lại xảy ra hiện tượng người lao động rời bỏ vùng nông thôn dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động trong lĩnh vực thủ công, gây ra một làn sóng công nhân nhập cư với tay nghề, kỹ năng thấp.[273]

Y tế và chăm sóc sức khỏe

Hàn Quốc thực hiện một hệ thống bảo hiểm sức khỏe trong đó một người thanh toán một số tiền phí bảo hiểm hàng tháng nhất định tùy theo mức thu nhập và tài sản của họ. Nếu tham gia bảo hiểm y tế thì khi ốm đau hoặc thai sản sẽ tiết kiệm được một khoản tiền không nhỏ đến từ chi phí y tế, khám chữa bệnh và dịch vụ kèm theo,... Mặt khác, bản thân họ còn được kiểm tra sức khỏe định kỳ. Tất cả mọi người đều phải tham gia bảo hiểm y tế, ngoại trừ những người đã được hưởng trợ cấp y tế. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được chia làm 2 nhóm là đối tượng tham gia bảo hiểm theo doanh nghiệp và đối tượng tham gia bảo hiểm theo khu vực. Tất cả công dân, người lao động, công nhân, nhân viên, công chức của doanh nghiệp và giáo viên đều được gọi là đối tượng tham gia bảo hiểm doanh nghiệp. Theo quy định gia nhập bảo hiểm doanh nghiệp, trong trường hợp là người duy trì đời sống chính trong gia đình và có đầy đủ điều kiện thu nhập cùng điều kiện phụng dưỡng phù hợp với quy định được ghi trong quy tắc thi hành luật bảo hiểm sức khỏe thì sẽ có thể đăng ký vào bảo hiểm doanh nghiệp bảo trợ người thân. Trong trường hợp có thu nhập riêng ngoài phần tiền lương thì sau khi trừ một khoản tiền từ tổng thu nhập ra theo quy định, bản thân người đó phải chi trả toàn bộ 100% tỷ lệ phí bảo hiểm được áp dụng.

Người tham gia bảo hiểm sức khỏe khi nhận sự trị liệu tại bệnh viện thì một phần trong lệ phí trị liệu sẽ do Công đoàn bảo hiểm sức khỏe quốc dân chi trả. Bên cạnh đó, họ còn nhận được ưu đãi trong việc khám bệnh, kiểm tra sức khỏe, tùy theo độ tuổi mà có sự khác nhau nhưng thường là hai năm một lần.

Kinh tế

Kinh tế Hàn Quốc bao gồm các đặc điểm nổi bật như: hỗn hợp, cạnh tranh, tự do cao, ít có sự can thiệp của chính phủ và phát triển.[274][275] Hiện nay, Hàn Quốc được xếp vào nhóm quốc gia phát triển trên thế giới. Nền kinh tế Hàn Quốc thường được các nhà kinh tế học như Milton Friedmanviện Cato (Hoa Kỳ) xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành.

Kinh tế Hàn Quốc là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới từ đầu những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990 và vẫn tiếp tục tăng trưởng đều đặn trong thập niên 2000. Với quy mô, chỉ số kinh tế liên tục thăng hạng kết hợp các ngành chế tạo, công nghiệp nặng tiên tiến, Hàn Quốc cùng với các quốc gia Singapore, Đài Loan và Đặc khu hành chính Hồng Kông được gọi với biệt danh "4 con Rồng kinh tế châu Á".[276]

Nền kinh tế Hàn Quốc chịu sự ảnh hưởng cũng như chi phối lớn bởi các tập đoàn tài phiệt do những gia tộc đại tư bản điều hành (Chaebol). Những Chaebol lớn có thể kể tới như Samsung, Hyundai, Kia, LG, Lotte, CJ, SK, Shinsegae hay Daewoo. Từ những năm 1970, các Chaebol Hàn Quốc bắt đầu xâm nhập và tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới, biến quốc gia này trở thành một thực thể thương mại quốc tế quan trọng. Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính châu Á năm 1997, nhiều chi nhánh của các tập đoàn này ở nước ngoài đã phải đóng cửa. Một ví dụ điển hình là Daewoo - một trong những Chaebol có quy mô cùng tầm ảnh hưởng lớn mạnh nhất đối với nền kinh tế Hàn Quốc đã sụp đổ, phải tái cơ cấu và bán bộ phận sản xuất xe hơi cho tập đoàn General Motors của Mỹ (tạo nên hãng xe hơi nội địa GM Daewoo như hiện nay)[277].

Năm 1997, giống như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tài chính nặng nề. Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ nước này đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế số tiền 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo như: tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng kinh tế thị trường hoàn chỉnh, giảm bớt quyền lực của các nhà tài phiệt kết hợp bảo vệ nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị - kinh doanh,... Mặt khác, chính phủ Hàn Quốc tái áp dụng nghiêm ngặt chính sách thắt lưng buộc bụng kết hợp huy động người dân quyên góp tiền vàng ủng hộ. Kết quả là Hàn Quốc đã nhanh chóng khắc phục khủng hoảng trong vòng 3 năm (1998-2000) đồng thời trả xong nợ cho IMF, dự trữ ngoại hối đạt 133 tỷ USD (tháng 7/2003).

Hàn Quốc tiếp tục duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong khoảng thời gian sau đó, đạt mức 6,2% trong năm 2010[278], tuy vậy đến năm 2016 đã tụt xuống chỉ còn hơn 2,6%. Năm 2019, Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ 7 thế giới về kim ngạch xuất khẩu[279], hạng 9 về nhập khẩu[280]. Cùng năm 2019, Hàn Quốc đứng thứ 20 toàn cầu trong bảng xếp hạng về chỉ số thương hiệu quốc gia công bố bởi Future Brand[281]. Cũng trong năm đó, theo công bố, đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, Hàn Quốc xếp hạng 4 châu Á sau Singapore, Hồng Kông và Nhật Bản, đứng thứ 13 thế giới trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu[282]. Năm 2020, Brand Finance - đơn vị chuyên định giá thương hiệu và tư vấn chiến lược độc lập của Vương quốc Anh công bố báo cáo về thương hiệu quốc gia, theo đó, tổng giá trị của các thương hiệu Hàn Quốc xếp thứ 4 châu Á sau Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời đứng thứ 10 toàn cầu.[283] Về chỉ số tự do kinh tế, Hàn Quốc xếp thứ 6 châu Á, hạng 25 thế giới.[284]

Ngoài những cái tên quen thuộc; phổ biến, Hàn Quốc còn là quê hương của một số thương hiệu nổi tiếng khác như: KT (viễn thông), Pantech (điện tử tiêu dùng), SsangYong, Renault Samsung, Genesis (xe hơi), Hanwha (quân sự - quốc phòng), Posco (thép), Doosan, Kumho Asiana, Hyosung (công nghiệp), Hanjin (vận tải), Hansol (hóa chất - công nghệ sinh học), GS (năng lượng), Tous les Jours, Nongshim (thực phẩm), Shinhan, Woori (ngân hàng), Coupang (thương mại điện tử), CGV (điện ảnh, kinh doanh cụm rạp chiếu phim và các dịch vụ giải trí),...

Năm 2020, Hàn Quốc là nền kinh tế có quy mô lớn thứ 10 trên thế giới tính theo GDP danh nghĩa[20][21], hạng 14 theo sức mua tương đương[285]. Thu nhập bình quân đầu người lần lượt xếp hạng 26 theo danh nghĩa[286] và 24 thế giới theo sức mua[287]. Nền kinh tế dựa vào xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn như công nghiệp nặng, điện tử tiêu dùng, xe hơi, đóng tàu, sản xuất máy móc tự động hóa, viễn thông, dược phẩm, thiết bị quân sự,... Ngoài ra, Hàn Quốc cũng là quốc gia phát triển trong các ngành dịch vụ, du lịch, nghệ thuật, thời trang và giải trí. Bên cạnh đó, cùng với Làn sóng Hàn Lưu (Hallyu), Hàn Quốc là một trong những thị trường dẫn đầu trong việc sáng tạo ra xu hướng mới trong các lĩnh vực như ẩm thực, điện ảnh, thời trang, làm đẹp, mỹ phẩm,...

Du lịch

Seoraksan

Hàn Quốc có nhiều khu du lịch với cảnh đẹp cũng như văn hóa giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Thủ đô Seoul có nhiều cung điện hoàng gia cổ được xây dựng từ thời Joseon. Ngoài ra, những trung tâm giải trí lớn như Lotte World, công viên Everland, các chợ Dongdaemun, Gwangjang, Noryangjin, Gyeongdong, NamdaemunJagalchi,... luôn nhộn nhịp, du khách tới đây có thể dễ dàng tìm mua đủ các loại thực phẩm, hàng hóa theo nhu cầu. Ngoài Seoul, Hàn Quốc còn có các điểm du lịch nổi tiếng khác như đảo Nami, đảo Jeju, đỉnh Namsan, núi Seorak, bãi biển Haeundae, Khu phi quân sự Triều Tiên, Myeong-dong, Incheon, Busan, Gyeongju, Gangwon, Yongin hay Jeonju,...

Trong năm 2016, Hàn Quốc đón khoảng 17 triệu lượt khách du lịch nước ngoài[301] Viện nghiên cứu Hyundai cũng báo cáo rằng Làn sóng Hàn Quốc có tác động trực tiếp trong việc khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ngược trở lại thị trường nước này thông qua nhu cầu lớn về sản phẩm cùng chất lượng dịch vụ du lịch, đặc biệt là từ Trung Quốc và Nhật Bản.

Ngành du lịch Hàn Quốc được phát triển, quảng bá và thúc đẩy bởi nhiều yếu tố như chính sách hỗ trợ từ phía chính phủ, các chiến dịch truyền thông đại chúng, sự phổ biến của nhạc K-pop cùng điện ảnh, ngoài ra còn có những thế mạnh tự nhiên khác như văn hóa truyền thống, ẩm thực và cảnh quan môi trường tự nhiên.

Một số địa điểm nổi tiếng:

Truyền thông

KBS - đài phát thanh quốc gia
Educational Broadcasting System.JPG Chosun Ilbo Building.jpg
EBS
Đài phát thanh
giáo dục
Chosun Ilbo
Cơ quan báo chí
lớn, lâu đời nhất

Các phương tiện truyền thông cơ bản của Hàn Quốc bao gồm có báo chí, truyền hình, đài phát thanh và Internet. Báo chí ở Hàn Quốc bắt đầu xuất hiện khi đất nước mở cửa giao thương với nước ngoài vào thế kỷ XIX và phát triển kể từ đó. Các tờ báo lớn bao gồm: Chosun Ilbo, JoongAng IlboDong-A Ilbo. Tất cả những tờ báo này đều được xuất bản bằng tiếng Hàn, những báo có thêm phiên bản tiếng Anh bao gồm: The Korea Herald, The Korea TimesJoonAng Daily.[302]

Giống như báo chí, phần lớn các chương trình phát thanh cũng được phát bằng tiếng Hàn bên cạnh một số nhà đài cung cấp thêm những chương trình hoàn toàn bằng tiếng Anh.[303]

Hệ thống chương trình truyền hình ở Hàn Quốc cũng được phát sóng phần lớn bằng tiếng Hàn, các nội dung nước ngoài thì được lồng tiếng. Những kênh truyền hình lớn nhất của Hàn Quốc bao gồm có: KBS, MBC, EBS, SBS, Mnet, JTBCtvN. Ngoài ra còn có các kênh phát sóng chương trình độc quyền bằng tiếng Anh chẳng hạn như Arirang TV.[304]

Internet là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người Hàn Quốc, trung bình cứ 10 hộ gia đình thì có tới 9 hộ có dịch vụ Internet. Đây là một trong những quốc gia có số lượng thuê bao đăng ký sử dụng Internet trên đầu người lớn nhất, số lượng công ty cung cấp dịch vụ Internet trên đầu người lớn nhất cùng tốc độ kết nối thuộc nhóm nhanh nhất trên thế giới[305][306]. Hàn Quốc cũng là một trong những nước dẫn đầu về công nghệ DMB.[307]

Giao thông

Giao thông Hàn Quốc bao gồm có các tuyến đường sắt, đường bộ cao tốc, xe buýt, dịch vụ phà và các tuyến đường hàng không trải dài khắp đất nước, 91% các tuyến đường bộ tại Hàn Quốc được trải nhựa, trong khi tỷ lệ này của Bắc Triều Tiên chỉ là 6%.[308]

Hệ thống tàu điện cao tốc tại Hàn Quốc là một trong những mạng lưới đường sắt cao tốc nhanh, đúng giờ và có mật độ phân bố dày đặc nhất trên thế giới[309][310]. Korea Expressway Corporation là tập đoàn vận hành hệ thống đường cao tốc thu phí và các tiện nghi dịch vụ trên đường. Korail điều hành hệ thống đường sắt tại tất cả các thành phố lớn của Hàn Quốc. Hai tuyến đường sắt là Gyeong-ui và DongHae-Bukbu đi đến biên giới với Bắc Triều Tiên hiện đang được kết nối lại. Hệ thống đường sắt cao tốc của Hàn Quốc - KTX, cung cấp dịch vụ đường sắt tốc độ cao dọc theo các tuyến Gyeongbu và Honam. Cả sáu thành phố lớn nhất của Hàn Quốc - Seoul, Busan, Daegu, Gwangju, Daejeon và Incheon,... đều có hệ thống tàu điện ngầm. Hệ thống xe buýt tốc độ cao cũng có mặt ở hầu hết các thành phố trên cả nước.[311]

Sân bay lớn nhất của Hàn Quốc là Sân bay quốc tế Incheon, phục vụ trên 60 triệu hành khách trong năm 2016[312]. Các sân bay quốc tế khác bao gồm có: Gimpo, GimhaeJeju. Ngoài ra còn có nhiều sân bay khác được hình thành như một phần của sự bùng nổ xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng chưa được tận dụng hết mức. Ở Hàn Quốc, phần lớn trên nóc các tòa nhà cao tầng đều có bãi đậu trực thăng. Hãng hàng không quốc gia cũng như lớn nhất - Korean Air đã phục vụ tổng cộng hơn 30 triệu hành khách, trong đó bao gồm gần 20 triệu khách quốc tế trong năm 2016[313]. Hãng hàng không lớn thứ hai, Asiana Airlines cũng phục vụ các chuyến bay trong nước và quốc tế. Kết hợp lại, các hãng hàng không Hàn Quốc phục vụ gần 300 tuyến quốc tế. Các hãng hàng không có quy mô nhỏ hơn, chẳng hạn như Jeju Air, thì cung cấp dịch vụ bay nội địa với giá vé thấp hơn.[314] Hàn Quốc cùng với Korean Air là một thành viên sáng lập của Liên minh Hàng không quốc tế SkyTeam.[315]

Sân bay quốc tế Incheon và Korean Air là hai đơn vị đầu tàu của ngành hàng không Hàn Quốc, thường xuyên được vinh danh là những sân bay và hãng hàng không tốt nhất trên thế giới.[316][317][318][319]

Khoa học và công nghệ

Thời kỳ cổ đại

Tàu con rùa
Hỏa xa

Nền khoa học và công nghệ Triều Tiên cổ đại đã phát minh ra kỹ thuật in ấn dùng kim loại, đồng hồ tự gõ, máy đo lượng nước mưa đầu tiên và tàu chiến bọc chông sắt. Ngoài ra, một trong những hiện vật nổi tiếng khác là Chiêm tinh đài - một đài quan sát cao 9,4 mét được xây dựng vào khoảng năm 634.

Mẫu bản in khắc gỗ cổ xưa nhất còn sót lại là bộ Kinh Đại bi tâm Đà la ni Mô cấu tinh quang đại, bản mẫu này được tin rằng đã được in tại Hàn Quốc vào khoảng những năm 750-751, nếu đúng như vậy thì bản in còn nhiều tuổi hơn cả Kim Cương kinh.[320] Bát vạn Đại tạng kinh là tập hợp các bản khắc kinh Phật Hán văn với khoảng trên 81.000 khối gỗ được in dưới thời vua Cao Ly Cao Tông vào thế kỷ 13, đây là phiên bản Đại tạng kinh được bảo tồn nguyên vẹn và đầy đủ nhất về giáo quy bằng chữ Hán của thế giới.[321] Tơ Cao Ly được người phương Tây đánh giá cao và đồ gốm sứ cũng được săn đón. Gốm Cao Ly, đặc biệt là loại làm bằng men ngọc, có màu xanh dương hoặc xanh lá là những loại có chất lượng tốt nhất và luôn được các thương gia Ả-Rập tìm mua, sưu tầm.

Trong thời kỳ của nhà Triều Tiên, những Quy bối thuyền (thuyền chiến gỗ bọc gai sắt, thiết kế và đóng theo hình mai rùa) đã được phát minh cùng nhiều loại vũ khí độc đáo khác như Phi kích thần thiên lôi và Hỏa xa.[322][323][324] Các loại vũ khí này về sau được vị danh tướng Lý Thuấn Thần sử dụng trong cuộc kháng chiến của quân dân Triều Tiên chống lại quân xâm lược nhà Kim (Trung Quốc) và Nhật Bản.

Bảng chữ cái Hangul của Hàn Quốc cũng được vua Triều Tiên Thế Tông phát minh trong thời gian này.

Thời kỳ hiện đại

Khái quát

Hàn Quốc hiện đang là một trong những quốc gia dẫn đầu thế giới trong nhiều ngành khoa học ứng dụng, điện tử, công nghệ[325][326][327] và là quốc gia sáng tạo nhất trên thế giới năm 2021[328][329][330]. Kể từ sau khi nền kinh tế của đất nước này được công nghiệp hóa, nhiều tập đoàn công nghiệp nặng - công nghệ cao đã lần lượt ra đời, giữ vị trí quan trọng, không thể thay thế trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Samsung Electronics, SK Hynix là những công ty sản xuất hàng điện tử, máy tính, điện thoại di động, chất bán dẫn, chip nhớ, hóa chất, vi mạch, CPU,... hàng đầu thế giới trong nhiều năm[331][332][333], LG Electronics là nhà sản xuất thiết bị gia dụng hàng đầu thế giới tính theo doanh thu năm 2021[334], liên minh Hyundai - Kia lần lượt là các nhà sản xuất xe hơi có giá trị thương hiệu lớn thứ 5 và 13 toàn cầu trong năm 2020[335] - là hạt nhân chính thúc đẩy, biến Hàn Quốc trở thành một trong những cường quốc về sản xuất và xuất khẩu ô tô trên thế giới[336][337], ngoài ra, liên minh này cùng với thương hiệu hạng sang Genesis đồng thời cũng được đánh giá cao về chất lượng sản phẩm tại những thị trường khó tính như Đức[293] hay Hoa Kỳ[338]. Samsung C&T là công ty xây dựng đa quốc gia hàng đầu trên thế giới - đơn vị đã xây dựng nên các công trình nhân tạo cao nhất hiện nay như tháp đôi Petronas Twin TowersMerdeka 118 ở thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia (các tòa tháp cao nhất hiện nay và trong tương lai gần của Malaysia), Đài Bắc 101 ở thủ đô Đài Bắc, Đài Loan (tòa nhà cao nhất tại Đài Loan nói riêng cũng như thế giới nói chung từ năm 2004 đến 2010) và đặc biệt là Burj KhalifaDubai, thành phố lớn nhất của UAE - công trình nhân tạo cao nhất trong lịch sử thế giới từng được xây dựng, cùng nhiều công trình tiêu biểu, quan trọng khác trên toàn cầu.

Năm 2010, trên 90% người Hàn Quốc sở hữu ít nhất một chiếc điện thoại di động[339], quốc gia này có tốc độ đường truyền kết nối Internet thuộc nhóm nhanh nhất thế giới[305][306]. Năm 2018, Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thương mại hóa thế hệ mạng di động thứ 5 (5G)[340][341][342] thông qua các nhà mạng viễn thông lớn như SK, KT, LG Uplus, Samsung,... Ngoài ra, không chỉ tiến hành thương mại hóa sớm nhất[343][344], Hàn Quốc còn dẫn đầu thế giới về công nghệ 5G.[345][346][347]

Ngoài công nghệ viễn thông, Hàn Quốc còn là một quốc gia mạnh về lập trình, thiết kế trò chơi điện tử trực tuyến, độc lập cũng như di động. Một số tựa game nổi tiếng được phát triển bởi người Hàn có thể kể đến như: PUBG, Play Together, Sudden Attack, CrossFire, FIFA Online, Blade & Soul, MU Online, hay Counter-Strike,...

Hàn Quốc là quốc gia thứ 22 trong lịch sử thế giới có vệ tinh nội địa được phóng thành công vào quỹ đạo không gian vũ trụ với KITSAT-1 năm 1992.

Năm 2020, Hàn Quốc là quốc gia được xếp hạng 14 thế giới, thứ 2 châu Á (sau Singapore) trong chỉ số sẵn sàng kết nối mạng (một phương thức để xác định mức độ phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của một quốc gia) công bố bởi Diễn đàn kinh tế thế giới.[348] Đất nước này cũng đồng thời đứng hạng 2 thế giới sau Israel trong top 5 quốc gia chi nhiều phần trăm ngân sách trên tổng GDP nhất cho các hoạt động nghiên cứu & phát triển cùng với Nhật Bản, Thụy Sĩ và Thụy Điển.[256]

Công nghệ vũ trụ

Danh sách các vệ tinh dân sự:[349][350][351]

Vệ tinh Loại Trang bị Quỹ đạo Hoạt động Trạng thái
KOMPSAT 1 (Arirang 1) Quan sát trái đất EO SSO
1999-2008
Nghỉ hưu
KOMPSAT 2 (Arirang 2) Quan sát trái đất EO SSO
2006-2015
Nghỉ hưu
KOMPSAT 3 (Arirang 3) Quan sát trái đất EO SSO
2012-
Hoạt động
KOMPSAT 3A (Arirang 3A) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2015-
Hoạt động
KOMPSAT 5 (Arirang 5) Quan sát trái đất SAR SSO
2013-
Hoạt động
KOMPSAT 6 (Arirang 6) Quan sát trái đất SAR SSO
2022
Dự kiến
KOMPSAT 7 (Arirang 7) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2022
Dự kiến
KOMPSAT 7A (Arirang 7A) Quan sát trái đất EO/IR SSO
2024
Dự kiến
CAS 500-1 (Compact Advanced Satellite 500) Quan sát trái đất EO SSO
2021-
Hoạt động
CAS 500-2 (Compact Advanced Satellite 500) Quan sát trái đất EO SSO
2022
Dự kiến
GEO-KOMPSAT 1 (COMS 1, Cheollian 1) Khí tượng học Máy chụp ảnh Meteo, máy ảnh màu đại dương, bộ phát đáp băng tần S-/L, bộ phát đáp băng tần Ka GEO
2010-
Hoạt động
GEO-KOMPSAT 2A (GK 2A, Cheollian 2A) Khí tượng học AMI (máy chụp ảnh khí tượng nâng cao) và KSEM (thiết bị giám sát môi trường không gian Hàn Quốc) GEO
2018-
Hoạt động
GEO-KOMPSAT 2B (GK 2B, Cheollian 2B) Khí tượng học GOCI-II (máy ảnh màu đại dương địa tĩnh-II) và GEMS (cảm biến giám sát môi trường) GEO
2020-
Hoạt động
KPLO (Korea Pathfinder Lunar Orbiter) Quan sát Mặt Trăng LUTI, PolCam, KMAG, KGRS, DTNPL, ShadowCam LO
2022
Dự kiến

Công nghệ hạt nhân

Hàn Quốc trên bản đồ Hàn Quốc
Hanbit
Hanbit
Hanul
Hanul
Shin Hanul
Shin Hanul
Kori
Kori
Shin Kori
Shin Kori
Wolseong
Wolseong
Shin Wolseong
Shin Wolseong
Cheonji
Cheonji
Bản đồ các nhà máy điện hạt nhân ở Hàn Quốc
  • Location dot red.svg Đang hoạt động
  • Location dot green.svg Đang xây dựng
  • Location dot blue.svg Hủy bỏ

Hàn Quốc bắt đầu phát triển chương trình điện hạt nhân từ đầu thập niên 1970 và ngày nay hiện đang là một trong những nhà sản xuất năng lượng hạt nhân lớn nhất trên thế giới.[352] Năng lượng hạt nhân cung cấp phần lớn sản lượng điện hàng năm và nước này hiện đang tích cực nghiên cứu, nâng cấp nhiều loại lò phản ứng tiên tiến, bao gồm các lò phản ứng mô-đun nhỏ, lò phản ứng nhanh-biến đổi kim loại lỏng và thiết kế sản xuất Hydro ở nhiệt độ cao. Sản xuất nhiên liệu và công nghệ xử lý chất thải hạt nhân cũng được phát triển kèm theo. Quốc gia này là một thành viên của dự án ITER.[353] Chính sách an ninh năng lượng của Hàn Quốc được thúc đẩy với mong muốn giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu. Hệ thống nhà máy điện hạt nhân ở đây chủ yếu bao gồm các lò phản ứng nước điều áp (PWR) được đưa vào vận hành từ năm 1977 đến năm 2019, bốn lò phản ứng khác đang được xây dựng tại Shin Kori và Shin Hanul nhằm mục tiêu bổ sung thêm công suất. Lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của nước này, Kori 1, đã ngừng hoạt động vào năm 2017. Lò phản ứng Đơn vị 1 của Wolsong được đưa vào hoạt động thay thế cùng năm cho đến 2019.[352]

Gần đây, trước những lo ngại về tính an toàn sau sự cố hạt nhân tại nhà máy điện Fukushima của Nhật Bản, chính phủ Hàn Quốc đã công bố kế hoạch dần loại bỏ, thay thế loại năng lượng này, theo đó sẽ cắt giảm số lượng các lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động hiện nay xuống còn 14 vào năm 2038.[352]

Hàn Quốc là nhà xuất khẩu lò phản ứng hạt nhân mới nổi, đã ký kết thỏa thuận với UAE để xây dựng và duy trì bốn lò phản ứng hạt nhân tiên tiến[354], với Jordan cho một lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu[355][356] và với Argentina để xây dựng và sửa chữa những lò phản ứng hạt nhân nước nặng. Kể từ năm 2010, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu đàm phán về việc tiến hành xây dựng hai lò phản ứng hạt nhân mới[357][358][359]. Quốc gia này cũng đang chuẩn bị đấu thầu để xây dựng lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ cho Argentina.[359]

Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu, tiến hành xây dựng và vận hành thành công lò phản ứng nhiệt hạch - hay còn được giới khoa học gọi với biệt danh "Mặt Trời nhân tạo". Bên cạnh đó, công trình này xác lập kỷ lục thế giới mới khi thành công trong việc duy trì luồng plasma siêu nóng suốt 30 giây trong lò phản ứng Tokamak.[360]

Danh sách các nhà máy điện hạt nhân ở Hàn Quốc cùng kế hoạch mở rộng, nâng cao công suất trong tương lai:[361]

Tên Số Lò phản ứng Trạng thái Công suất tính bằng MW Khởi công xây dựng Hoạt động thương mại Hoạt động khép kín
Loại Kiểu Nhận Tổng
Hanbit 1 PWR Westinghouse F Hoạt động 960 996 4 tháng 6 năm 1981 25 tháng 8 năm 1986
2 PWR WH F Hoạt động 958 993 10 tháng 12 năm 1981 10 tháng 6 năm 1987
3 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1050 23 tháng 12 năm 1989 31 tháng 3 năm 1995
4 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1049 26 tháng 5 năm 1990 1 tháng 1 năm 1996
5 PWR OPR-1000 Hoạt động 997 1053 29 tháng 6 năm 1997 21 tháng 5 năm 2002
6 PWR OPR-1000 Hoạt động 995 1052 20 tháng 11 năm 1997 24 tháng 12 năm 2002
Hanul 1 PWR France CPI Hoạt động 960 1003 26 tháng 1 năm 1983 10 tháng 9 năm 1988
2 PWR France CPI Hoạt động 962 1008 5 tháng 7 năm 1983 30 tháng 9 năm 1989
3 PWR OPR-1000 Hoạt động 994 1050 21 tháng 7 năm 1993 11 tháng 8 năm 1998
4 PWR OPR-1000 Hoạt động 998 1053 1 tháng 11 năm 1993 31 tháng 12 năm 1999
5 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1051 1 tháng 10 năm 1999 29 tháng 7 năm 2004
6 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1051 29 tháng 9 năm 2000 22 tháng 4 năm 2005
Shin-Hanul 1 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 10 tháng 7 năm 2012
2 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 19 tháng 7 năm 2012
Kori 1 PWR WH 60 Đóng cửa 576 608 27 tháng 4 năm 1972 29 tháng 4 năm 1978 18 tháng 6 năm 2017
2 PWR WH F Hoạt động 640 681 4 tháng 12 năm 1977 25 tháng 7 năm 1983
3 PWR WH F Hoạt động 1011 1044 1 tháng 10 năm 1979 30 tháng 9 năm 1985
4 PWR WH F Hoạt động 1012 1044 1 tháng 4 năm 1980 29 tháng 4 năm 1986
Shin-Kori 1 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1046 16 tháng 6 năm 2006 28 tháng 2 năm 2011
2 PWR OPR-1000 Hoạt động 996 1047 5 tháng 6 năm 2007 20 tháng 7 năm 2012
3 PWR APR-1400 Hoạt động 1416 1486 16 tháng 10 năm 2008 15 tháng 1 năm 2016
4 PWR APR-1400 Hoạt động 1418 1455 19 tháng 8 năm 2009 29 tháng 8 năm 2019[362]
5 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 1 tháng 4 năm 2017
6 PWR APR-1400 Đang xây dựng 1340 1400 20 tháng 9 năm 2018
Wolsong 1 PHWR CANDU-6 Đóng cửa 657 687 30 tháng 10 năm 1977 22 tháng 4 năm 1983 24 tháng 12 năm 2019
2 PHWR CANDU-6 Hoạt động 655 678 22 tháng 6 năm 1992 1 tháng 7 năm 1997
3 PHWR CANDU-6 Hoạt động 684 698 17 tháng 3 năm 1994 1 tháng 7 năm 1998
4 PHWR CANDU-6 Hoạt động 688 703 22 tháng 7 năm 1994 1 tháng 10 năm 1999
Shin-Wolsong 1 PWR OPR-1000 Hoạt động 991 1043 20 tháng 11 năm 2007 31 tháng 7 năm 2012
2 PWR OPR-1000 Hoạt động 960 1000 23 tháng 9 năm 2008 26 tháng 2 năm 2015

Công suất dự kiến:

Lò phản ứng Thành phố tỉnh Công nghệ sơ cấp Công suất hiện tại (MWe) Công suất dự kiến ​​(MWe)
Kori Gijang Busan PWR 6040 7937
Hanul (tên cũ: Ulchin) Uljin Gyeongbuk PWR 5900 8700
Wolsong Gyeongju Gyeongbuk PHWR/PWR 2779 4779
Hanbit (tên cũ: Yeonggwang) Yeonggwang Jeonnam PWR 5900 5900
Cheonji (hủy bỏ + giữ nguyên) Yeongdeok Gyeongbuk PWR 3000 3000

Văn hóa

Khái quát

Sir Peter Paul Rubens - Portrait of the Artist - Google Art Project.jpg Sejong the Great Bronze statue 02.JPG
Sir Peter Paul Rubens
Người châu Âu đầu tiên
giới thiệu văn hóa
Joseon đến với phương Tây
Triều Tiên Thế Tông
Người đưa văn hóa
Joseon lên đỉnh cao
Trang phục thời Joseon
Văn hóa thứ bậc khi uống rượu luôn được người Hàn Quốc đặc biệt coi trọng.

Trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, đặc biệt là nhà Triều Tiên, văn hóa Triều Tiên đạt đến đỉnh cao dưới thời Triều Tiên Thế Tông (vua Sejong). Sau này, dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản, văn hóa Hàn Quốc cận đại chịu ảnh hưởng lớn từ nước láng giềng. Bước sang thời kỳ hiện đại, Hàn Quốc chia sẻ văn hóa truyền thống của mình với Bắc Triều Tiên, thế nhưng, hai miền đã phát triển các hình thức văn hóa đương đại khác biệt kể từ khi bán đảo bị chia cắt vào năm 1945. Trong lịch sử, mặc dù văn hóa của Hàn Quốc từng có khoảng thời gian dài chịu ảnh hưởng lớn và sâu sắc từ nước láng giềng Trung Quốc, tuy nhiên họ vẫn có thể tự phát triển một bản sắc văn hóa độc đáo khác biệt so với người hàng xóm. Nền văn hóa phong phú của Hàn Quốc đã để lại 19 di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, đứng thứ 3 trên thế giới, cùng với đó là 15 di sản thế giới[363]. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc tích cực khuyến khích bảo tồn nghệ thuật truyền thống cũng như nhiều hình thức nghệ thuật đương đại khác thông qua các chương trình tài trợ và giáo dục.

Sự công nghiệp hóa và đô thị hóa của Hàn Quốc đã mang lại nhiều thay đổi trong phong cách sống của người Hàn Quốc hiện đại. Kinh tế phát triển cùng lối sống thay đổi đã dẫn đến sự tập trung dân số tại các thành phố lớn, đặc biệt là thủ đô Seoul.

Uống nhiều rượu cùng cung cách uống rượu cũng là một nét văn hóa đặc sắc trong lối sống của người Hàn Quốc. Đây là một trong những quốc gia mà người dân tiêu thụ đồ uống có cồn với mức trung bình nhiều nhất trên thế giới trong năm 2018[364], tuy nhiên, sang đến năm 2021, con số này đã giảm đáng kể.[365]

Ngôn ngữ và chữ viết

Bản đồ biểu thị sự phân bố phương ngữ của tiếng Hàn Quốc
Chữ Hangul ban đầu có tên gọi là Hunmin jeong-eum - Huấn dân chính âm.

Ở Hàn Quốc, ngôn ngữ chính thức là tiếng Hàn Quốc. Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ này vào ngữ hệ Altai, một số khác thì cho rằng tiếng Hàn Quốc là một ngôn ngữ biệt lập. Kể từ bậc tiểu học, ngoài tiếng mẹ đẻ, các giáo viên bắt đầu dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này, tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành các ngoại ngữ chính. Các ngôn ngữ châu Âu khác như Pháp, Đức, Ý, Nga, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,... hay tiếng Ả-Rập hoặc tiếng Việt thì ít phổ biến hơn và thường được giảng dạy trong các trường đại học.

Khác với chữ viết của các nước láng giềng Đông Á, Hangul - chữ viết của người Hàn Quốc - sử dụng một bảng chữ cái gồm có 51 ký tự với 24 ký tự đơn và 27 ký tự kép. Những ký tự này được kết hợp lại theo âm tiết để tạo thành các chữ. Đối với những người chưa biết thì chữ Hangul cũng phức tạp giống như chữ Hán. Nhưng trên thực tế thì người học có thể nắm bắt được những kiến thức cơ bản về cách sử dụng loại chữ này chỉ sau 4 đến 5 tiếng đồng hồ, vì thế mà Hangul còn được gọi là Chữ viết buổi sáng (trong một buổi sáng là có thể học xong).

Hanja, bộ chữ Hán của người Hàn Quốc, có ý nghĩa tương tự như chữ Latinh ở các nước châu Âu. Giống như các ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á, rất nhiều từ trong tiếng Hàn Quốc có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên việc loại bỏ đi các thanh âm trong tiếng Hán dẫn đến việc trong tiếng Hàn Quốc có rất nhiều từ đồng âm. Các từ này được phát âm giống nhau nhưng mang ý nghĩa khác nhau và chỉ phân biệt được dựa vào ngữ cảnh. Vì vậy, để cho rõ nghĩa, trong các văn bản khoa học người Hàn Quốc thường ghi chú thích bằng chữ Hanja ở đằng sau những cụm từ quan trọng. Ngoài ra, trong giao tiếp thường nhật, trên các tấm danh thiếp, người Hàn cũng thường sử dụng chữ Hanja để giải thích ý nghĩa họ tên.

Trong thập niên 2000 của thế kỉ 21, những tín đồ Hồi giáo tại Hàn Quốc đã tiếp nhận thêm bảng chữ cái Ả-Rập và biến đổi lại để ghi âm tiếng Hàn gọi là Kuryan (tương tự như chữ Jawi của người Mã Lai). Hệ chữ này sử dụng văn tự Ả-Rập để ghi âm tiếng Hàn nhằm phục vụ cho hoạt động giao tiếp và truyền bá trong cộng đồng người Hồi giáo tại Hàn Quốc.

Nghệ thuật

Pansori - nghệ thuật hát ả đào
Talchum - nghệ thuật múa mặt nạ

Nghệ thuật Hàn Quốc truyền thống vốn chịu ảnh hưởng rất lớn từ Phật giáo và Nho giáo, có thể thấy trong nhiều bức tranh, tác phẩm điêu khắc, gốm sứ và nghệ thuật biểu diễn. Đồ gốm sứ Hàn Quốc, chẳng hạn như BaekjaBuncheong của nhà Triều Tiên, Celadon của vương quốc Cao Câu Ly nổi tiếng trên khắp thế giới. Ngoài ra, Trà đạo Hàn Quốc, Pansori, TalchumBuchaechum cũng là những nét văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc của quốc gia này.

Nghệ thuật hiện đại của Hàn Quốc sau chiến tranh bắt đầu phát triển vào những năm 1960 và 1970, khi các nghệ sĩ bắt đầu quan tâm đến hình dạng hình học và các chủ đề phi vật thể. Thiết lập sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên cũng là một chủ đề được yêu thích trong giai đoạn này. Cùng với những biến động xã hội, các vấn đề chính trị bắt đầu xuất hiện như một chủ đề lớn trong suốt thập niên 1980. Ngày nay, nghệ thuật Hàn Quốc truyền thống được quảng bá chủ yếu qua phim ảnh, du lịch cùng các sự kiện cũng như triển lãm quốc tế khác nhau.

Kiến trúc

Do lịch sử đầy biến động của Hàn Quốc, việc xây dựng và phá hủy các công trình kiến trúc được lặp đi lặp lại nhiều lần, dẫn đến sự pha trộn thú vị trong phong cách thiết kế.

Kiến trúc truyền thống Hàn Quốc được biểu hiện đặc trưng bởi sự hài hòa với thiên nhiên. Các kiến ​​trúc sư cổ đại đã thiết kế các hệ thống mái tranh và sàn gỗ sưởi ấm được gọi là Ondol. Người dân thuộc tầng lớp thượng lưu thường xây dựng những ngôi nhà lớn hơn với mái ngói cong thanh lịch hoặc mái hiên nâng. Kiến trúc truyền thống có thể được nhìn thấy trong các cung điện, đền thờ, địa danh tôn giáo, những ngôi nhà cổ được bảo tồn gọi là Hàn Ốc cùng nhiều địa điểm thăm quan nổi tiếng như làng dân gian Hahoe, làng Hanok Bukchon, làng YangdongGyeongjulàng dân tộc Hàn Quốc. Hàn Quốc sở hữu 15 di sản thế giới UNESCO.[363]

Kiến trúc phương Tây lần đầu tiên được giới thiệu đến Hàn Quốc vào cuối thế kỷ 19. Nhà thờ, văn phòng cho người nước ngoài, các trường trung học, đại học bắt đầu được xây dựng theo phong cách mới. Với sự sáp nhập của bán đào Triều Tiên vào Đế quốc Nhật Bản năm 1910, chế độ thuộc địa đã can thiệp vào nhiều di sản kiến ​​trúc truyền thống đồng thời kiến ​​trúc hiện đại theo phong cách Nhật Bản được áp đặt. Tuy nhiên, chiến tranh Triều Tiên đã phá hủy hầu hết các công trình xây dựng trong thời gian đó.

Kiến trúc Hàn Quốc bước vào giai đoạn phát triển mới trong quá trình tái thiết đất nước sau chiến tranh, xu hướng, phong cách kiến ​​trúc hiện đại được sử dụng rộng rãi. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong những thập niên 1970 và 1980, việc tái phát triển đã chứng kiến ​​nhiều triết lý kiến ​​trúc mới. Sau Olympic 1988, với sự mở cửa thị trường nội địa cho các kiến ​​trúc sư nước ngoài, kiến ​​trúc Hàn Quốc chứng kiến những thay đổi lớn trong phong cách thiết kế. Tuy vậy, kiến ​​trúc đương đại vẫn không ngừng cố gắng để cân bằng triết lý "hòa hợp với thiên nhiên" truyền thống.

Văn học

Ngũ lão hội thiệp đồ - tranh do họa sĩ Yu Suk vẽ năm 1861, miêu tả cảnh đàm đạo văn chương của giới trí thức thời Joseon.

Văn học hiện đại Hàn Quốc bắt nhịp khá chậm trước các xu thế mới, một phần do sự kiểm duyệt của chính quyền thuộc địa kết hợp với việc người dân nơi đây chưa có thói quen cũng như không được tiếp cận với nền văn học khai phóng của phương Tây. Trước năm 1945, tất cả các phong trào văn học, thơ ca yêu nước, cổ vũ tinh thần ái quốc ở Hàn Quốc đều bị coi là bất hợp pháp. Năm 1919, Kim Dong-in khai trương tạp chí Văn học Sáng tạo - mở ra hướng phổ cập văn chương hoàn toàn mới lạ, đánh dấu bước khởi đầu của nền văn học đương đại Hàn Quốc.

Ngày nay, văn hóa đọc sách và các tác phẩm văn học của Hàn Quốc thu hút một số lượng lớn độc giả. Những buổi đọc sách thậm chí còn được tổ chức ngoài trời tại các sân vận động.

Hwang Sok-yong là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất Hàn Quốc. Ông trải qua các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Đề tài chính trong các tác phẩm của ông là những mâu thuẫn giữa hai thái cực truyền thống và hiện đại.

Ẩm thực

Quán lều

Ẩm thực Hàn Quốc nổi tiếng nhất với món Kim chi, đây là một món ăn sử dụng quá trình lên men đặc biệt để bảo quản một số loại rau, trong đó phổ biến nhất là cải thảo và cải bắp. Khổ tiêu tương, Doenjang cùng Guk-ganjang là những loại nước chấm rất thông dụng trong bữa ăn hàng ngày cũng như tương tiêu và tương ớt là những gia vị điển hình của một nền ẩm thực nổi tiếng với vị cay.

Nhóm Gogigui - tiêu biểu như Bulgogi, Galbi, Dak galbi hay Samgyeopsal là những đặc sản từ thịt nổi tiếng. Cá biển cũng là thực phẩm phổ biến vì là loại thịt truyền thống mà người Hàn Quốc hay dùng trong bữa ăn. Galbi-tangDoenjang jjigae là những món xúp và canh hầm nổi tiếng, các món ăn phụ được gọi là Banchan.

Những món ăn nổi tiếng khác bao gồm Bibimbap, Jajangmyeon, Chimaek, Naengmyeon và các loại bánh Tteok. Ngoài ra, mì ăn liền (Ramyeon) cũng là một loại thức ăn nhanh phổ biến. Người Hàn Quốc rất thích ăn uống tại các Pojangmacha (quán lều bán dạo trên đường phố - một hình thức cơ sở thương mại dựa trên một căn lều nhỏ dựng bằng vải dù hoặc quầy hàng ven đường), ở đây người ta có thể mua Tteokbokki, Hotteok, khoai tây chiên mực, Sundae (dồi lợn luộc), khoai lang tẩm bột rán cùng các món nhậu,... Ngoài ra, ẩm thực Hàn Quốc còn có một số món ăn nhẹ phổ biến khác như bánh Choco Pie, kẹo đường Dalgona, bánh que Pepero, bánh tôm, bánh xèo hải sản, bánh hành (Haemul Pajeon), bánh gạo giòn hay Nurungji (cơm cháy).

Các loại đồ uống có cồn phổ biến của Hàn Quốc bao gồm có Soju (rượu nếp), Makgeolli (rượu gạo) và Bokbunja-ju (rượu trái cây), đặc biệt, người Hàn còn hay pha rượu Soju với bia tươi (Somaek), sữa chua hoặc Sprite - một loại nước ngọt có ga; để tăng độ mạnh cho thức uống truyền thống này.

Một số món ăn - đồ uống nổi tiếng:

Âm nhạc

BTS - nhóm nhạc nam K-pop thành công nhất hiện nay
Blackpink - nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất
Twice - nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Nhật Bản.[366][367]

K-pop là dòng nhạc pop của Hàn Quốc, ban đầu chịu sự ảnh hưởng của J-pop (nhạc pop Nhật Bản). Nhờ chiến lược đầu tư, phát triển bài bản cùng sự quảng bá mạnh mẽ của truyền thông nước nhà mà K-pop đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thu hút người hâm mộ trên khắp thế giới và trở thành một hiện tượng giải trí toàn cầu.[368] Năm 2012, K-pop gây sốt với "điệu nhảy ngựa" trong ca khúc Gangnam Style của ca sĩ PSY, đạt hơn 3 tỷ lượt xem trên YouTube. Năm 2020, Baby Shark vượt qua Despacito để trở thành video có "nhiều lượt xem nhất mọi thời đại" trên nền tảng này với con số hơn 7 tỷ[369][370], không dừng lại ở đó, bài hát thiếu nhi này còn tiếp nối thành công của Gangnam Style, trở thành một "hiện tượng văn hóa toàn cầu mới".[371][372]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2020, MV cho bài hát "Dynamite" của nhóm nhạc BTS xác lập kỷ lục Guinness khi trở thành MV ca nhạc đạt số lượng người xem trực tiếp cũng như view cao nhất trên YouTube sau 24 giờ phát hành với hơn 3 triệu và 101,1 triệu lượt xem trong một ngày, vượt qua con số 1,66 và 86,3 triệu - kỷ lục trước đó thuộc về nhóm nhạc Blackpink với MV "How You Like That".[373][374] Cũng với ca khúc này, BTS đạt #1 Billboard Hot 100 trong hai tuần liên tiếp. Cùng với phim ảnh, K-pop gây nên một cơn sốt đặc biệt lớn đối với giới trẻ, đi kèm theo đó là một số hệ lụy không đáng có.

SM, YGJYP là ba công ty lớn, truyền thống cũng như có tầm ảnh hưởng nhất trong ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc, thường được gọi chung là "Tam Đại" hay "Big Three/Big3", ngoài ra còn có Big Hit (nay là Hybe), Cube, Pledis, FNC,...[375] Các công ty chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát hiện tài năng, tuyển dụng, tài trợ, đào tạo, lăng xê,... cho những nghệ sĩ trực thuộc, ngoài ra họ còn quản lý mọi hoạt động liên quan đến âm nhạc, đảm nhận phụ trách thương hiệu và quan hệ công chúng của nghệ sĩ. Tuy vậy, hệ thống này bị truyền thông phương Tây đánh giá là "cực đoan"[376]; thậm chí, đài BBC còn sử dụng cụm từ "hợp đồng nô lệ" để nói về nó.[377]

Hầu hết các sáng kiến ​​của chính phủ nhằm mở rộng sự phổ biến của K-pop trên toàn cầu được thực hiện bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đây là cơ quan chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập các Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc trên toàn thế giới. Đại sứ quán cùng lãnh sự quán Hàn Quốc cũng đứng ra tổ chức các buổi hòa nhạc K-pop ở nước ngoài và Bộ Ngoại giao nước này thường xuyên mời fan hâm mộ tới tham dự Liên hoan K-Pop Thế giới được tổ chức thường niên tại Hàn Quốc.[378] Ngoài gặt hái những lợi ích kinh tế đến từ sự phổ biến của K-pop, chính phủ Hàn Quốc đã và đang tận dụng ảnh hưởng của K-pop trong vấn đề ngoại giao.[379] Trong thời đại truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, quyền lực mềm (văn hóa, kinh tế,...) được coi là một chiến lược ngoại giao hiệu quả, tiềm năng và thực dụng hơn tương đối nhiều so với việc chỉ dựa vào quyền lực cứng (quân sự, vũ khí,...) truyền thống. Ngoại giao văn hóa thông qua K-pop là một chính sách đang được chính phủ Hàn Quốc thực hiện rất thành công.[380]

Năm 2020, Hàn Quốc là thị trường âm nhạc lớn thứ 2 tại khu vực châu Á, xếp hạng 6 toàn cầu (sau Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản và Mỹ), mặc dù vẫn giữ nguyên thứ hạng nhưng mức tăng trưởng so với năm 2019 đã tăng thêm 8,2%.[381]

Điện ảnh

Đạo diễn Bong Joon-ho
Nữ diễn viên Youn Yuh-jung

Hàn Quốc là thị trường mà phim nội địa luôn được ưu tiên trước các sản phẩm của Hollywood, thể hiện qua việc tỷ lệ khán giả đến rạp xem phim trong nước thường cao hơn nước ngoài.[382]

Trong những năm 1999-2000, Chiến dịch ShiriKhu vực an ninh chung là các phim tiêu biểu. Bạn Cũ Thù Mới tiếp tục là thành công của năm 2001. Năm 2004, Oldboy đoạt giải tại Liên hoan phim Cannes và bán bản quyền cho nhiều thị trường khác, tiếp đó, Miramax mua lại bản quyền của phim Vợ tôi là Gangster. Những bộ phim nổi tiếng khác như Cô nàng ngổ ngáo hay Câu Chuyện Hai Chị Em cũng được các nhà làm phim của Mỹ mua bản quyền và làm lại.

Quái Vật Sông Hàn (2006), Chuyến tàu băng giá (2013), Đại thủy chiến (2014) hay Chuyến tàu sinh tử (2016) là những phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại ở Hàn Quốc đồng thời được các nhà phê bình nước ngoài đánh giá cao. Năm 2019, Ký sinh trùng đoạt giải Cành cọ vàng tại Cannes[383] và sau đó là Oscar. Tại Oscar 92, bộ phim chiến thắng 4 trên 6 đề cử cùng với giải thưởng quan trọng nhất - Best Picture[384]. Năm 2021, tại Oscar 93, nữ diễn viên Youn Yuh-jung đoạt giải Oscar cho Nữ phụ xuất sắc nhất với phim độc lập Khát vọng đổi đời, bà là diễn viên Hàn Quốc đầu tiên nhận tượng vàng Oscar về diễn xuất và là diễn viên nữ châu Á thứ hai chiến thắng Oscar cho Nữ phụ xuất sắc nhất sau Miyoshi Umeki của điện ảnh Nhật Bản.[385][386]

Phim truyền hình Hàn Quốc hay còn được biết đến với tên gọi K-drama cũng thu hút số lượng lớn khán giả. Hiện nay, ngoài kịch bản tự sáng tạo truyền thống, các nhà sản xuất nước này cũng rất ưa chuộng những dự án được chuyển thể từ ManhwaWebtoon. Một số loạt phim nổi tiếng gần đây có thể kể đến như: Trò chơi con mực, Truy bắt lính đào ngũ, Penthouse: Cuộc chiến thượng lưu, Hạ cánh nơi anh, Tầng lớp Itaewon, Những bác sĩ tài hoa, Vương triều xác sống hay Chàng hậu,...

Thể thao

Những môn thể thao phổ biến nhất ở Hàn Quốc là Taekwondo, bắn cung, bóng chày và bóng đá.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Hàn Quốc thường xuyên giành quyền tham dự các kỳ World Cup (với tổng cộng 10 lần tính cho đến hết World Cup 2018, trong đó có tới 9 lần tham dự liên tiếp, nhiều hơn bất kỳ quốc gia châu Á nào khác), từng xếp hạng tư chung cuộc tại World Cup 2002, lọt vào đến vòng 16 đội tại World Cup 2010, hai lần vô địch Cúp bóng đá châu Á vào các năm 19561960 bên cạnh 4 lần á quân (1972, 1980, 1988, 2015) và 4 lần hạng 3 (1964, 2000, 2007, 2011). Ngoài ra, đội tuyển Olympic Hàn Quốc cũng đã từng giành huy chương đồng tại Thế vận hội mùa hè 2012 và 2 lần vô địch Á vận hội, Hàn Quốc cùng với Nhật Bản là hai quốc gia châu Á đầu tiên giành quyền đăng cai tổ chức World Cup.

Bóng chày được du nhập vào Hàn Quốc từ năm 1905 và nhanh chóng trở thành môn thể thao được nhiều người yêu thích và theo dõi thường xuyên.[387] Liên đoàn Bóng chày Hàn Quốc được thành lập năm 1982 là liên đoàn thể thao chuyên nghiệp đầu tiên ở Hàn Quốc. Đội tuyển bóng chày Hàn Quốc đoạt hạng 3 tại Giải Vô địch Bóng chày Thế giới năm 2006, giải nhì năm 2009 và huy chương vàng tại Olympic Bắc Kinh 2008.[388]

Năm 1988, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1988 ở Seoul, quốc gia này xếp hạng 4 chung cuộc với 12 huy chương vàng, 10 bạc, 11 đồng.[388] Tại Thế vận hội Mùa đông 2010, các đội tuyển Hàn Quốc giành được tổng cộng 14 huy chương (6 vàng, 6 bạc và 2 đồng) trên tổng số 45 huy chương (23 vàng, 14 đồng và 8 bạc)[388]. Năm 2018, Hàn Quốc đăng cai tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2018Pyeongchang và đây cũng là lần đầu tiên một kỳ Thế vận hội được tổ chức tại vùng ngoại ô, đoàn thể thao Hàn Quốc đạt tổng cộng 17 huy chương (5 vàng, 8 bạc và 4 đồng). Năm 2016 tại Olympic Rio, đoàn thể thao Hàn Quốc đoạt 9 huy chương vàng, 3 bạc và 9 đồng - xếp hạng 8 chung cuộc.[389][390]

Hàn Quốc đã đăng cai tổ chức các kỳ Đại hội thể thao châu Á trong các năm 1986 (Seoul), 2002 (Busan) và 2014 (Incheon)[391], Đại hội thể thao Mùa đông châu Á (1999), sự kiện thể thao liên minh các trường đại học thế giới Universiade mùa đông năm 1997 và mùa hè năm 2003. Đồng đăng cai tổ chức World Cup 2002 cùng với Nhật Bản. Đây là đội tuyển châu Á đầu tiên lọt vào đến vòng bán kết của một kỳ World Cup.[392]

Thể thao điện tử, hay còn được gọi là E-Sports hoặc eSports - rất phổ biến tại Hàn Quốc, không những trở thành một nét văn hóa riêng biệt[393] mà còn được chính phủ nước này công nhận là một ngành nghề hợp pháp[394]. Quốc gia này được coi là khu vực trọng điểm mà E-Sport phát triển mạnh mẽ, được đầu tư lớn, quy tụ nhiều tuyển thủ tài năng và có hệ thống tổ chức các giải đấu chuyên nghiệp nhất trên thế giới[395], tuy nhiên, sự cạnh tranh trong nghề là vô cùng nghiêm túc và khốc liệt[396]. Hai trò chơi được tranh tài thường xuyên là Liên Minh Huyền Thoại - người Hàn có tổng cộng 6 lần vô địch thế giới ở bộ môn này tính cho đến năm 2020 cùng với StarCraft[397] và gần đây nhất là PUBG - với 3 lần vô địch thế giới các năm 2017[398], 2018[399], 2019[400][401] và 1 lần Á quân cùng năm 2019 ở cấp độ đội tuyển quốc gia[402]. Các giải đấu E-Sport tại Hàn Quốc được quản lý bởi Hiệp hội Thể thao điện tử Hàn Quốc. Một số tuyển thủ, danh thủ E-Sport nổi tiếng có thể kể tới như: Lim "BoxeR" Yo-Hwan, Lee "Faker" Sang-hyeok, Hong "MadLife" Min-gi, Choi "inSec" In-seok, Heo "ShowMaker" Su, Kim "Doinb" Tae-sang, Cha "Pio" Seung-hoon hay Lee "The Tyrant" Jae-Dong,...

Hàn Quốc còn là quốc gia rất mạnh về bộ môn cờ Vây với các danh thủ nổi tiếng như: Cho Hun-hyun, Lee Se-dol, Cho Nam-chul, Kim In, Seo Bong-soo, Yoo Chang-hyuk, Lee Chang-ho, hay Park Yeong-hun,...

Một số vận động viên nổi tiếng:

Những ngày lễ lớn

Ngày Tên tiếng Việt Hangul Romaja Ghi chú
1 tháng 1 Tết Dương lịch 양력설 Yanglyeogseol
1 tháng 1 (âm lịch) Tết Nguyên Đán 설날 Seollal
1 tháng 3 Phong trào 1 tháng 3 3.1절 Samiljeol Kỷ niệm ngày nổi dậy đấu tranh đòi độc lập
5 tháng 4 Tết cây xanh 식목일 Singmogil
8 tháng 4 (âm lịch) Lễ Phật Đản 부처님 오신날 Bucheonim Osinnal Kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật
5 tháng 5 Tết thiếu nhi 어린이날 Eorininal
6 tháng 6 Ngày tưởng niệm 현충일 Hyeonchung-il Tưởng niệm những người đã hy sinh vì đất nước
17 tháng 7 Ngày lập hiến (Chế Hiến tiết) 제헌절 Jehyeonjeol Kỷ niệm ngày ban hành Hiến pháp Hàn Quốc lần đầu tiên
15 tháng 8 Ngày độc lập (Quang Phục tiết) 광복절 Gwangbokjeol Kỷ niệm ngày giành độc lập từ tay phát xít Nhật
15 tháng 8 (âm lịch) Tết Trung thu 추석 Chuseok
3 tháng 10 Ngày khai sinh dân tộc (Khai Thiên tiết) 개천절 Gaecheonjeol Kỷ niệm sự thành lập của nhà nước Cổ Triều Tiên
9 tháng 10 Ngày Hàn văn 한글날 Hangeullal Kỷ niệm sự sáng lập (1443) và tuyên bố sử dụng (1446) của chữ Hangul
25 tháng 12 Lễ Giáng Sinh 크리스마스 Keuliseumaseu

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng sử dụng quốc ca này nhưng khác nhạc và lời.

Tham khảo

  1. ^ “A New Way of Seeing Country Social Responsibility” (PDF). Faculty of Philosophy and Social-Political Sciences. Alexandru Ioan Cuza University: 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014.
  2. ^ [시행 2016.8.4.] [법률 제13978호, 2016.2.3., 제정] [Enforcement 2016.8.4. Law No. 13978, enacted on February 3, 2016] (bằng tiếng Hàn). 2016. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2017.
  3. ^ a b “Foreign population in Korea tops 2.5 million”. koreatimes. 24 tháng 2 năm 2020.
  4. ^ Kim, Han-soo; Shon, Jin-seok (20 tháng 12 năm 2016). 신자 수, 개신교 1위… "종교 없다" 56%. Chosun Ilbo. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017.
  5. ^ a b South Korea National Statistical Office's 19th Population and Housing Census (2015): "Religion organizations' statistics". Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016
  6. ^ http://image.kmib.co.kr/online_image/2016/1219/201612191738_61220011145071_1.jpg
  7. ^ Quinn, Joseph Peter (2019). “South Korea”. Trong Demy, Timothy J.; Shaw, Jeffrey M. (biên tập). Religion and Contemporary Politics: A Global Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 365. ISBN 978-1-4408-3933-7. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
  8. ^ Kosis 100대 지표.
  9. ^ Worldometer & United Nations (23 tháng 11 năm 2021). “South Korea Population”. www.worldometers.info.
  10. ^ a b c d “World Economic Outlook Database, October 2020”. IMF.org. International Monetary Fund. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  11. ^ Inequality - Income inequality - OECD Data. OECD. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2021.
  12. ^ “Fragile States Index 2021”. Fund for Peace. 20 tháng 5 năm 2021.
  13. ^ “Country Dashboard”. Fund for Peace.
  14. ^ “Human Development Indicators”. United Nations Development Programme. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  15. ^ U.S. News & World Report. “South Korea: Overview of South Korea - 2020 Overall Best Countries Ranking”. www.usnews.com.
  16. ^ a b Muscato, Christopher. “South Korea Ethnic Groups”. study.com. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  17. ^ “South Korea history - geography: Economic and social developments”. www.britannica.com. Encyclopedia Britannica. 18 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2020.
  18. ^ a b “2019 Human Development Index Ranking”. hdr.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2020.
  19. ^ UNDP. “Latest Human Development Index Ranking: Human Development Index (HDI) Ranking - From the 2020 Human Development Report”. hdr.undp.org.
  20. ^ a b IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  21. ^ a b IMF (20 tháng 11 năm 2020). “Projected GDP Ranking 2020”. statisticstimes.com.
  22. ^ The Economist Intelligence Unit. “Democracy Index 2019: A year of democratic setbacks and popular protest” (PDF). www.in.gr.
  23. ^ Economist Intelligence Unit. “Democracy Index 2019”. www.eiu.com.
  24. ^ a b Global Firepower. “Defense Spending by Country (2021)”. www.globalfirepower.com.
  25. ^ Yonhap & The Korea Herald (14 tháng 12 năm 2020). “S. Korea ranks 10th in world arms exports: report”. www.koreaherald.com.
  26. ^ Anh Minh (Theo CNN) (7 tháng 1 năm 2021). “Ba nước châu Á đứng top đầu hộ chiếu quyền lực nhất 2021”. vnexpress.net.
  27. ^ Ngọc Ánh (theo Hindustan Times) (7 tháng 10 năm 2021). “Mỹ tiếp tục rớt khỏi top 5 hộ chiếu quyền lực thế giới”. vnexpress.net.
  28. ^ Phạm Huyền (22 tháng 2 năm 2018). “Hàn Quốc lập kỷ lục khi sở hữu hộ chiếu quyền lực nhất thế giới”. vnexpress.net. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2020.
  29. ^ a b “SOCIAL PROGRESS SUMMARY: Republic of Korea”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  30. ^ a b “2020 Social Progress Index rankings”. www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  31. ^ a b “2020 Social Progress Index rankings” (PDF). www.socialprogress.org. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  32. ^ Sheridan, Greg (27 tháng 11 năm 2008). “The plucky country and the lucky country draw closer”. www.theaustralian.news.com.au.
  33. ^ Jongryn Mo (JSTOR Collection). “South Korea's middle power diplomacy”. www.jstor.org.
  34. ^ a b President Obama Vows Strengthened U.S.-South Korea Ties Lưu trữ 2009-07-04 tại Wayback Machine 2 Apr 2009. Embassy of the United States, Seoul.
  35. ^ Martin Roll. “Korean Wave (Hallyu) – The Rise of Korea's Cultural Economy & Pop Culture”. martinroll.com.
  36. ^ Vũ Hoàng (theo NY Times) (5 tháng 11 năm 2021). “Làn sóng Hàn Quốc càn quét thế giới”. vnexpress.net.
  37. ^ Hoàng Phong (theo Bloomberg) (31 tháng 5 năm 2021). “Giới trẻ Hàn Quốc lười kết hôn, ngại sinh con”. vnexpress.net.
  38. ^ Thùy Linh (theo Koreantimes) (24 tháng 6 năm 2020). “Giới trẻ Hàn Quốc nghĩ 'sinh con là không cần thiết'. vnexpress.net.
  39. ^ Jung Suk-yee (31 tháng 8 năm 2020). “Korean Society Is Aging Rapidly”. www.businesskorea.co.kr.
  40. ^ Claire Lee (8 tháng 11 năm 2018). “Human rights report says Korea has 'serious racism problem'. www.koreaherald.com.
  41. ^ Katrin Park (17 tháng 11 năm 2020). “South Korea Struggles to Confront Its Own Racial Prejudices”. foreignpolicy.com.
  42. ^ a b Hồng Hạnh (Theo Reuters) (13 tháng 5 năm 2019). “Làn sóng cử nhân thất nghiệp đổ xô ra nước ngoài của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  43. ^ Julian Ryall (15 tháng 9 năm 2020). “South Korea's soaring suicide, self-harm rates pinned on pandemic”. www.dw.com.
  44. ^ David D. Lee & Park Chan-kyong (13 tháng 12 năm 2020). “Young South Korean women are turning to suicide in ever greater numbers. Covid-19 is just the start of their problems”. www.scmp.com.
  45. ^ a b SCMP/Reuters (3 tháng 12 năm 2019). “Thanh niên Hàn Quốc chật vật trong phân hóa giàu nghèo”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  46. ^ An Chi. Sông Hán và Hàn Quốc. Ngày 10 tháng 12 năm 2012.
  47. ^ “News”. Royal Ontario Museum.
  48. ^ KBS WORLD Radio (29 tháng 10 năm 2012). “Gwanggaeto, nhà chinh phục vĩ đại (Gwanggaeto, The Great Conqueror)”. rki.kbs.co.kr.
  49. ^ Prehistoric Times - Gojoseon & Korean Cultural Center New York. “Korea Information - History: Three Kingdoms And Other State”. www.koreanculture.org.
  50. ^ Franklin Rausch, jckim (24 tháng 8 năm 2009). “Ahn Jung-geun - An ordinary man, an extra-ordinary life: Why Did Ahn Jung-geun Kill Hirobumi Ito?”. www.koreatimes.co.kr. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2020.
  51. ^ Kimberly Amadeo (28 tháng 2 năm 2021). “Korean War Facts, Costs, and Timeline: The History of the War and How Much Money Was Spent”. www.thebalance.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  52. ^ a b BBC News Vietnamese (28 tháng 5 năm 2019). “Lịch sử dân chủ hóa đẫm máu của Hàn Quốc”. www.bbc.com.
  53. ^ “[한국갤럽 여론조사] '나라 잘 이끈 대통령'에 국민 44% "박정희". news.kmib.co.kr.
  54. ^ Se Young Jang (17 tháng 7 năm 2017). “The Gwangju Uprising: A Battle over South Korea's History”. www.wilsoncenter.org.
  55. ^ Nguyễn Hạnh (theo BBC) (19 tháng 5 năm 2005). “Vụ thảm sát Kwangju ở Hàn Quốc và di sản”. vnexpress.net.
  56. ^ Plunk, Daryl M. "South Korea's Kwangju Incident Revisited." Asian Studies Backgrounder No. 35 (September 16) 1985: p. 5.
  57. ^ “Flashback: The Kwangju massacre”. BBC News. ngày 17 tháng 5 năm 2000.
  58. ^ a b “S. Korean junta punished civilians with military camp in early 1980s: Report”.
  59. ^ "Two Decedes After Seoul Olympics". Korea Times. ngày 30 tháng 10 năm 2007.
  60. ^ Gunnar Berge: Chairman of The Norwegian Nobel Committee. “The Nobel Peace Prize 2000: Kim Dae-jung”. www.nobelprize.org.
  61. ^ Khánh Minh (19 tháng 2 năm 2020). “Cựu Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak bị kết án 17 năm tù”. laodong.vn.
  62. ^ Phan Yến (theo Korea Times) (31 tháng 3 năm 2017). “Các đời Tổng thống Hàn Quốc: Người tự vẫn, người ngồi tù”. www.tienphong.vn.
  63. ^ Thành Đạt (27 tháng 3 năm 2018). “Vòng xoáy lao lý của các cựu tổng thống Hàn Quốc”. dantri.com.vn.
  64. ^ Vũ Hoàng (theo Guardian, Straits Times, New York Times) (10 tháng 7 năm 2020). “Loạt bê bối tình dục từng rúng động Hàn Quốc”. vnexpress.net.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  65. ^ a b “Hàn Quốc trục xuất một Hàn kiều vì dám ca ngợi Triều Tiên”. Một Thế giới. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2015. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  66. ^ a b Huyền Lê (theo AFP) (4 tháng 5 năm 2021). “Hồi ký Kim Nhật Thành gây tranh cãi ở Hàn Quốc (đoạn 9)”. vnexpress.net.
  67. ^ a b CHOE SANG-HUN (10 tháng 1 năm 2015). “South Korea Deports American Over Warm Words for Trips to North” (bằng tiếng Anh). The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017.
  68. ^ a b “South Korea to deport Korean-American accused of praising North”. www.theguardian.com. The Guardian.
  69. ^ McCurry, Justin (ngày 15 tháng 8 năm 2019). “Korean peninsula will be united by 2045, says Seoul amid Japan row”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  70. ^ Phương Anh (16 tháng 9 năm 2017). “Triều Tiên ngồi trên nguồn tài nguyên khoáng sản trị giá 10.000 tỷ USD”. thanhnien.vn.
  71. ^ Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 230.
  72. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  73. ^ Michael Schuman (2009). The Miracle. The Epic Story of Asia’s Quest for Wealth. HarperCollins Publishers. New York. Tr. 36
  74. ^ Lie, Han Unbound, 73.
  75. ^ Woo, Race to the Swift, 132.
  76. ^ Michael Schuman (2009). Sđd. Tr. 31.
  77. ^ Developmental Dictatorship and the Park Chung-hee Era p. 260 (Homa & Sekey, 2006)
  78. ^ Chapter VI: The Republic of Korea
  79. ^ Tucker, Spencer, ed. Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. Oxford, UK: Oxford University Press, 1998. tr 902
  80. ^ a b c d e f yhchoi65 (2 tháng 7 năm 2008). “[책갈피 속의 오늘]1965년 전투병 베트남 파병 의결”. www.donga.com.
  81. ^ Tucker, Spencer, ed. Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. Oxford, UK: Oxford University Press, 1998. tr 64
  82. ^ Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  83. ^ “A Perspective on Korea's Participation in the Vietnam War”.
  84. ^ American Studies Association. “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. www.allacademic.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  85. ^ Nguyễn Văn Thịnh (8 tháng 7 năm 2017). “Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 456: Chuyện người chuyện ta”. tuanbaovannghetphcm.vn.
  86. ^ Stewart Peter Lone and Gavan McCormack, Korea since 1850 (Melbourne, Australia: Longman, 1994), 148.
  87. ^ T. W. Kang, Is Korea the Next Japan? Understanding the Structure, Strategy, and Tactics of America’s Next Competitor (New York: The Free Press, 1989), cited in Byoung-lo Philo Kim, Two Koreas in Development: A Comparative Study of Principles and Strategies of Capitalist and Communist Third World Development, (New Brunswick, NJ: Transaction, 1992), 193.
  88. ^ Inglehart, Ronald & Christian Welzel (2009). How Development Leads to Democracy. "Foreign Affairs", March/ April.
  89. ^ “Park Chung-hee Quotes”. BrainyQuote.
  90. ^ “Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn hoá gia đình Hàn Quốc hiện đại (Phần 1)”. cks.inas.gov.vn. Trung Tâm Nghiên Cứu Hàn Quốc.
  91. ^ Mai Huyền (13 tháng 8 năm 2021). “Hyundai Pony – chiếc ôtô đầu tiên của người Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  92. ^ “South Korea - Society under Park”. countrystudies.us.
  93. ^ Hà Thu. “Gyeongbu - cao tốc được làm bằng ý chí của người Hàn”. vnexpress.net.
  94. ^ a b Hwang, Kyung Moon A History of Korea, London: Macmillan, 2010 page 244.
  95. ^ Ana Maria Santacreu (20 tháng 3 năm 2018). “How Did South Korea's Economy Develop So Quickly?”. www.stlouisfed.org. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  96. ^ a b Eichengreen, et al., From Miracle to Maturity, 44–45.
  97. ^ “chaebol”. Merriam-Webster. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011.
  98. ^ a b Jung, Dong-Hyeon (ngày 1 tháng 8 năm 2004). “Korean Chaebol in Transition”. Sage. 40 (3): 299–303. doi:10.1177/000944550404000306. S2CID 154720682. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2013.
  99. ^ Moskalev, Sviatoslav; Park, Seung Chan (2010). “South Korean Chaebols and Value-Based Management”. Journal of Business Ethics. 92: 49–62. doi:10.1007/s10551-009-0138-5. S2CID 154121368.
  100. ^ Coverage of Roh Moo-hyun campaign financing scandal: Donald Macintyre (1 tháng 12 năm 2003). “Losing Face”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018.
  101. ^ Hyondok Choi (2011). Sđd. Tr. 104-105.
  102. ^ “Korea's Geography (Land, Territory, Landforms, Climate and Weather, Four Seasons)”. www.asianinfo.org.
  103. ^ Peter Prokosch. “The Tidal Flats of the Yellow Sea within the East Asia Pacific Flyway of Coastal Birds: Saemangeum Seawall, built at the expense of international important tidal flats, South Korea”. www.grida.no.
  104. ^ a b Cox, Wendell (4 tháng 11 năm 2019). “2019 DEMOGRAPHIA WORLD URBAN AREAS: POPULATION, LAND AREA & URBAN DENSITIES”. www.newgeography.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  105. ^ PricewaterhouseCoopers. “The 150 richest cities in the world by GDP in 2020: Richest cities and urban areas in 2020”. www.citymayors.com.
  106. ^ Milken Institute. “Worlds Best Cities: Best Performing Cities 2020”. www.bestcities.org.
  107. ^ 2015년 인구주택총조사 전수집계결과 보도자료 [2015 Population and Housing Census]. Statistics Korea.
  108. ^ a b KBS WORLD Radio & YONHAP News (3 tháng 2 năm 2021). “S. Korea Reclassified as "Full Democracy" on EIU's Global Democracy Index 2020”. world.kbs.co.kr.
  109. ^ Grace Oh (Yonhap) (16 tháng 1 năm 2021). “S. Korea's military strength 6th in world: report”. en.yna.co.kr.
  110. ^ Bhupinder Singh (3 tháng 3 năm 2021). “21 Strongest Militaries Around The World In 2021 You Should Know About”. www.indiatimes.com.
  111. ^ Global Firepower. “2021 Military Strength Ranking”. www.globalfirepower.com.
  112. ^ “South Korea's Armed Forces, CSIS (Page 24)” (PDF). ngày 25 tháng 7 năm 2006.
  113. ^ Tian, Nan; Fleurant, Aude; Kuimova, Alexandra; Wezeman, Pieter D.; Wezeman, Siemon T. (ngày 27 tháng 4 năm 2020). “Trends in World Military Expenditure, 2019” (PDF). Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2020.
  114. ^ Nan Tian, Alexandra Kuimova, Diego Lopes da Silva, Pieter D. Wezeman, Siemon T. Wezeman. “TRENDS IN WORLD MILITARY EXPENDITURE, 2019” (PDF). www.sipri.org.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  115. ^ Duffin, Erin (11 tháng 5 năm 2020). “The 15 countries with the highest military spending worldwide in 2019”. www.statista.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020.
  116. ^ 최수향 (ngày 2 tháng 12 năm 2020). “S. Korea's defense budget rises 5.4 pct to 52.8 tln won in 2021”. Yonhap News Agency (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2020.
  117. ^ Phương Anh (theo Yonhap) (25 tháng 8 năm 2016). “KATUSA: Biểu tượng quan hệ đồng minh Mỹ-Hàn”. baotintuc.vn.
  118. ^ GlobalSecurity on Military of Republic of Korea, Globalsecurity.org
  119. ^ “OPLAN 5027 Major Theater War – West”. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2013.
  120. ^ Caleb Larson (10 tháng 4 năm 2020). “K2 Black Panther: The Most Expensive Tank in the World”. nationalinterest.org.
  121. ^ SuccessStory. “Most Expensive Tanks”. successstory.com.
  122. ^ Duy Sơn (21 tháng 4 năm 2017). “Thiết giáp lưỡng cư có khả năng diệt trực thăng của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  123. ^ David Hambling (Aerospace & Defense) (4 tháng 12 năm 2020). “Why South Korea Is Building Robotic Artillery”. www.forbes.com.
  124. ^ Báo điện tử Hà Nội mới (theo BBC). “Robot sát thủ của Hàn Quốc”. www.hanoimoi.com.vn.
  125. ^ Nguyễn Tiến (theo Hanwha Defense) (19 tháng 10 năm 2021). “Robot Hàn Quốc nghe súng địch để khóa mục tiêu”. vnexpress.net.
  126. ^ World Population Review. “Largest Navies In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  127. ^ PickyTop (3 tháng 8 năm 2021). “Top 10 Largest Navies in the World”. pickytop.com.
  128. ^ Military-Today. “Top 10 Navies in the World”. www.military-today.com.
  129. ^ Vũ Anh (theo Yonhap) (7 tháng 9 năm 2021). “Tàu ngầm Hàn Quốc lần đầu phóng tên lửa đạn đạo”. vnexpress.net.
  130. ^ World Population Review. “Largest Air Forces In The World 2021”. worldpopulationreview.com.
  131. ^ Nancy Levin (4 tháng 12 năm 2018). “10 Largest Air Forces in the World”. largest.org.
  132. ^ KBS WORLD Radio (26 tháng 5 năm 2011). “Hàn Quốc ký kết xuất khẩu máy bay huấn luyện siêu âm T-50 sang Indonesia”. world.kbs.co.kr.
  133. ^ TTXVN (26 tháng 5 năm 2011). “Indonesia nhập máy bay siêu thanh của Hàn Quốc”. vov.vn.
  134. ^ Vũ Anh (23 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc nhận UAV hơn 120 triệu USD”. vnexpress.net. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  135. ^ Thế Việt (theo Yonhap) (21 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc ghi tên vào danh sách 10 quốc gia có vệ tinh liên lạc quân sự”. baoquocte.vn.
  136. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (9 tháng 4 năm 2021). “Hàn Quốc ra mắt tiêm kích đắt nhất lịch sử”. vnexpress.net.
  137. ^ Department Global Communication and Contents Division. “International Relations”. www.korea.net.
  138. ^ McCurry, Justin (ngày 15 tháng 8 năm 2019). “Korean peninsula will be united by 2045, says Seoul amid Japan row”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  139. ^ “통일연구원”. www.kinu.or.kr. Truy cập 17 Tháng tư 2021.
  140. ^ 2014 World Service Poll Lưu trữ 2015-03-05 tại Wayback Machine BBC
  141. ^ Vietnam+ (31 tháng 12 năm 2019). “Hàn Quốc là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Triều Tiên trong năm 2019”. www.vietnamplus.vn.
  142. ^ “South Korea Country Profile”. MIT. ngày 10 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  143. ^ Trọng Thuấn (theo AFP) (9 tháng 3 năm 2019). “Bóng ma thực dân Nhật Bản và sự chia rẽ 100 năm chưa nguôi ở Hàn Quốc”. zingnews.vn.
  144. ^ The official Dokdo site by Gyeonsangbuk-do Province of Republic of Korea Official videos and a few more promotional materials in many languages.
  145. ^ Dokdo in the East Sea Detailed consideration, old maps and other resources on Dokdo Historical Issues by Northeast Asian History Foundation, in 4 languages
  146. ^ The Issue of Takeshima The Ministry of Foreign Affairs of Japan
  147. ^ Ánh Ngọc (theo SCMP). “Làn sóng tẩy chay hàng Nhật Bản tại Hàn Quốc giữa căng thẳng thương mại”. vnexpress.net.
  148. ^ Bảo Anh (theo SCMP). “Hàn Quốc cảnh báo Nhật Bản không hạn chế xuất khẩu công nghệ cao”. vnexpress.net.
  149. ^ a b Hà Thu (theo Diplomat/CNN). “Căng thẳng thương mại Nhật – Hàn ngày càng trầm trọng”. vnexpress.net.
  150. ^ Vũ Anh (theo AFP). “Hàn Quốc ngừng chia sẻ tin tình báo với Nhật”. vnexpress.net.
  151. ^ Như Phúc (theo CNN). “Mâu thuẫn Nhật - Hàn đe dọa nguồn cung chip nhớ toàn cầu”. vnexpress.net.
  152. ^ Bảo Anh (theo Bloomberg, Reuters). “Các hãng công nghệ có thể rơi vào cuộc chiến thương mại mới”. vnexpress.net.
  153. ^ Bảo Lâm (theo CNBC). “Xung đột Nhật - Hàn có thể đẩy giá smartphone lên cao”. vnexpress.net.
  154. ^ “韓国政府による日本文化開放政策(概要)” [Chính sách mở văn hóa đại chúng Nhật Bản của chính phủ Hàn Quốc (bản thảo)]. Đại sứ quán Nhật Bản tại Hàn Quốc (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2010.
  155. ^ “정병국 "일본 드라마 개방할 때 됐다"(종합)” [Chung Byoung-guk: 'Đã đến lúc mở cửa cho phim truyền hình Nhật Bản']. www.yna.co.kr (bằng tiếng Hàn).
  156. ^ namsh@yna.co.kr. “<芸能>韓国アイドルの新曲 日本語使用で「放送不適合」”. jp.yna.co.kr.
  157. ^ Kenta Kawasaki (Fuji News Network). “今や韓国に完敗!? 日本の大衆文化開放から20年”. www.fnn.jp (bằng tiếng Nhật).
  158. ^ Tselichtchev, Ivan (8 tháng 10 năm 2017). “Beyond THAAD: the real reason why China is angry with South Korea”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  159. ^ "Background Briefing with a Senior Administration Official on National Security Advisor Susan Rice's Visit to China ngày 26 tháng 7 năm 2016." Beijing/China. Embassy of the United States, n.d. Web.
  160. ^ “Lotte của Hàn Quốc đành rút khỏi Trung Quốc”. www.bbc.com/vietnamese. 15 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  161. ^ Mullen, Jethro; Han, Sol (ngày 7 tháng 3 năm 2017). “One company is bearing the brunt of China's anger over U.S. missile system”. CNN Money. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  162. ^ Hernandez, Javier; Guo, Owen; McMorrow, Ryan (ngày 9 tháng 3 năm 2017). “South Korean Stores Feel China's Wrath as U.S. Missile System Is Deployed”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017.
  163. ^ News Agencies (23 tháng 12 năm 2019). “South Korea and China look to improve ties after THAAD dispute”. www.aljazeera.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  164. ^ Tisdall, Simon. "Wikileaks Cables Reveal China 'ready to Abandon North Korea'" The Guardian, 29 Nov. 2010. Web. 7 Dec. 2010.<https://www.theguardian.com/world/2010/nov/29/wikileaks-cables-china-reunified-korea>
  165. ^ “People around the globe are divided in their opinions of China”. Pew Research Center. ngày 30 tháng 9 năm 2019.
  166. ^ a b Thanh Tâm (theo SCMP) (15 tháng 4 năm 2021). “Người Hàn ngày càng mất thiện cảm với Trung Quốc”. vnexpress.net.
  167. ^ Choe Sang-Hun (The New York Times) (20 tháng 8 năm 2021). “South Koreans Now Dislike China More Than They Dislike Japan”. www.nytimes.com.
  168. ^ Hồng Hạnh (theo Guardian) (1 tháng 12 năm 2020). “Dân Trung - Hàn đấu khẩu vì kimchi”. vnexpress.net.
  169. ^ Josephine Tee, Elaine Yau & Jonathan Wong (12 tháng 2 năm 2021). “Chinese niangao vs Korean tteokbokki – which rice cake dish came first, and what's the origin story of the tasty Lunar New Year staple?”. www.scmp.com.
  170. ^ Quốc Thắng (17 tháng 2 năm 2019). 'Ông Park là cầu nối mạnh nhất giữa Việt Nam - Hàn Quốc'. tuoitre.vn.
  171. ^ Thanh Thủy (26 tháng 11 năm 2019). “Top 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam: Samsung Electronics Thái Nguyên vẫn "giữ chặt" ngôi vương”. baodautu.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  172. ^ Ngọc Hiển (16 tháng 1 năm 2019). “Doanh nghiệp FDI đứng đầu danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất VN”. tuoitre.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  173. ^ Ambitious Man (15 tháng 3 năm 2019). “Samsung đóng góp tới 28% tổng GDP của Việt Nam năm 2018”. vnreview.vn. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  174. ^ Hoàng Nam (16 tháng 5 năm 2016). “Hà Nội đưa tiếng Hàn Quốc vào chương trình cấp THCS và THPT”. vov.vn.
  175. ^ Thanh Hùng (4 tháng 3 năm 2021). “Giáo dục: Tiếng Hàn trở thành môn học 'bắt buộc' từ lớp 3”. vietnamnet.vn.
  176. ^ Dương Tâm (4 tháng 10 năm 2020). “Một ngành học lấy điểm chuẩn là 30”. vnexpress.net.
  177. ^ Dương Tâm (18 tháng 9 năm 2021). “Điểm chuẩn các ngành tiếng Hàn Quốc vượt trội”. vnexpress.net.
  178. ^ Daniel Workman (14 tháng 2 năm 2021). “South Korea's Top Trading Partners”. www.worldstopexports.com.
  179. ^ “South Korea - Trade - European Commission”. European Commission. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2018.
  180. ^ Ramon Pacheco Pardo, Linde Desmaele and Maximilian Ernst (tháng 10 năm 2018). “Putting the EU-South Korea partnership to 'work”.
  181. ^ Hữu Tuyên (TTXVN) (31 tháng 1 năm 2020). “Hàn Quốc, EU nhất trí hợp tác chặt chẽ trong vấn đề Bán đảo Triều Tiên”. baotintuc.vn.
  182. ^ Phương Oanh (TTXVN) (24 tháng 6 năm 2021). “Hàn Quốc, EU tăng cường quan hệ quốc phòng”. baotintuc.vn.
  183. ^ Thảo Nguyên (23 tháng 6 năm 2018). “Nga - Hàn Quốc tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực”. nhandan.vn.
  184. ^ Adams, Rod. “Moon Jae-in Making Friends By Importing More Gas”. Forbes. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2017.
  185. ^ “Are Warming Russia-South Korea Relations a Game-changer?”. The Diplomat. ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  186. ^ “South Korea, Russia to begin preparations for FTA negotiations: Moon”. The Straits Times. ngày 22 tháng 6 năm 2018.
  187. ^ Vũ Anh (8 tháng 11 năm 2019). “Mỹ muốn Hàn Quốc trả gần 5 tỷ USD 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  188. ^ Ánh Ngọc (15 tháng 11 năm 2019). “Mỹ nói Hàn Quốc giàu, cần chi thêm 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  189. ^ Huyền Lê (10 tháng 2 năm 2019). “Hàn Quốc chấp thuận gánh thêm chi phí quân sự với Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  190. ^ Vũ Anh (8 tháng 8 năm 2019). “Trump: Hàn Quốc đồng ý trả thêm 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  191. ^ Phương Vũ (19 tháng 12 năm 2019). “Mỹ - Hàn bất đồng về 'phí bảo vệ'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  192. ^ Vũ Anh (theo Reuters) (10 tháng 3 năm 2021). “Hàn Quốc trả hơn một tỷ USD 'phí bảo vệ' cho Mỹ”. vnexpress.net.
  193. ^ a b “Major Indicators of Korea”. Korean Statistical Information Service. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
  194. ^ “South Korea”. CIA Country Studies. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2006.
  195. ^ World Population Review. “Seoul Population 2021”. worldpopulationreview.com.
  196. ^ Populations for all cities tính đến năm 2005, “Summary of Census Population (by administrative district/sex/age)”. NSO Database. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2009.
  197. ^ Kim Rahn (ngày 22 tháng 5 năm 2009). “South Korea's birthrate world's lowest”. The Korea Times. Seoul. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  198. ^ “South Korea: Lowest Birthrate in the World”. LifeSiteNews. ngày 28 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  199. ^ “South Korea”. CIA World Factbook. ngày 26 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011.
  200. ^ Anh Ngọc (Theo Bloomberg). “Hàn Quốc đau đầu trước xu hướng phụ nữ quay lưng với hôn nhân”. vnexpress.net.
  201. ^ "Childbirths in S. Korea grow 5.7 pct in 2010" Lưu trữ 2012-05-26 tại Wayback Machine. Yonhap News Agency. ngày 24 tháng 8 năm 2011.
  202. ^ "Korea's Total Fertility Rate Still Near the Bottom of the World" Lưu trữ 2011-11-19 tại Wayback Machine. The Chosun Ilbo. ngày 17 tháng 11 năm 2011.
  203. ^ “The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.
  204. ^ Life expectancy at birth, total (years) |Data |Table. Data.worldbank.org. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2016.
  205. ^ Leipziger, Danny (ngày 6 tháng 2 năm 2014). “South Korea's Japanese Mirror”. The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014.
  206. ^ An Hồng. “Thanh niên Hàn Quốc ngại hẹn hò, sợ kết hôn, không sinh con”. vnexpress.net.
  207. ^ Hồng Hạnh (theo CNN/FT). “Hàn Quốc đối mặt tỷ lệ sinh thấp kỷ lục”. vnexpress.net.
  208. ^ Hoài Thu (11 tháng 7 năm 2021). "Thế hệ Sampo" Hàn Quốc: Thích sống độc thân, không sinh con”. baophapluat.vn.
  209. ^ Park, Hyejeong (1 tháng 2 năm 2012). “20's and 30's, four in every 10 people "I'm a Sampo Generation (20~30대 10명중 4명 "나는 삼포세대")”. asia economy. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013.
  210. ^ Mai Lâm (7 tháng 12 năm 2019). “Những cô gái thề 'chết cũng không lấy chồng'. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  211. ^ Hồng Hạnh (14 tháng 7 năm 2019). “Chính sách thúc đẩy đàn ông Hàn Quốc 'mua' cô dâu nước ngoài”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  212. ^ Ngọc Ánh (theo Korea Times) (31 tháng 5 năm 2021). “Thành phố Hàn khuyến khích nông dân cưới du học sinh Việt”. vnexpress.net.
  213. ^ “문서뷰어”. viewer.moj.go.kr.
  214. ^ An Hồng (20 tháng 11 năm 2017). “Phụ nữ Việt trở thành nhóm cô dâu ngoại quốc đông nhất Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  215. ^ Anh Ngọc (1 tháng 3 năm 2018). “Hơn 70% cô dâu ngoại ở Hàn Quốc là người Việt”. vnexpress.net.
  216. ^ Việt Anh (5 tháng 9 năm 2018). “Mỗi năm có 6.000 cô dâu Việt đến Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  217. ^ Tạ Lư (12 tháng 7 năm 2019). “Thực trạng cô dâu ngoại ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  218. ^ Vũ Hoàng (11 tháng 7 năm 2019). “Những cô dâu ngoại bị chối bỏ ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  219. ^ Thùy Linh (theo CNN). “Người Hàn Quốc quay cuồng trong áp lực làm thêm giờ”. vnexpress.net.
  220. ^ An Hồng (29 tháng 5 năm 2017). “Cuộc chiến tìm việc gian nan của thanh niên Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  221. ^ An Hồng (7 tháng 7 năm 2017). “Làn sóng người trẻ Hàn Quốc muốn rời khỏi đất nước”. vnexpress.net.
  222. ^ “Japan's suicide rate exceeds world average: WHO report The Japan Times”. The Japan Times. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  223. ^ Young-ha Kim (2 tháng 4 năm 2014). “South Korea's Struggle With Suicide”. www.nytimes.com.
  224. ^ “North Korea's suicide rate among worst in world, says WHO report”. the Guardian. Truy cập 27 tháng 9 năm 2015.
  225. ^ a b c Hoàng Phong (theo Korea Herald) (23 tháng 6 năm 2021). “Người già Hàn Quốc chật vật mưu sinh”. vnexpress.net.
  226. ^ Trần Phương (19 tháng 12 năm 2018). “Băng đảng thanh niên Hàn Quốc không đáng lo bằng... 'tội phạm tóc bạc'. tuoitre.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  227. ^ Anh Duy (19 tháng 12 năm 2018). “Làn sóng tội phạm "đầu bạc" phản ánh góc tối xã hội Hàn Quốc”. congan.com.vn. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  228. ^ Hồng Hạnh. “Làm việc đến khi chết - bi kịch của người già Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  229. ^ “Death rate from suicides”. Our World in Data. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  230. ^ “Share of deaths from suicide”. Our World in Data. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2020.
  231. ^ Đăng Khoa (14 tháng 5 năm 2010). “Nạn tự tử tập thể ở Hàn Quốc”. plo.vn.
  232. ^ Khóa học chết thử ở Hàn Quốc VnExpress. 11/7/2011. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2011.
  233. ^ Thùy Linh (dịch theo Worldatlas) (24 tháng 10 năm 2019). “5 quốc gia người lao động phải làm việc nhiều nhất trên thế giới”. giadinhvietnam.com.
  234. ^ Hồng Hạnh (6 tháng 7 năm 2017). “Làm việc tới chết ở Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  235. ^ Hendin, Herbert, Shuiyuan Xiao, Xianyun Li, Tran Thanh Huong, Hong Wang, and Ulrich Hegerl. "Suicide Prevention in Asia: Future Directions." WHO. Truy cập November 4, 2014. http://www.who.int/mental_health/resources/suicide_prevention_asia_chapter10.pdf
  236. ^ South Korea has the highest rate of deaths by suicide in the developed world — but a 2011 law helped decrease rates by 15% - Business Insider ngày 9 tháng 7 năm 2018
  237. ^ “International Religious Freedom Report 2008 - Korea, Republic of”. State.gov. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  238. ^ “The Korea Times:Islam takes root and blooms”. Islamawareness.net. ngày 22 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  239. ^ Phương Vũ (Theo SCMP/NYTimes) (5 tháng 3 năm 2020). “Những bê bối giáo phái ám ảnh Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  240. ^ “South Korea Infant Mortality Rate 1950-2020”. www.macrotrends.net.
  241. ^ “Infant Mortality Rate”. www.cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  242. ^ Logan Chamberlain (16 tháng 11 năm 2020). “Life Expectancy for Countries: The places where people live the longest”. www.infoplease.com.
  243. ^ “Intentional Homicide Victims”. dataunodc.un.org. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  244. ^ “Victims of intentional homicide, 1990-2018”. dataunodc.un.org. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2020.
  245. ^ The Institute for Economics & Peace (IEP). “GLOBAL TERRORISM INDEX 2020: MEASURING THE IMPACT OF TERRORISM” (PDF). visionofhumanity.org.
  246. ^ Macrotrends LLC (Data Source: World Bank). “South Korea Literacy Rate 1990-2021”. www.macrotrends.net.
  247. ^ “World Happiness Report 2019”. worldhappiness.report.
  248. ^ Vân Trang - Đức Minh (17 tháng 9 năm 2020). “Cuộc chiến thi đại học Hàn Quốc: Học 16 tiếng/ngày, nhốt mình trong phòng biệt giam trắng, ám ảnh đến mức cần thôi miên để trấn tĩnh”. phapluat.suckhoedoisong.vn.
  249. ^ “Range of rank on the PISA 2006 science scale” (PDF).
  250. ^ Thùy Linh. “Quá trình vươn lên top đầu thế giới của nền giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  251. ^ Ngọc Lan (4 tháng 1 năm 2011). “Phát triển nền kinh tế không tài nguyên ở Hàn Quốc”. cks.inas.gov.vn.
  252. ^ a b Thùy Linh. “Mặt tối của nền giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  253. ^ “4 Quốc gia đi đầu thế giới trong ngân sách đầu tư vào giáo dục”. eurolinkedu.com. 3 tháng 1 năm 2019.
  254. ^ “4 quốc gia dẫn đầu Thế giới về ngân sách đầu tư cho giáo dục”. megastudy.edu.vn. 1 tháng 3 năm 2019.
  255. ^ Kim Kwang-tae (29 tháng 8 năm 2019). “S. Korea unveils record high budget for 2020”. en.yna.co.kr.
  256. ^ a b WEF (6 tháng 11 năm 2020). “5 quốc gia chi nhiều nhất cho nghiên cứu và phát triển”. vnexpress.net.
  257. ^ “Destination Guides: Study in South Korea”. www.topuniversities.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  258. ^ EF English Proficiency Index. “The world's largest ranking of countries and regions by English skills: Global Ranking of Countries and Regions”. www.ef.com.
  259. ^ “Hệ thống giáo dục Hàn Quốc thành công nhất thế giới”. nhandan.com.vn. 1 tháng 11 năm 2005.
  260. ^ Ripley, Amanda (25 tháng 9 năm 2011). “South Korea: Kids, Stop Studying So Hard!”. Time.
  261. ^ Diamond, Anna (17 tháng 11 năm 2016). “Why South Korea Is So Fixated With the College-Entrance Exam”.
  262. ^ Thanh Hằng (14 tháng 1 năm 2020). “Những điểm khác biệt của giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  263. ^ Thanh Hằng (theo Education in South Korea) (14 tháng 1 năm 2020). “Những điểm khác biệt của giáo dục Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  264. ^ “Korea Awash with the Under-Skilled and Overeducated”. The Chosun Ilbo. 8 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016.
  265. ^ BloombergQuint: Michelle Jamrisko, Wei Lu & Alexandre Tanzi (3 tháng 2 năm 2021). “South Korea Leads World in Innovation as U.S. Exits Top Ten”. www.bloombergquint.com.
  266. ^ Reeta Chakrabarti (2 tháng 12 năm 2013). “South Korea's schools: Long days, high results”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2016.
  267. ^ “The Pressures of the South Korean Education System”. 20 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2020.
  268. ^ Leigh Dayton (27 tháng 5 năm 2020). “Nature Index: How South Korea made itself a global innovation leader”. www.nature.com.
  269. ^ Damm, Christoph (26 tháng 1 năm 2020). “These are the world's most innovative countries. The US isn't even in the top 5”. www.businessinsider.com.
  270. ^ “Global Innovation Index 2020” (PDF). www.wipo.int.
  271. ^ “Korea” (PDF). OECD. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2020.
  272. ^ "Korea: Overview of the Education System (EAG 2019)" (2019). GPSEducation.OECD.org. OECD. Retrieved February 21, 2020.
  273. ^ “S Korea faces problem of 'over-education' - FT.com”. Financial Times. Truy cập 14 tháng 8 năm 2016.
  274. ^ World Population Review. “Most Technologically Advanced Countries 2020”. worldpopulationreview.com.
  275. ^ Marc Getzoff, Phạm Bình (17 tháng 1 năm 2020). “Most Technologically Advanced Countries In The World 2020”. www.gfmag.com.
  276. ^ Economic Growth Rates of Advanced Economies. International Monetary Fund. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010.
  277. ^ Xuân Ngọc. “Bí quyết vượt khủng hoảng của các tập đoàn Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  278. ^ AFP (30 tháng 3 năm 2011). “South Korea GDP grew revised 6.2pc in 2010”. www.brecorder.com.
  279. ^ “World's Top Export Countries”. www.worldstopexports.com.
  280. ^ “Leading import countries worldwide in 2019”. www.statista.com.
  281. ^ “Discover the strongest country brands” (PDF).
  282. ^ Schwab, Klaus. “Insight Report: The Global Competitiveness Report 2019” (PDF). World Economic Forum.
  283. ^ Richard Haigh (Brand Finance). “Nation Brands 2021 Ranking”. brandirectory.com. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2021.
  284. ^ The Heritage Foundation. “2020 Index of Economic Freedom: Country Rankings”. www.heritage.org.
  285. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  286. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  287. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  288. ^ Như Phúc (theo GizChina) (23 tháng 8 năm 2021). “Samsung vượt Intel ở mảng bán dẫn”. vnexpress.net.
  289. ^ Đăng Thiên (theo Korea Times) (20 tháng 10 năm 2020). “Samsung 'đi sau, về trước' trong cuộc đua gia công chip”. vnexpress.net.
  290. ^ Destiny Schmitt. “The Top 7 Largest Manufacturing Plants All Over the World”. www.feelgoodanyway.com.
  291. ^ Viraat (8 tháng 1 năm 2021). “Largest Car Factories in the world in 2021”. motoroctane.com.
  292. ^ Tim Newcomb (5 tháng 1 năm 2017). “7 of the World's Largest Manufacturing Plants: Where the world makes planes, cars, and lingerie”. www.popularmechanics.com.
  293. ^ a b Phạm Trung (30 tháng 4 năm 2021). “Hyundai là xe châu Á bán chạy nhất tại Đức”. vnexpress.net.
  294. ^ Phạm Trung (29 tháng 11 năm 2019). “10 hãng bán xe nhiều nhất tại Đức”. vnexpress.net.
  295. ^ Car Sales Statistics (5 tháng 1 năm 2021). “Hyundai Motor America: 2020 (Full Year) USA: Hyundai Motor America Car Sales”. www.best-selling-cars.com.
  296. ^ Mỹ Anh (26 tháng 6 năm 2020). “10 thương hiệu ôtô chất lượng nhất 2020”. vnexpress.net.
  297. ^ Mỹ Anh (3 tháng 9 năm 2021). “10 thương hiệu ôtô chất lượng nhất 2021”. vnexpress.net.
  298. ^ Mỹ Anh (theo J.D. Power) (8 tháng 10 năm 2021). “Những thương hiệu ôtô có trải nghiệm công nghệ tốt nhất”. vnexpress.net.
  299. ^ Bart Demandt, Manufacturers, ANDC & JATO Dynamics (12 tháng 8 năm 2020). “Kia Europe Sales Figures: Kia Sales Data & Trends for the European Automotive Market - Data & Charts for Total Kia Brand Sales in Europe”. carsalesbase.com/europe-kia/.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  300. ^ Khánh Trần (theo Modernmet & Shutterstock) (6 tháng 3 năm 2021). “10 tòa nhà cao nhất thế giới”. vnexpress.net.
  301. ^ “Double-digit Growth”. BusinessKorea. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  302. ^ Government of Korea biên tập (2010). “Journals”. Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  303. ^ Government of Korea biên tập (2010). “Radio”. Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  304. ^ Government of Korea biên tập (2010). “TV”. Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  305. ^ a b Fastmetrics. “Fastest Internet In The World - Median Download Speeds 2020”. www.fastmetrics.com.
  306. ^ a b Speedtest Global Index. “Global Speeds July 2021”. www.speedtest.net.
  307. ^ Government of Korea biên tập (2010). “Internet service”. Korea.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2021.
  308. ^ “Roads Paved(% of Total Roads) by Country”. ChartsBin.
  309. ^ “TGV South Korea High Speed Rail Route Operated by Korail”. www.railway-technology.com.
  310. ^ “Railways in the Republic of Korea”. www.sinfin.net.
  311. ^ Express bus terminal guide Lưu trữ tháng 9 23, 2010 tại Wayback Machine, Korea Express Bus Lines Association.
  312. ^ “Surging Seoul: Traffic at Incheon Airport is booming. But can South Korea's Big Two airlines capitalize?”. Airline Weekly. 23 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  313. ^ “Company Info”. Korean Air. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018.
  314. ^ Lee Eun-joo (July 2, 2010). "If you're looking for a ticket to Jeju, leave late". Joongang Daily (Seoul). Truy cập July 15, 2010.
  315. ^ SkyTeam. “SkyTeam: A History of Excellence”. www.skyteam.com.
  316. ^ Miller, Peter (5 tháng 11 năm 2020). “The World's Best Airports in 2020 are announced”. www.worldairportawards.com.
  317. ^ Coffey, Helen (25 tháng 11 năm 2019). “The world's best airline for 2020”. www.independent.co.uk.
  318. ^ Rosen, Eric (27 tháng 11 năm 2019). “The 2020 List Of The World's Best Airlines Is Out Now”. www.forbes.com.
  319. ^ Châu Trần (16 tháng 10 năm 2020). “10 sân bay tốt nhất thế giới 2020”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  320. ^ “Cultural Heritage, the source for Koreans' Strength and Dream”. Cha.go.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2009.
  321. ^ “Haeinsa Temple Janggyeong Panjeon, the Depositories for the Tripitaka Koreana Woodblocks” (PDF). UNESCO World Heritage Centre. United Nations. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.
  322. ^ Hawley, Samuel: The Imjin War. Japan's Sixteenth-Century Invasion of Korea and Attempt to Conquer China, The Royal Asiatic Society, Korea Branch, Seoul 2005, ISBN 89-954424-2-5, p.195f.
  323. ^ Turnbull, Stephen: Samurai Invasion. Japan’s Korean War 1592-98 (Luân Đôn, 2002), Cassell & Co ISBN 0-304-35948-3, p.244
  324. ^ Roh, Young-koo: "Yi Sun-shin, an Admiral Who Became a Myth", The Review of Korean Studies, Vol. 7, No. 3 (2004), p.13
  325. ^ Florida, Richard (3 tháng 10 năm 2011). “The World's Leading Nations for Innovation and Technology”. www.bloomberg.com.
  326. ^ Radu, Sintia (28 tháng 1 năm 2020). “Top 10 Countries for Technological Expertise, Ranked by Perception”. www.usnews.com.
  327. ^ Newsroom (3 tháng 6 năm 2016). “12 most technologically advanced nations in the world”. en.protothema.gr.
  328. ^ Michelle Jamrisko, Wei Lu & Alexandre Tanzi (3 tháng 2 năm 2021). “Economics: South Korea Leads World in Innovation as U.S. Exits Top Ten”. www.bloomberg.com.
  329. ^ STRAITS TIMES, BLOOMBERG (3 tháng 2 năm 2021). “South Korea, Singapore lead world in innovation; US drops out of top 10”. www.straitstimes.com.
  330. ^ Kan Hyeong-woo (3 tháng 2 năm 2021). “S. Korea tops list of world's most innovative countries”. www.koreaherald.com.
  331. ^ Samsung number One in the World Lưu trữ tháng 1 15, 2013 tại Wayback Machine, International Data Corporation, January 29, 2010. Truy cập July 7, 2010.
  332. ^ “LG Brand Ranking”. www.rankingthebrands.com.
  333. ^ Interbrand (20 tháng 10 năm 2020). “Samsung Electronics Becomes Top Five in Interbrand's Best Global Brands 2020”. news.samsung.com/us.
  334. ^ Tuấn Hưng (17 tháng 9 năm 2021). “LG đứng đầu thị trường thiết bị gia dụng toàn cầu”. vnexpress.net.
  335. ^ Mỹ Anh (22 tháng 10 năm 2020). “Những thương hiệu ôtô đắt giá nhất thế giới 2020”. vnexpress.net. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2020.
  336. ^ Gorton, David (14 tháng 11 năm 2019). “6 Countries That Produce the Most Cars”. www.investopedia.com.
  337. ^ Workman, Daniel (23 tháng 10 năm 2020). “Car Exports by Country”. www.worldstopexports.com.
  338. ^ Mỹ Anh (20 tháng 6 năm 2019). “Xe Hàn chiếm đỉnh bảng xếp hạng về chất lượng”. vnexpress.net.
  339. ^ "Koreans love their mobile phones", Joongang Daily, January 28, 2009. Truy cập July 7, 2010.
  340. ^ Thanh Hương (TTXVN). 'Vượt mặt' Mỹ-Trung, Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. baotintuc.vn.
  341. ^ CHÍP (theo Trí Thức Trẻ). “Hàn Quốc trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới thương mại hóa mạng 5G, vượt qua Mỹ và Trung Quốc”. genk.vn.
  342. ^ Nam Nguyễn (theo BNews). “Hàn Quốc thương mại hóa mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. www.techtimes.vn.
  343. ^ VOV. “Hàn Quốc trở thành nước đầu tiên cung cấp dịch vụ 5G”. vov.vn.
  344. ^ Trung tâm Tin Tức VTV24. “Hàn Quốc là nước đầu tiên triển khai mạng 5G toàn quốc”. vtv.vn.
  345. ^ Phan Văn Hòa (1 tháng 7 năm 2020). “Hàn Quốc dẫn đầu cuộc đua về tốc độ mạng 5G”. vietnamnet.vn. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  346. ^ Điệp Anh (9 tháng 12 năm 2020). “Khác biệt giữa mạng 5G ở Hàn Quốc và Mỹ”. vnexpress.net. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2020.
  347. ^ Minh Hải. “Hàn Quốc ra mắt mạng 5G đầu tiên trên thế giới”. nguoilambao.vn.
  348. ^ Soumitra Dutta, Bruno Lanvin. “THE NETWORK READINESS INDEX 2020” (PDF). networkreadinessindex.org.
  349. ^ “STSat-1 (Science and Technology Satellite-1, KAISTSat-4, Uribyol-4)”. esa.int.
  350. ^ “About the Satellite Technology Research Center”. satrec.kaist.ac.kr.
  351. ^ “Satellites of South Korea”. /space.skyrocket.de.
  352. ^ a b c Slade Johnson (27 tháng 8 năm 2020). “South Korea is one of the world's largest nuclear power producers”. www.eia.gov.
  353. ^ “ITER Members”. ITER. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
  354. ^ “South Korea wins landmark Gulf nuclear power deal”. Reuters. 29 tháng 12 năm 2009.
  355. ^ “All systems go for Jordan's first nuclear reactor”. UPI. 31 tháng 3 năm 2010.
  356. ^ “South Korea-Jordan sign $130M nuclear deal”. World Nuclear News. 27 tháng 7 năm 2010.
  357. ^ “Korea, Argentina Sign MOU for Nuclear Plant Project”. The Chosun Ilbo. Seoul. 18 tháng 9 năm 2010.
  358. ^ “Argentina eyes nuclear role in S. America”. UPI. 17 tháng 9 năm 2010.
  359. ^ a b “Korea nearing Turkey nuclear plant contract”. The Korea Times. Seoul. 15 tháng 6 năm 2010.
  360. ^ An Khang (theo New Atlas) (25 tháng 11 năm 2021). 'Mặt Trời nhân tạo' của Hàn Quốc lập kỷ lục mới”. vnexpress.net.
  361. ^ General References: Country Nuclear Power Profiles, International Atomic Energy Agency. “Nuclear Power in South Korea”. world-nuclear.org.
  362. ^ “Second APR-1400 unit starts commercial operation”. www.world-nuclear-news.org. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019.
  363. ^ a b “Republic of Korea”. UNESCO. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018.
  364. ^ The VinePair Team. “MAP: What Country Drinks the Most Alcohol?”. vinepair.com.
  365. ^ Global Drinking Demographics. “Sources: Alcohol Consumption by Country 2021”. worldpopulationreview.com.
  366. ^ Toru Otake (5 tháng 10 năm 2020). “Top 10 Popular K-Pop Girl Group in Japan”. jw-webmagazine.com.
  367. ^ theqoo (2 tháng 7 năm 2021). “These Are The Top 10 K-Pop Girl Groups In Japan From The First Half Of 2021”. www.koreaboo.com.
  368. ^ Christy Choi & Amy Nip (30 tháng 11 năm 2012). “How Korean culture stormed the world”. www.scmp.com. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
  369. ^ Bảo Lâm (3 tháng 11 năm 2020). 'Baby Shark' là video YouTube được xem nhiều nhất mọi thời đại”. vnexpress.net.
  370. ^ Ben Beaumont-Thomas (2 tháng 11 năm 2020). “Baby Shark becomes most viewed YouTube video ever, beating Despacito”. www.theguardian.com.
  371. ^ Alves, Vera (4 tháng 9 năm 2018). “Everything you should know about the Baby Shark phenomenon”. www.nzherald.co.nz.
  372. ^ Gibson, Caitlin (14 tháng 9 năm 2018). “The story of 'Baby Shark': How toddlers around the world made a K-pop earworm go viral”. www.washingtonpost.com.
  373. ^ Hiểu Nhân (21 tháng 8 năm 2020). “BTS phá kỷ lục của Blackpink”. vnexpress.net. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  374. ^ Rolli, Bryan (21 tháng 8 năm 2020). “BTS's 'Dynamite' Video Obliterates YouTube Premiere Record [Updated]”. Forbes.com.
  375. ^ “Top 7 of the biggest Korean entertainment companies”. weproject.media. 21 tháng 5 năm 2020.
  376. ^ “K-Pop takes America: how South Korea's music machine is conquering the world”. The Verge. 18 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2017.
  377. ^ Williamson, Lucy (ngày 15 tháng 6 năm 2011). “The dark side of South Korean pop music”. BBC News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017.
  378. ^ “K-POP World Festival (케이팝월드페스티벌)”. Visit Korea. Korean Tourism Organization. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2017.
  379. ^ An Hồng (16 tháng 8 năm 2017). “Kpop - công cụ tuyên truyền hòa bình của Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  380. ^ Kim, Tae Young; Jin, Dal Young (2016). “Cultural Policy in the Korean Wave: An Analysis of Cultural Diplomacy Embedded in Presidential Speeches” (PDF). International Journal of Communication. 10: 5514–5534.
  381. ^ Smirke, Richard (5 tháng 4 năm 2020). “IFPI Global Music Report 2020: Music Revenues Rise For Fifth Straight Year to $20 Billion”. www.billboard.com.
  382. ^ Nguyễn Minh Tiệp & Hoàng Thị Thu Thủy - Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (21 tháng 8 năm 2020). “Phát triển ngành công nghiệp điện ảnh trong chính sách gia tăng "sức mạnh mềm" văn hóa của Hàn Quốc”. www.tapchicongsan.org.vn.
  383. ^ Ân Nguyễn. “Phim Hàn Quốc lần đầu giành giải Cành Cọ Vàng”. vnexpress.net.
  384. ^ KBS World (10 tháng 2 năm 2020). "Ký sinh trùng" thắng lớn với 4 tượng vàng Oscar”. world.kbs.co.kr. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2020.
  385. ^ Hải Minh (26 tháng 4 năm 2021). “Youn Yuh-jung - Diễn viên Hàn Quốc đầu tiên nhận giải Oscar”. laodong.vn.
  386. ^ PV/VOV-Tokyo (26 tháng 4 năm 2021). “Đoạt giải Oscar, nữ diễn viên Youn Yuh-jung mở ra lịch sử mới cho điện ảnh Hàn Quốc”. vov.vn.
  387. ^ KOIS (2003), pág. 632.
  388. ^ a b c COI (2010). “Republic of Korea”. Olympic.org (bằng tiếng Anh). Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.
  389. ^ InsideTheGames. “Rio 2016 Olympics Medal Table”. www.insidethegames.biz.
  390. ^ sports-reference.com. “Rio Summer Olympics 2016 Results - Athletes, Medals & Results”. www.nytimes.com.
  391. ^ “Asian Games” (bằng tiếng Anh). Consejo Olímpico de Asia. Truy cập 16 tháng 11 năm 2010.
  392. ^ FIFA (2010). “República de Corea: Clasificación Mundial/FIFA Coca Cola”. FIFA.com (bằng tiếng español). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2012. Truy cập 12 tháng 4 năm 2010.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (