Doraemon: Đôi bạn thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Stand by Me Doraemon)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Doraemon: Đôi bạn thân
Áp phích phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Tiếng Nhật STAND BY ME ドラえもん
Dịch nghĩa Doraemon luôn bên tôi
Đạo diễn Yamazaki Takashi
Yagi Ryūichi
Sản xuất Shunsuke Okura
Moriya Keiichiro
Shibuya Kiyoko
Okada Maiko
Kịch bản Yamazaki Takashi
Dựa trên Doraemon của
Fujiko F. Fujio
Diễn viên Mizuta Wasabi
Ohara Megumi
Kakazu Yumi
Kimura Subaru
Seki Tomokazu
Kamei Yoshiko
Yamazaki Vanilla
Hagino Shihoko
Takagi Wataru
Mitsuishi Kotono
Matsumoto Yasunori
Takeuchi Miyako
Tahara Aruno
Tsumabuki Satoshi
Âm nhạc Sato Naoki
Hãng sản xuất Shirogumi
Robot Communications
Shin-Ei Animation
Công chiếu Nhật Bản 8 tháng 8, 2014
Ý 6 tháng 11, 2014
Indonesia 10 tháng 12, 2014
Singapore 11 tháng 12, 2014
Việt Nam 12 tháng 12, 2014
Tây Ban Nha Đài Loan 19 tháng 12, 2014
Campuchia 25 tháng 12, 2014
Thái Lan 31 tháng 12, 2014
Brunei 22 tháng 1, 2015
Malaysia 29 tháng 1, 2015
Hàn Quốc 12 tháng 2, 2015
Hồng Kông 19 tháng 2, 2015
Trung Quốc 28 tháng 5, 2015
Philippines 17 tháng 6, 2015
Thổ Nhĩ Kỳ 11 tháng 9, 2015
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Qatar Bahrain 17 tháng 12, 2015
Độ dài 95 phút
Quốc gia Nhật Bản Nhật Bản
Ngôn ngữ tiếng Nhật
Kinh phí 35 triệu Đôla Mỹ
Doanh thu Nhật Bản 8,38 tỉ Yên[1][2][3] (khoảng 77,2 triệu đôla Mỹ)
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.

Doraemon: Đôi bạn thân hay còn gọi Stand by Me Doraemon (STAND BY ME ドラえもん (スタンド バイミー ドラえもん) Sutando bai mii Doraemon?) là phim hoạt hình máy tính 3D Nhật Bản 2014 của đạo diễn Yamazaki Takashi (đạo diễn phim San-Chōme no YūhiEien no Zero) và Yagi Ryūichi (đạo diễn phim Friends: Mononoke Shima no Naki) [4]. Dựa trên nhiều mẩu truyện ngắn khác nhau trong manga Doraemon gốc, tác phẩm được biên tập lại thành phim hoàn chỉnh phát hành nhân dịp kỉ niệm 80 năm ngày sinh cố tác giả Fujiko F. Fujio.[5] Nội dung phim kể về Doraemon, một chú mèo máy không tai đến từ tương lai trở về những năm 70 để giúp một cậu bé "vô tích sự" tên là Nobita thay đổi tương lai đen tối sang một viễn cảnh tương lai tươi sáng vốn sẽ thay đổi số phận của con cháu Nobita về sau và khi Doraemon hoàn tất nhiệm vụ chia tay Nobita cùng với đó là cuộc hội ngộ bất ngờ của họ do chính Nobita tạo ra. Ca khúc chủ đề trong phim là Himawari no Yakusoku do Hata Motohiro thể hiện.

Sau khi công chiếu vào ngày 8 tháng 8 năm 2014, phim liên tiếp gặt hái được nhiều thành công như lọt vào top 5 phim năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản [6][7], với doanh thu 8,38 tỉ Yên trở thành một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014[1] và nhận được Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 cho hạng mục Phim Hoạt hình xuất sắc[6]. Sau Nhật Bản nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã công chiếu như Ý, Indonesia, Singapore,... Ở Việt Nam, phim được chiếu rạp vào ngày 12 tháng 12 năm 2014 với phiên bản lồng tiếng Việt.[8] và phát sóng lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 2015 trên kênh truyền hình K+ NS và K+ NS HD [9]

Phiên bản DVD và đĩa blu-ray cũng đã được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 18 tháng 2 năm 2014 [10][11]. Với khẩu hiệu là "Hãy cùng hòa vào cảm xúc và khóc cùng Doraemon", phim "dành cho tất cả những ai từng là thiếu nhi" đã chinh phục được nhiều khán giả bởi có nhiều người đã khóc sau khi xem bộ phim.[12][13][14][15]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Cốt chuyện được lấy từ các tập truyện quan trọng có liên quan đến sự phát triển và thay đổi tương lai của Nobita và Doraemon từ tập 1 đến 20 của truyện ngắn.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Một cảnh trong phim

Mở đầu phim là hình ảnh cậu bé Nobi Nobita đi học trễ bị thầy giáo phạt, trong cặp chứa những bài kiểm tra điểm kém và hay bị bạn bè bắt nạt. Hệ lụy là cuộc sống trong tương lai con cháu cậu nghèo khổ. Thấy vậy, hậu duệ nhà Nobi - Sewashi đã lập trình robot Doraemon mang về quá khứ để thay đổi tương lai sang hướng tốt hơn. Với nhiều bảo bối tiện dụng chú mèo máy đã giúp cậu bé rất nhiều thứ trong học tập và cuộc sống nhưng việc chinh phục tình cảm thì bất thành khiến cậu tuyệt vọng nên nhờ phóng xạ khó chịu để buông tay Shizuka nhưng vì tình bạn thiêng liêng đã xóa đi ranh giới của bảo bối. Cũng sau sự việc này tương lai của cậu sẽ bước sang một trang mới, cậu đã dùng tivi thời gian xem cảnh trong tương lai: trong một chuyến leo núi Shizuka đã gặp bão tuyết. Biến mình thành người trưởng thành đến giải cứu. Nhưng chuyện anh hùng cứu mỹ nhân này cũng chẳng thành mà còn khiến thời cuộc càng rối ren và lâm nguy nhưng nhờ vào phút chót sự thông minh bất chợt nảy nở khi cố ghi nhớ ngày tận mạng này vào trong óc để bản thân của tương lai lúc này nhớ chạy đến chi viện. May mắn thay, cả hai đã được giải cứu. Shizuka đã đồng ý kết hôn sau vụ việc này. Nóng lòng muốn biết cảnh đám cưới diễn ra như thế nào nên cả Doraemon và Nobita đã đi nhầm vào thời gian trước ngày cưới bằng cỗ máy thời gian nhưng bù lại được lắng lòng trước giây phút trò chuyện giữa ba con nhà Minamoto. Trong lúc hạnh phúc dâng trào trong Nobita - một con người luôn thất bại trong cuộc sống tín hiệu báo động hoàn thành nhiệm vụ trong Doraemon vang lên. Để mèo ú an lòng ra đi, cậu và Jaian sau đó có một trận đánh nhau nảy lửa, Jaian đã phải đầu hàng bởi sự kiên trì của cậu.

Vào ngày Cá tháng tư, Jaian và Suneo đã nói dối cậu rằng Doraemon đã trở lại. Đau khổ, cậu về lại nhà tìm thấy một chiếc hộp bảo bối cuối cùng - Nước nối dối. Sau khi trừng phạt được hai người bạn xấu tính cậu cảm thấy vui trong phút chốc nhưng rồi cơn buồn đến khi nhận ra bên cạnh vắng bóng ai đó. Lúc về nhà cậu buộc miệng nói chú mèo máy sẽ không bao giờ trở lại. Do bảo bối vẫn còn tác dụng nên khi cậu lên phòng mình sửng sốt khi nhìn thấy Doraemon trong phòng.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải: Jaian, Nobita, Doraemon, ShizukaSuneo (Các nhân vật trong phim).

Xét cơ bản tính cách các nhân vật không thay đổi quá nhiều so với nguyên bản vẫn là hình ảnh Doraemon một chú mèo béo ú đến từ tương lai thích ăn bánh rán; Nobita - một cậu bé hậu đậu, vụng về hay bị những người bạn trong lớp bắt nạt nhất là Jaian và Suneo đôi lúc phải nhờ sự giúp đỡ của người cậu rất thích, Shizuka. Mỗi người tuy có một ưu khuyết điểm riêng nhưng trên hết tình bạn của họ vẫn luôn bền chặt đặc biệt là kể từ khi Doraemon đến: họ đã có những chuyến phiêu lưu kỳ thú cùng nhau trong đường hầm thu nhỏ, được sống trên thiên quốc tưởng chừng như chỉ có trong truyện cổ tích hay những lúc sống trong một thế giới dưới lòng đất,.... Có một số nhân vật không xuất hiện trong phim như Mẹ Shizuka, Mẹ Suneo, ông sấm sét Kaminari, Dorami, cô bạn mèo Mimi,.... Điểm khác biệt duy nhất về nhân vật trong phim là phần thiết kế nhân vật khác nhiều so với nguyên tác. Doraemon, Shizuka hay Dekisugi khi nhỏ được đánh giá là dễ thương hơn bản gốc.[16][17].Điểm mới nhân vật là Doraemon, trong truyện gốc tự nguyện đến giúp Nobita còn trong phim bị Sewashi ép buộc. Tuy vậy mưa lâu thấm dần đã biến từ một chú mèo ngang bướng dần dần trở thành người bạn thân của Nobita từ lúc nào chẳng hay. Ở trong phim này, mặc định giọng các nhân vật là những diễn viên lồng tiếng từ phiên bản 2005 đến nay.

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống như các tập phim điện ảnh trước, Doraemon: Đôi bạn thân không đề cập đến những chuyến phiêu lưu mới của nhóm bạn Doraemon đến vùng đất kỳ bí, những cuộc bảo vệ Trái Đất hoặc bảo vệ các hành tinh trên dải Ngân Hà bị kẻ xấu đe dọa mà lại kể lại cái ngày đầu tiên Doraemon đến nhà Nobita, những câu chuyện về tình yêu và tình bạn. Bối cảnh trong phim được chia thành hai mốc thời gian: quá khứ và tương lai nhưng bối cảnh chủ đạo là không gian thập niên 1970 ở một vùng ngoại ô Tokyo, Nhật Bản chủ đề xoay quanh cậu bé Nobita vụng về hậu đậu về câu chuyện tình yêu của cậu với cô bé Shizuka cùng với mối quan hệ bạn bè Jaian và Suneo đặc biệt là kể từ khi Doraemon đến bên cậu. Đồng thời qua tác phẩm cũng thể hiện được trí tưởng tượng bay xa của tác giả, sự tài tình của biên kịch và đạo diễn [18]

Bảo bối trong phim[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh Doraemon và Sewashi trên Cỗ máy thời gian.

Một điểm nhấn không thể không kể đến trong phim đó chính là phần "bảo bối". Đạo diễn Yagi từng tiết lộ "tâm điểm của phim sẽ nói về các món bảo bối của mèo ú nhất là Chong chóng tre. Bạn sẽ có cảm giá chiếc chong chóng tre của Doraemon như đang bay về phía tay mình, giống như ngày nhỏ bạn vẫn từng mơ ước, và giờ đây nó sẽ thành hiện thực. Đó là một cảm giác hết sức kỳ diệu mà hiệu ứng 3D mang lại cho khán giả lần này". Mặc dù Doraemon có rất nhiều bảo bối, theo một thống kê năm 2004 của giáo sư Yokoyama Yasuyuki (thuộc đại học Toyama) thì số bảo bối của Doraemon xuất hiện trong 1344 câu chuyện lên tới 1963 dōgu[19]. Vì thời lượng phim có hạn định nên bảo bối xuất hiện chỉ vào khoảng 22 món bao gồm: Cỗ máy thời gian, Khăn trùm thời gian, Chong chóng tre, Cánh cửa thần kỳ, Bánh mì trí nhớ', Tivi thời gian, Khách sạn rễ cây, Máy ảnh tạo mốt, Nước nói dối, Dây cót tăng tốc, Quả trứng động vật theo mẹ, Đường hầm này thu nhỏ, Túi lấy đồ vật, Áo tàng hình, Vòng xuyên thấu, Phóng xạ khó chịu, Radio thật lòngBình chứa gas làm đông mây.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2011, ban sản xuất khẳng định "Khác với các tập thường lệ, đây là phim Doraemon vừa cũ vừa mới".[20] Được chọn là biên kịch Yamazaki Takashi yêu cầu Nội dung phim phải hướng đến những thứ tình cảm đầu đời. Nếu chấp thuận, quá trình sản xuất sẽ được tiếp hành [21][22]. Sau đó phim mất một năm rưỡi để thiết kế nhân vật và ba năm để theo sát các hoạt động cũng như biểu lộ cảm xúc của họ. Hoạt hoạ CGI được tiến hành sau khi các đoạn hội thoại được thu âm (Puresuko).[23] Phần cảnh quan của khu phố nơi Nobita sống được thực hiện với các mô hình thu nhỏ [24]. Các công nghệ 3D tối tân nhất như chiếu sáng tổng thể hay tán xạ bề mặt phụ được sử dụng để tái hiện các kết cấu chân thực nhất. Các đoạn hội thoại trong phim đa số theo sát bản gốc hết mức có thể nhằm giữ được cái hay của bộ truyện gốc[25]. Vì là bộ phim 3D đầu tiên về Doraemon,Yamazaki và đạo diễn Yagi đã tuyển chọn những câu chuyện ngắn hay nhất như như Người bạn đến từ tương lai, Quả trứng động vật theo mẹ, Vĩnh biệt Shizuka, Sự lãng mạn trên đỉnh núi tuyết, Đêm trước ngày cưới Nobita, Tạm biệt DoraemonDoraemon trở lại để kết thành kịch bản phim thay vì những câu chuyện dài về những cuộc phiêu lưu của nhóm bạn Nobita. Thời gian của "hiện tại" trong phim được giữ ở giai đoạn giữa những năm 70, khi họ xem truyện lúc còn bé[26].Bộ phim từng được công bố là bộ phim truyện thường niên về Doraemon cuối cùng (sau 36 phim được thực hiện).[27] Hiện tại loạt phim đã được tiếp tục với Doraemon: Nobita và những anh hùng vũ trụ được ra mắt vào ngày 7 tháng 3 năm 2015.[28]

Về mặt nhân sự, phim được sản xuất bởi Hội đồng sản xuất phim 2014 (Fujiko Pro, Shin-Ei Animation, Shogakukan, Asatsu-DK, TV Asahi, ShoPro, Toho, Dentsu, Shirogumi, Robot, Asahi Broadcasting Corporation, menu - tele, Shuji Abe, Kyushu Asahi Broadcasting, Hokkaido TV, Hiroshima Home TV) với công ty sản xuất chính là Shirogumi, Robot, Shin-Ei Animation và Fujiko Pro, Shuji Abe office hợp tác sản xuất [29][30]. Về phần âm nhạc do Sato Naoki phụ trách và bài hát chủ đề cuối phim của Hata Motohiro. Phim được phát hành bởi Toho

"Doraemon là một bộ truyện tranh quốc gia nổi tiếng vì vậy tôi cảm thấy khó khăn khi nhận lời mời thử vai trong phim. Ý tôi muốn tôi là giọng nói của Nobita khi trưởng thành. Món bảo bối trong truyện tôi thích nhất là Abekonbe (Mũi tên đảo ngược) vì tôi nghĩ rằng sẽ rất tuyệt nếu chúng ta được sống trong một thế giới siêu thực mà mọi thứ đều bị đảo ngược"

— Tsumabuki Satoshi chia sẻ cảm nghĩ của anh khi vào vai Nobita khi trưởng thành.[31]

Tham gia lồng tiếng cho các nhân vật trong phim vẫn là những cái tên quen thuộc đã gắn bó với các series hoạt hình về chú mèo máy mập ú: Mizuta Wasabi (Doraemon), Ohara Megumi (Nobita), Kakazu Yumi (Shizuka), Seki Tomokazu (Suneo), Kimura Subaru (Gian),… tuy nhiên diễn viên lồng cho Nobita trưởng thànhTsumabuki Satoshi - nhân vật khách mời [32].

Nhân vật Diễn viên lồng tiếng Nhật [voice 1] Diễn viên lồng tiếng Việt [voice 2]
Doraemon Mizuta Wasabi Thùy Tiên
Nobita Ōhara Megumi
Tsumabuki Satoshi (trưởng thành)
Anh Tuấn
Shizuka Kakazu Yumi Ngọc Châu
Suneo Seki Tomokazu Minh Vũ
Jaian Kimura Subaru Tiến Đạt
Sewashi Matsumoto Sachi Kim Anh
Jaiko Yamazaki Vanilla Thanh Hồng
Dekisugi Hagino Shihoko Kiêm Tiến
Thầy giáo Takagi Wataru Trần Vũ
Mẹ của Nobita Mitsuishi Kotono Ngọc Quyên
Ba của Nobita Matsumoto Yasunori Bá Nghị
Mẹ của Jaian Takeuchi Miyako Kim Anh
Ba của Shizuka Tahara Aruno Trí Luân

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Stand by Me Doraemon Original Soundtrack
Album nhạc phim của Sato Naoki
Phát hành 17 tháng 9, 2014
Thể loại
  • Soundtrack
  • Music
Thời lượng 46:56
Hãng đĩa Nippon Columbia

Sato Naoki, người từng nhận được Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản cho phần âm nhạc trong các bộ phim điện ảnh Nhật Bản như: Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 29 cho ca khúc trong phim Always Sanchōme no Yūhi (2005), Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 31(2007) và Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 cho bài hát trong phim Eien no Zero (2014) [33] được chọn viết nhạc trong phim. Các bài hát sau đó được tập hợp lại thành một Album tên là Stand by Me Doraemon Original Soundtrack được hãng đĩa Nippon Columbia phát hành vào ngày 17 tháng 9 năm 2014 với giá bán 2500 Yên[34][35][36] Toàn bộ phần nhạc do Sato Naoki soạn.

Stand by Me Doraemon Original Soundtrack
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Một ngày của Nobita (のび太の一日 Nobita no Ichinichi?)"   2:13
2. "Tựa mở đầu Doraemon Đôi bạn thân (STAND BY MEドラえもんOpening Title Stand by Me Doraemon Opening Title?)"   1:09
3. "Mình là Doraemon (ぼく、ドラ えも Boku, Doraemon?)"   0:54
4. "Chong chóng tre (タケコプター Takecopter?)"   2:48
5. "Túi không gian bốn chiều (四次元ポケット Yojigen Pocket?)"   3:25
6. "Quả trứng động vật theo mẹ (刷りこみたまご Surikomi Tamago?)"   1:14
7. "Tình yêu của Suneo (スネ夫 Love Suneo Love?)"   0:48
8. "Kế hoạch thất bại (作戦失敗 Sakusen Shippai?)"   1:13
9. "Con tim tan vỡ (失恋? Shitsuren??)"   2:02
10. "Học bài (勉強 Benkyou?)"   1:01
11. "Kết quả bài kiểm tra (テストの結果 Test no Kekka?)"   2:00
12. "Tạm biệt Shizuka (さようなら、しずかちゃん Sayounara, Shizuka-chan?)"   3:53
13. "Côn trùng hôi/Phóng xạ khó chịu (ムシスカン Mushisukan?)"   2:02
14. "Tương lai của tôi (ぼくの未来 Boku no Mirai?)"   2:59
15. "Thiếu niên Nobita (のび太青年 Nobita Seinen?)"   2:11
16. "Hãy đến với cậu ấy, ký ức (届け、この記憶! Todoke, Kono Kioku!?)"   1:55
17. "Tình bạn (ともだち Tomodachi?)"   2:55
18. "Đi đến tương lai (未来飛行 Mirai Hikou?)"   1:37
19. "Đêm trước ngày cưới (結婚前夜 Kekkon Zen'ya?)"   2:59
20. "Giọt lệ của Doraemon (ドラえもんの涙 Doraemon no Namida?)"   1:31
21. "Lời hứa (約束 Yakusoku?)"   4:10
22. "Trở về - Phép màu từ nước nói dối (再会 ~ウソ800の奇跡~ Saikai ~Uso 800 no Kiseki~?)"   1:57
Tổng thời lượng:
46:56

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Eiga Stand by Me Doraemon Visual Story

映画「STAND BY ME ドラえ

もん」VISUAL STORY
Doraemon Doi ban than.jpg
Thông tin sách
Tác giả Fujiko F. Fujio
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Bộ sách Doraemon
Thể loại phiêu lưu, du hành thời gian, lãng mạn, hài hước, gia đình
Nhà xuất bản Shogakukan
Ngày phát hành 7 tháng 8, 2014
Kiểu sách Shinsho
Số trang 80
ISBN 9784093883818

Để đáp ứng nhu cầu độc giả cũng như khán giả xem phim một vài tác phẩm liên quan cũng đã chuyển thể như New translation "Doraemon" (新訳『ドラえもん) cuốn sách gồm 7 tập truyện ngắn dựng thành kịch bản phim. Quyển sách này được biên tập và bình luận bởi Hiroshi Sasaki do hãng Fujiko Pro giám sát.[37]. Được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 25 tháng 7 năm 2014, 160 trang với mức giá 2000 Yên [38]. Còn vào ngày 7 tháng 8 năm 2014, bộ sách Visual Story phim được phát hành với giá 1000 yên.[39] Riêng ở Việt Nam, sách được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành ngày 6 tháng 2 năm 2015.[40]. Còn phiên bản DVD và Blu-ray ra mắt tại Nhật vào ngày 18 tháng 2 năm 2015 [41]

Công chiếu và Doanh thu[sửa | sửa mã nguồn]

Công chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được công chiếu ở nhiều quốc gia trên thế giới [42][43][44][45]: tại Ý ngày 6 tháng 11 năm 2014 (dưới tên Doraemon - Il film), tại IndonesiaSingapore vào ngày 18 tháng 12 năm 2014, tại Tây Ban NhaĐài Loan ngày 19 tháng 12 năm 2014, tại Thái Lan ngày 31 tháng 12 năm 2014, tại Hồng Kông ngày 5 tháng 12 năm 2015 (dưới tên Doraemon 3D: Stand by Me), và Ấn Độ, Pháp, Trung Quốc trong năm 2015.[46][47][48]

Một cuộc khảo sát trực tuyến tại Nhật cho kết quả có 20.4% khán giả là trẻ em, 21.5% trong độ tuổi 20-29, 20.4% trong độ tuổi 30-39, 20.4% trong độ tuổi 40-49. 47% khán giả là nam, 53% là nữ. Có 88.4% khán giả đã khóc khi xem phim [14][49]

Tại Việt Nam, phim được chiếu ở các rạp phim như CGV, Galaxy Cinemas, Trung tâm chiếu phim Quốc gia, GoldStar Cinemas [50] Trong tuần đầu công chiếu từ ngày 12 đến 19 tháng 12, phim đứng vị trí 2 phim có doanh thu cao nhất tại rạp, sang tuần thứ 2 thì phim từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 12 phim đứng vị trí thứ 4 trong top 5 phim có doanh thu cao nhất [51]

Phòng vé[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Nhật Bản phim được công chiếu ở 319 cụm rạp, trong hai ngày đầu (ngày 8 và 9 tháng 8 năm 2014) phim thu về 767 triệu Yên đứng vị trí số 1 bảng xếp hạng phòng vé đến ngày thứ 3 doanh thu nâng lên 988 triệu Yên (tương đương 9.67 triệu Đô la Mỹ) [52][53]. Sau 40 ngày công chiếu phim đạt doanh thu 7 tỉ Yên [54] cho đến ngày thứ 76 thì chạm mốc 8 tỉ Yên[55].Phim từng năm tuần liên tiếp đứng vị trí số một tại phòng vé Nhật Bản sau ngày công chiếu đầu tiên [56].Vào tháng 12 năm 2014, phim đạt doanh thu 8.38 tỉ yên xếp thứ 2 bảng doanh thu vàng tại Nhật Bản,chỉ sau Eien no Zero và nằm trong top 5 phim Nhật năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản.[2][7][57] Doanh thu tổng cộng của phim đạt 86.1 triệu đôla Mỹ trên toàn thế giới và là một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 với doanh thu trong nước khoảng 70 triệu đôla Mỹ.[1]

Tại Hồng Kông, từ ngày 7 tháng 2 và từ ngày 14 đến 18 tháng 2 năm 2015, phim thu về 8.43 triệu nhân dân tệ, trong đó thì vào ngày 14 tháng 2 thu về 3.03 triệu nhân dân tệ, đứng đầu phòng vé ngay ngày đầu tiên.[58] Ngày 19 tháng 2, phim phá vỡ kỷ lục 1 triệu đôla Mỹ, thu về thêm 11.76 triệu nhân dân tệ.[59] Khoảng một tuần sau khi phát hành, phim thu về 31.37 triệu nhân dân tệ, phá vỡ kỷ lục phim Ringu của năm 1999[60] và phim nằm ở vị trí thứ 3 trong top phim hoạt hình có doanh thu cao nhất tại Hồng Kông chỉ sau Câu chuyện đồ chơi 3Lò đào tạo quái vật của Pixar [1]. Trong bốn ngày đầu của tuần đầu tại Trung Quốc đại lục phim đạt 237 triệu Nhân dân tệ (phá vỡ kỷ lục Bí kíp luyện rồng 2).[61],còn trong ngày đầu thu về 84 triệu bước sang ngày thứ hai thu về 88 triệu phá vỡ kỷ lục phim Kung Fu Panda 2 phát hành ngày 28 tháng 5 năm 2011 trên bảng xếp hạng phòng vé.[62][63]. Đến ngày thứ 5 phim kiếm được $53 triệu trở thành bộ phim hoạt hình không phải Hollywood có doanh thu cao nhất tại Trung Quốc (phá vỡ doanh thu của Boonie Bears: Mystical Winter).[64] - có doanh thu cao thứ ba chỉ sau Kung Fu Panda 2 ($92.2 triệu) và Biệt đội Big Hero 6 ($86.7 triệu).[65]. Hiện tổng doanh thu là 86.9 triệu đô la Mỹ.

Phim có doanh thu tại Ý là 3.2 triệu đôla Mỹ, tại Indonesia là 3 triệu đôla Mỹ, tại Hàn Quốc là 3.2 triệu đôla Mỹ và tại Thái Lan là 1.2 triệu đôla Mỹ.[1] Theo một cuộc khảo sát của PIA trong ngày đầu công chiếu phim ở phạm vi công cộng với nhiều nhóm tuổi khác nhau về mức độ hài lòng của khán giả về bộ phim thì kết quả là phim đứng vị trí số 1 với 92.6 điểm[66]. Còn theo một cuộc khảo sát khác của NEWS Post Seven về cảnh trong phim mà mọi người ấn tượng nhất thì Nobita một mình chiến đấu với Jaian, Shizuka và ba của cô ấy vào đêm trước hôn lễ là câu đa số được mọi người trả lời nhiều nhất[67].

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong những tác phẩm điện ảnh Nhật Bản thành công nhất năm 2014, Đôi bạn thân nhận được các giải thưởng và đề cử như vào ngày 28 tháng 11, 2014 tại Liên hoan nghệ thuật truyền thông Hoạt hình Nhật Bản lần thứ 18 bộ phim nhận được Giải của Ban giám khảo, vào ngày 4 tháng 12, 2014 phim nhận được giải Grand Prix tại Lumiere Japan Awards 2014 [68] tiếp đó ngày 28 tháng 12, 2014 đạo diễn Yamazaki Takashi nhận được Giải đạo diễn xuất sắc nhất tại lễ trao giải Nikkan Sports Award lần thứ 27 diễn ra tại Hotel New Otani ở Tokyo [69][70][70] đồng thời nhận được giải của Ban giám khảo cho phim hoạt hình chủ đề nước ngoài tại lễ trao giải phim 3D diễn ra ở Warner Bros. Studios [71], Giải Oscar Nhật Bản lần thứ 38 với hạng mục Phim Hoạt hình diễn ra vào ngày 27 tháng 2, 2015 ở Nhật Bản [72]. Tiếp theo tại Tokyo Anime Award Festival 2015 nhận Giải thưởng phim xuất sắc trong thể loại phim chủ đề và được đề cử cho Giải phim hoạt hình của năm diễn ra vào ngày 22 tháng 3, 2015 [73][74] f> và AMD Award vào ngày 6 tháng 4 năm 2015 cho hạng mục Giải thưởng Truyền thông Kỹ thuật số (Digital Media Awards) [75]. Với những đóng góp trong phim hai thành viên trong ban sản xuất: Umezawa Michihiko và Abe Shui đã được trao giải cống hiến trọn đời tại Giải Phê bình phim Nhật Bản lần thứ 24 được công bố vào ngày 9 tháng 5 năm 2015 [76] Tiếp theo đó hai nhà sản xuất này cùng với Yoshiaki Ito nhận được Giải thưởng Fujimoto lần thứ 34 được thông báo vào ngày 4 tháng 6 năm 2015[77]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi phim chính thức khởi chiếu đã có một sức ảnh hưởng rất lớn đến khán giả và là đề tài tìm hiểu của các diễn đàn trên các mạng xã hội. Ở Việt Nam, theo thống kê lịch sử tìm kiếm Google trong năm 2013 và 2014 thì phim nằm ở top đứng đầu [78][79].

Trong chương trình trò chuyện Phòng của Tetsuko Nhật Bản, Doraemon được mời phỏng vấn trên ghế nóng như ngoài đời thật để bàn về bộ phim dưới sự hỗ trợ của đạo diễn phim, Yamazaki Takashi. Sau đó chương trình được phát sóng trên truyền hình lúc 12 giờ ngày 8 tháng 8 năm 2014.[80]. Với sự xuất hiện tại Trung Quốc đại lục, theo như Noriyuki Kawamura - giáo sư chuyên nghiên cứu nước ngoài và quan hệ song phương tại đại học Nagoya ông cho rằng bộ phim có thể sẽ giúp người dân đại lục có cái nhìn tích cực về đất nước Nhật Bản [81][82].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c by Gavin J. Blair, Karen Chu (ngày 3 tháng 3 năm 2015). 'Doraemon' Anime Film Scores Big in Asia with Record Hong Kong Run” (bằng tiếng Anh). The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ a ă “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!” (bằng tiếng Nhật). eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “2015年記者発表資料(2014年度統計)” (PDF) (bằng tiếng Nhật). Motion Picture Producers Association of Japan. Ngày 27 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014. 
  4. ^ “Robot Cat Doraemon's 1st 3D CG Film Teased in Video”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ “3DCG『ドラえもん』、藤子・F・不二雄先生も知らなかった物語” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  6. ^ a ă “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!”” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ a ă “Doraemon nằm trong top 5 phim Nhật Bản 2014” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  8. ^ “Stand by me Doraemon”. Phim Chieu Rap. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  9. ^ “Doraemon trở lại tuổi thơ 18 giờ hôm nay trên kênh K+ NS”. HCTV.com. Ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015. 
  10. ^ “Anime Robot Cat Doraemon Enters 3rd Dimension in 1st 3D CG Film”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  11. ^ Beck, Jerry (9 tháng 3, 2014). “Trailer phim: "STAND BY ME Doraemon" (bằng tiếng Anh). Animation Scoop. Truy cập 9 tháng 3, 2014. 
  12. ^ “Trailer mới của Doraemon 3D”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). 8 tháng 3, 2014. Truy cập 8 tháng 3, 2014. 
  13. ^ “Trailer đầy đủ” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  14. ^ a ă “aramajapan” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  15. ^ “tv-asahi.co.jp” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  16. ^ “Movie Review: Stand By Me Doraemon 3D (2014)” (bằng tiếng Anh). Colourless Opions. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ “Sống lại kỷ niệm tuổi thơ với ‘Doraemon’ phiên bản 3D”. Zing News. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  18. ^ “Doraemon: Stand by me" – Chuyến du hành về tuổi thơ”. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  19. ^ 'Doraemon' fanatic boasts Ding Dong's 1,963 gadgets”. The Japan Times Online. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012. Truy cập 4 tháng 6, 2013. 
  20. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』の主題歌に秦基博が決定!新曲を書き下ろし” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  21. ^ “3DCG映画『STAND BY ME ドラえもん』制作秘話 - スタッフが追求した徹底的な「リアル」とは” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  22. ^ “【特集】【本日公開】映画『STAND BY ME ドラえもん』制作の舞台裏 〜『ドラえもん』がフル3D CGに” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  23. ^ “「ドラえもん」が初の3DCG映画化 来夏公開へ” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  24. ^ “「STAND BY ME ドラえもん」3DCGで2014年夏公開 立体視アニメを山崎貴・八木竜一監督が” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  25. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』山崎貴&八木竜一&山本美月 単独インタビュー” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  26. ^ “3DCG『ドラえもん』、『ALWAYS』『永遠の0』と同じ手法で活路” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  27. ^ “Variety” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  28. ^ “2015 Doraemon film is Nobita no space heroes uchu eiyu ki”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  29. ^ “Review Stand by me Doraemon” (bằng tiếng Anh). Variety. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  30. ^ “STAND BY ME DORAEMON Tops 2014 Anime Box Office” (bằng tiếng Anh). Scifi Japan. Ngày 3 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015. 
  31. ^ “Actor Tsumabuki Satoshi to play older Nobita in upcoming 3D Doraemon movie” (bằng tiếng Anh). Tokyo Hive. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  32. ^ “妻夫木聡、3D版『ドラえもん』で青年・のび太の声に 「本当に緊張しました!」”. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  33. ^ “第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表!” (bằng tiếng Nhật). Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  34. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナル・サウンドトラック” (bằng tiếng Nhật). Recochoku. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  35. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナ ル・サウンドトラック” (bằng tiếng Nhật). Columbia. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  36. ^ “STAND BY ME ドラえもん ORIGINAL SOUNDTRACK” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  37. ^ “Thông tin sách New translation "Doraemon” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  38. ^ “新訳『ドラえもん』” (bằng tiếng Nhật). Dora-World.con. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  39. ^ “Thông tin sách Visual Story Stand by Me Doraemon” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  40. ^ “Ra mắt ấn phẩm đồng hành cùng bộ phim Stand by Me Doraemon”. VOV World. Truy cập ngày 24 tháng 2, 2015. 
  41. ^ “Thông tin phát hành phim”. CD Japan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  42. ^ “3DCG『ドラえもん』、興収80億円突破” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  43. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』21の国と地域へ進出! 海外バイヤーが大絶賛” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  44. ^ “3DCG『ドラえもん』世界へ 21ヶ国・地域で公開決定” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  45. ^ “stand-by-me-doraemon-3d-cg-film-to-open-in-57-countries” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  46. ^ “Stand by Me Doraemon (2014) - Release Info”. Internet Movie Database (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  47. ^ “3D Doraemon film coming to China” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  48. ^ “‘Stand by Me Doraemon’ set to be first Japanese movie to screen in China in three years” (bằng tiếng Anh). The Japan Time. Ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  49. ^ “tv-asahi.co.jp”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  50. ^ “Lịch chiếu phim trên Goldstarcine”. Goldstarcine. Truy cập ngày 26 tháng 5, 20/ref>15.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  51. ^ Thông báo từ trang fa/ref>. Được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 25 tháng 7 năm 2014, 160 trang với mức giá 2000 Yên cebook chính thức của CGV Cinemas Vietnam
  52. ^ “3Dドラえもん 週末動員初登場1位!88・4%が「ドラ泣き」”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  53. ^ “Doraemon đánh bại Transformer ở Nhật Bản” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015. 
  54. ^ “3DCG『ドラえもん』公開40日で興収70億円突破 57の国と地域で配給決定” (bằng tiếng Nhật). Nikan Sport. Truy cập ngày 18 tháng 9, 2014. 
  55. ^ “映画ドラえもん、興行収入80億円突破” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 10, 2014. 
  56. ^ “3DCGドラえもん強い!週末動員V5、興収60億円突破 ― スポニチ Sponichi Annex”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  57. ^ “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập 17 tháng 12 năm 2014. 
  58. ^ “賀歲片情人節搶灘 叮噹日收300萬稱霸”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  59. ^ “單日收333萬發威 叮噹催淚贏盡賀歲檔”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  60. ^ “叮噹破3000萬創紀錄”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  61. ^ Rob Cain (31 tháng 5, 2015). “Japan's Unlikely Ambassador: a Cartoon Robot Cat From the Future Wins China's Hearts and Minds”. Forbes (bằng tiếng Anh). (Forbes, Inc.). Truy cập 5 tháng 6, 2015. 
  62. ^ “动画电影《哆啦A梦》剧场版中文版国内票房破纪录” (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  63. ^ “《哆啦A梦》首周近2.4亿成内地最卖座日片” (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 1 tháng 6, 2015. 
  64. ^ Rob Cain (2 tháng 6, 2015). “Box Office Shocker: Japanese Film Wins at Chinese Box Office”. forbes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập 2 tháng 6, 2015. 
  65. ^ Rob Cain (10 tháng 6, 2015). “China Box Office: "San Andreas" Rolls to Strong PRC Opening”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập 11 tháng 6, 2015. 
  66. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』を観た観客の反応は?”. Truy cập ngày 1 tháng 8, 2014. 
  67. ^ “ドラえもん映画 ストーリーを知る大人も「泣けた」理由とは”. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  68. ^ “ルミエール・ジャパン・アワードグランプリは「ドラえもん」”. eiga.com. Ngày 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  69. ^ “山崎貴監督エンタメ貫き2冠/映画大賞”. Nikkan Sport. Ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  70. ^ a ă “Winner of the 27th Nikkan Sport Film Award 2014” (bằng tiếng Anh). Arama Japan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  71. ^ “International 3D & Advanced Imaging Society Bestows 23 Honors at 6th Annual Awards Ceremony at Warner Bros. Studios” (bằng tiếng Anh). Business Wire. Ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  72. ^ “第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表!” (bằng tiếng Nhật). Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  73. ^ “Thông báo đề cử Tokyo Anime Award Festival 2015 - Animation Award of Year” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  74. ^ “Frozen, Ping Pong tiger and bunny win at Tokyo Anime Award” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2015. 
  75. ^ “ANIME NEWS: 'Yokai Watch,Aikatsu' among winners at AMD Awards” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015. 
  76. ^ “第24回日本映画批評家大賞アニメ部門 作品賞 に「楽園追放」、監督賞に米林宏昌” (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  77. ^ “第34回藤本賞に「STAND BY ME ドラえもん」製作陣、続編製作に意欲” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 4 tháng 6, 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6, 2015. 
  78. ^ “Google VN 2013”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  79. ^ “Người Việt tìm gì nhiều nhất trên Google 2014”. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. 
  80. ^ “ドラえもん、「徹子の部屋」に14年ぶり出 演!3DCG版では初!” (bằng tiếng Nhật). Cinema Today. Ngày 31 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  81. ^ “Is a Time-Traveling Robot Cat Inspiring China and Japan to Bury the Hatchet?” (bằng tiếng Anh). Ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  82. ^ “Japanese robot cat Doraemon helps ease diplomatic tensions with China” (bằng tiếng Anh). The Guardian. Ngày 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
Ghi chú
  1. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc cuối phim
  2. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc các tập phim trên HTV3 và giọng nói nhân vật

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]