Stand by Me Doraemon - Đôi bạn thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Stand by Me Doraemon)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Doraemon: Đôi bạn thân
Áp phích phim tại Việt Nam
Thông tin phim
Tiếng Nhật STAND BY ME ドラえもん
Dịch nghĩa Doraemon luôn bên tôi
Đạo diễn Yamazaki Takashi
Yagi Ryūichi
Sản xuất Shunsuke Okura
Moriya Keiichiro
Shibuya Kiyoko
Okada Maiko
Kịch bản Yamazaki Takashi
Dựa trên Doraemon của
Fujiko F. Fujio
Diễn viên Mizuta Wasabi
Ohara Megumi
Kakazu Yumi
Kimura Subaru
Seki Tomokazu
Kamei Yoshiko
Yamazaki Vanilla
Hagino Shihoko
Takagi Wataru
Mitsuishi Kotono
Matsumoto Yasunori
Takeuchi Miyako
Tahara Aruno
Tsumabuki Satoshi
Âm nhạc Sato Naoki
Hãng sản xuất Shirogumi
Robot Communications
Shin-Ei Animation
Công chiếu 8 tháng 8, 2014
Độ dài 95 phút
Quốc gia Nhật Bản
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Kinh phí 35 triệu Đôla Mỹ
Doanh thu 8,38 tỉ Yên[1][2][3] (khoảng 77,2 triệu đôla Mỹ)

Doraemon: Đôi bạn thân hay còn gọi Stand by Me Doraemon (STAND BY ME ドラえもん (スタンド バイミー ドラえもん) Sutando bai mii Doraemon?) là phim hoạt hình máy tính 3D Nhật Bản 2014 của đạo diễn Yamazaki Takashi (đạo diễn phim San-Chōme no YūhiEien no Zero) và Yagi Ryūichi (đạo diễn phim Friends: Mononoke Shima no Naki).[4] Dựa trên nhiều mẩu truyện ngắn khác nhau trong manga Doraemon gốc, tác phẩm được biên tập lại thành phim hoàn chỉnh phát hành nhân dịp kỉ niệm 80 năm ngày sinh cố tác giả Fujiko F. Fujio.[5] Nội dung phim kể về Doraemon, một chú mèo máy không tai đến từ tương lai trở về những năm 70 để giúp một cậu bé "vô tích sự" tên là Nobita thay đổi tương lai đen tối sang một viễn cảnh tương lai tươi sáng vốn sẽ thay đổi số phận của con cháu Nobita về sau và khi Doraemon hoàn tất nhiệm vụ chia tay Nobita cùng với đó là cuộc hội ngộ bất ngờ của họ do chính Nobita tạo ra. Ca khúc chủ đề trong phim là Himawari no Yakusoku do Hata Motohiro thể hiện.

Sau khi công chiếu vào ngày 8 tháng 8 năm 2014, phim liên tiếp gặt hái được nhiều thành công như lọt vào top 5 phim năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản,[6][7] một trong số các phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 Với doanh thu 8,38 tỉ Yên và nhận được Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản lần thứ 38 cho hạng mục Phim Hoạt hình xuất sắc.[1][6] Sau Nhật Bản một số quốc gia trên thế giới đã ra mắt như Ý, Indonesia, Singapore,... Ở Việt Nam, phim được chiếu rạp từ ngày 12 tháng 12 năm 2014 với phiên bản lồng tiếng Việt.[8]

Phiên bản DVD và đĩa blu-ray được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 18 tháng 2 năm 2014.[9][10] Với khẩu hiệu là "Hãy cùng hòa vào cảm xúc và khóc cùng Doraemon", phim "dành cho tất cả những ai từng là thiếu nhi" đã chinh phục được nhiều khán giả khi có nhiều người đã khóc sau khi xem.[11][12][13][14]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Do sự không giỏi dang của tổ tiên khiến cuộc sống con cháu đời nhà sau của dòng họ Nobi trở nên khốn khó nên Sewashi từ thế kỉ 22 về quá khứ giúp đỡ cụ tổ nhà cậu. Mặc dù không muốn ở lại với Nobita nhưng mèo máy Doraemon bất lực vì bị Sewashi cài chương trình chỉ khi đem đến hạnh phúc cho Nobita mới được trở về nhà. Bằng những bảo bối thần kỳ đến từ thế giới tương lai, Doraemon đã đem đến một cuộc sống hoàn toàn khác so với trước đây: không còn đi học trễ hay bài kiểm tra điểm kém và nhất là có được tình cảm của Shizuka. Trải qua bao chuyện tình bạn giữa Nobita và Doraemon ngày được vun đắp sâu đậm và đây cũng là lúc Doraemon phải về lại tương lai vì đã hoàn thành nhiệm vụ. Ngày Doraemon ra đi cậu rất buồn rồi hôm sau Jaian đã nói dối rằng Doraemon đã trở về khiến cậu vui mừng khôn siết nhưng ngay sau đó cậu đau lòng khi biết sự thật. Cậu đã uống "Thuốc nói dối" và vô tình đã đưa được Doraemon về lại bên cạnh cậu.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tạo hình nhân vật
Nhân vật Diễn viên lồng tiếng
Nhật Bản [voice 1] Việt Nam [voice 2]
Doraemon Mizuta Wasabi Thùy Tiên
Nobita Ōhara Megumi
Tsumabuki Satoshi (trưởng thành)
Anh Tuấn
Shizuka Kakazu Yumi Ngọc Châu
Suneo Seki Tomokazu Minh Vũ
Jaian Kimura Subaru Tiến Đạt
Sewashi Matsumoto Sachi Kim Anh
Jaiko Yamazaki Vanilla Thanh Hồng
Dekisugi Hagino Shihoko Kiêm Tiến
Thầy giáo Takagi Wataru Trần Vũ
Mẹ của Nobita Mitsuishi Kotono Ngọc Quyên
Ba của Nobita Matsumoto Yasunori Bá Nghị
Mẹ của Jaian Takeuchi Miyako Kim Anh
Ba của Shizuka Tahara Aruno Trí Luân

Vào năm 2011, ban sản xuất khẳng định "Khác với các tập thường lệ, đây là phim Doraemon vừa cũ vừa mới".[15] Được chọn là biên kịch Yamazaki Takashi yêu cầu Nội dung phim phải hướng đến những thứ tình cảm đầu đời.[16][17] Sau đó phim mất một năm rưỡi để thiết kế nhân vật và ba năm để theo sát các hoạt động cũng như biểu lộ cảm xúc của họ. Hoạt hoạ CGI được tiến hành sau khi các đoạn hội thoại được thu âm (Puresuko).[18] Phần cảnh quan của khu phố nơi Nobita sống được thực hiện với các mô hình thu nhỏ.[19] Các công nghệ 3D tối tân như chiếu sáng tổng thể hay tán xạ bề mặt phụ được sử dụng để tái hiện các kết cấu chân thực nhất. Các đoạn hội thoại trong phim đa số theo sát bản gốc hết mức có thể nhằm giữ được cái hay của bộ truyện gốc.[20] Vì là bộ phim 3D đầu tiên về Doraemon,Yamazaki và đạo diễn Yagi đã tuyển chọn những câu chuyện ngắn hay nhất như như Người bạn đến từ tương lai, Quả trứng động vật theo mẹ, Vĩnh biệt Shizuka, Sự lãng mạn trên đỉnh núi tuyết, Đêm trước ngày cưới Nobita, Tạm biệt DoraemonDoraemon trở lại để kết thành kịch bản phim thay vì những câu chuyện dài về những cuộc phiêu lưu của nhóm bạn Nobita. Thời gian của "hiện tại" trong phim được giữ ở giai đoạn giữa những năm 70, khi họ xem truyện lúc còn bé.[21] Bộ phim từng được công bố là bộ phim truyện thường niên về Doraemon cuối cùng (sau 36 phim được thực hiện).[22] Hiện tại loạt phim đã được tiếp tục với Doraemon: Nobita và những hiệp sĩ không gian được ra mắt vào ngày 7 tháng 3 năm 2015.[23]

Ca khúc chủ đề chính của phim là Himawari no Yakusoku do Hata Motohiro viết lời và trình bày. Đảm nhiệm viết nhạc soundtrack trong phim là Sato Naoki[24] Các đoạn nhạc của Sato sau đó được tập hợp lại đóng thành album mang tên Stand by Me Doraemon Original Soundtrack và được hãng đĩa Nippon Columbia phát hành vào ngày 17 tháng 9 năm 2014.[25][26][27]

Để đáp ứng nhu cầu độc giả cũng như khán giả xem phim một vài tác phẩm liên quan cũng đã được ra mắt như: New translation "Doraemon" (新訳『ドラえもん) được phát hành ở Nhật Bản vào ngày 25 tháng 7 năm 2014,[28][29] Visual Story được phát hành ngày 7 tháng 8 năm 2014,[30], đĩa Blu-ray & DVD phát hành vào ngày 18 tháng 2 năm 2015....[31] Các ấn phẩm sau đó được phân phối lại tại một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, sách Visual Story được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành ngày 6 tháng 2 năm 2015.[32]

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi công chiếu tại Nhật Bản, phim được giới thiệu tại một số quốc gia khác trên thế giới.[33][34][35][36] Tại Ý phim công chiếu vào ngày 6 tháng 11 năm 2014, tại Việt Nam vào 12 tháng 12 năm 2014,[37] tại IndonesiaSingapore vào ngày 18 tháng 12 năm 2014, tại Tây Ban NhaĐài Loan ngày 19 tháng 12 năm 2014, tại Campuchia vào ngày 25 tháng 12 năm 2014, tại Thái Lan ngày 31 tháng 12 năm 2014, tại Brunei vào ngày 22 tháng 1 năm 2015, tại Malaysia vào ngày 29 tháng 1 năm 2015, tại Hàn Quốc vào ngày 12 tháng 2 năm 2015, tại Hồng Kông ngày 19 tháng 2 năm 2015, tại Trung Quốc vào ngày 28 tháng 5 năm 2015, tại Philippines vào ngày 17 tháng 6 năm 2015, tại Ả Rập vào ngày 17 tháng 12 năm 2015 và tại Kuwait vào ngày 11 tháng 2 năm 2016.[38][39][40] Phim được trình chiếu tại Liên hoan phim Tokyo vào ngày 28 tháng 10 năm 2014 và Liên hoan phim hoạt hình Brussels tại Bỉ vào ngày 6 tháng 2 năm 2016. Còn ở Ấn Độ phim phát sóng truyền hình Hungama TV vào ngày 19 tháng 6, 2016. Ở Việt Nam phim được phát sóng lại trên K+ NS, K+ NS HD vào ngày 1 tháng 6 năm 2015 và trên kênh SeeTV vào ngày 1 tháng 7 năm 2016.[41]

Một cuộc khảo sát trực tuyến tại Nhật cho kết quả có 20.4% khán giả là trẻ em, 21.5% trong độ tuổi 20-29, 20.4% trong độ tuổi 30-39, 20.4% trong độ tuổi 40-49. 47% khán giả là nam, 53% là nữ. Có 88.4% khán giả đã khóc khi xem phim.[13][42]

Ở Nhật Bản phim được công chiếu ở 319 cụm rạp, trong hai ngày đầu (ngày 8 và 9 tháng 8 năm 2014) phim thu về 767 triệu Yên đứng vị trí số 1 bảng xếp hạng phòng vé đến ngày thứ 3 doanh thu nâng lên 988 triệu Yên (tương đương 9.67 triệu Đô la Mỹ).[43][44] Sau 40 ngày công chiếu phim đạt doanh thu 7 tỉ Yên [45] cho đến ngày thứ 76 thì chạm mốc 8 tỉ Yên.[46] Phim từng năm tuần liên tiếp đứng vị trí số một tại phòng vé Nhật Bản sau ngày công chiếu đầu tiên.[47] Vào tháng 12 năm 2014, phim đạt doanh thu 8.38 tỉ yên xếp thứ 2 bảng doanh thu vàng tại Nhật Bản,chỉ sau Eien no Zero và nằm trong top 5 phim Nhật năm 2014 trên bảng xếp hạng tại Nhật Bản.[2][7][48] Doanh thu tổng cộng của phim đạt 86.1 triệu đôla Mỹ trên toàn thế giới và là một trong số phim có doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2014 với doanh thu trong nước khoảng 70 triệu đôla Mỹ.[1]

Tại Hồng Kông, tính đến ngày 18 tháng 2 năm 2015, phim thu về 8.43 triệu nhân dân tệ, trong đó thì vào ngày 14 tháng 2 thu về 3.03 triệu nhân dân tệ, đứng đầu phòng vé ngay ngày đầu tiên.[49] Ngày 19 tháng 2 thu về thêm 11.76 triệu nhân dân tệ.[50] Khoảng một tuần sau khi phát hành, phim thu về 31.37 triệu nhân dân tệ, phá vỡ kỷ lục phim Ringu của năm 1999,[51] và phim nằm ở vị trí thứ 3 trong top phim hoạt hình có doanh thu cao nhất tại Hồng Kông chỉ sau Câu chuyện đồ chơi 3Lò đào tạo quái vật của Pixar.[1] Trong bốn ngày đầu của tuần đầu tại Trung Quốc đại lục phim đạt 237 triệu Nhân dân tệ (phá vỡ kỷ lục Bí kíp luyện rồng 2),[52] còn trong ngày đầu thu về 84 triệu, bước sang ngày thứ hai thu về 88 triệu phá vỡ kỷ lục phim Kung Fu Panda 2 phát hành ngày 28 tháng 5 năm 2011 trên bảng xếp hạng phòng vé.[53][54] Đến ngày thứ 5 phim kiếm được $53 triệu trở thành bộ phim hoạt hình không phải Hollywood có doanh thu cao nhất tại Trung Quốc (phá vỡ doanh thu của Boonie Bears: Mystical Winter),[55] và có doanh thu cao thứ ba chỉ sau Kung Fu Panda 2 ($92.2 triệu) và Biệt đội Big Hero 6 ($86.7 triệu).[56] Hiện tổng doanh thu là 86.9 triệu đô la Mỹ.

Phim có doanh thu tại Ý là 3.2 triệu đôla Mỹ, tại Indonesia là 3 triệu đôla Mỹ, tại Hàn Quốc là 3.2 triệu đôla Mỹ và tại Thái Lan là 1.2 triệu đôla Mỹ.[1] Theo một cuộc khảo sát của PIA trong ngày đầu công chiếu phim ở phạm vi công cộng với nhiều nhóm tuổi khác nhau về mức độ hài lòng của khán giả về bộ phim thì kết quả là phim đứng vị trí số 1 với 92.6 điểm.[51][57] Còn theo một cuộc khảo sát khác của NEWS Post Seven về cảnh trong phim mà mọi người ấn tượng nhất thì Nobita một mình chiến đấu với Jaian, Shizuka và ba của cô ấy vào đêm trước hôn lễ là câu đa số được mọi người trả lời nhiều nhất.[58]

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong những tác phẩm điện ảnh Nhật Bản thành công nhất năm 2014, Đôi bạn thân nhận được các giải thưởng và đề cử: Giải của Ban giám khảo tại Liên hoan nghệ thuật truyền thông Hoạt hình Nhật Bản lần thứ 18 ngày 28 tháng 11 năm 2014, giải Grand Prix tại Lumiere Japan Awards 2014 ngày 4 tháng 12 năm 2014,[59] ngày 28 tháng 12 năm 2014 đạo diễn Yamazaki Takashi nhận được Giải đạo diễn xuất sắc nhất tại lễ trao giải Nikkan Sports Award lần thứ 27 diễn ra tại Hotel New Otani ở Tokyo,[60][61][61] giải của Ban giám khảo cho phim hoạt hình chủ đề nước ngoài tại lễ trao giải phim 3D diễn ra ở Warner Bros. Studios,[62] Giải Oscar Nhật Bản lần thứ 38 với hạng mục Phim Hoạt hình ngày 27 tháng 2 năm 2015,[63] Giải thưởng phim xuất sắc trong thể loại phim chủ đề và được đề cử cho Giải phim hoạt hình của năm diễn ra vào ngày 22 tháng 3, 2015 tại Tokyo Anime Award Festival 2015,[64][65] Giải thưởng Truyền thông Kỹ thuật số (Digital Media Awards) AMD Award ngày 6 tháng 4 năm 2015,[66] với những đóng góp trong phim hai thành viên trong ban sản xuất: Umezawa Michihiko và Abe Shui đã được trao giải cống hiến trọn đời tại Giải Phê bình phim Nhật Bản lần thứ 24 được công bố vào ngày 9 tháng 5 năm 2015,[67] và hai nhà sản xuất này cùng với Yoshiaki Ito nhận được Giải thưởng Fujimoto lần thứ 34 ngày 4 tháng 6 năm 2015.[68] Với sự xuất hiện tại Trung Quốc đại lục, giáo sư Noriyuki Kawamura cho rằng bộ phim có thể sẽ giúp người dân đại lục có cái nhìn tích cực về đất nước Nhật Bản.[69][70].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c by Gavin J. Blair, Karen Chu (ngày 3 tháng 3 năm 2015). 'Doraemon' Anime Film Scores Big in Asia with Record Hong Kong Run” (bằng tiếng Anh). The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  2. ^ a ă “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!” (bằng tiếng Nhật). eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “2015年記者発表資料(2014年度統計)” (PDF) (bằng tiếng Nhật). Motion Picture Producers Association of Japan. Ngày 27 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014. 
  4. ^ “Robot Cat Doraemon's 1st 3D CG Film Teased in Video”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Ngày 14 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  5. ^ “3DCG『ドラえもん』、藤子・F・不二雄先生も知らなかった物語” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  6. ^ a ă “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!”” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  7. ^ a ă “Doraemon nằm trong top 5 phim Nhật Bản 2014” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  8. ^ “Stand by me Doraemon”. Phim Chieu Rap. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  9. ^ “Anime Robot Cat Doraemon Enters 3rd Dimension in 1st 3D CG Film”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  10. ^ Beck, Jerry (9 tháng 3, 2014). “Trailer phim: "STAND BY ME Doraemon" (bằng tiếng Anh). Animation Scoop. Truy cập 9 tháng 3, 2014. 
  11. ^ “Trailer mới của Doraemon 3D”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). 8 tháng 3, 2014. Truy cập 8 tháng 3, 2014. 
  12. ^ “Trailer đầy đủ” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  13. ^ a ă “aramajapan” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  14. ^ “tv-asahi.co.jp” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  15. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』の主題歌に秦基博が決定!新曲を書き下ろし” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ “3DCG映画『STAND BY ME ドラえもん』制作秘話 - スタッフが追求した徹底的な「リアル」とは” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  17. ^ “【特集】【本日公開】映画『STAND BY ME ドラえもん』制作の舞台裏 〜『ドラえもん』がフル3D CGに” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  18. ^ “「ドラえもん」が初の3DCG映画化 来夏公開へ” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  19. ^ “「STAND BY ME ドラえもん」3DCGで2014年夏公開 立体視アニメを山崎貴・八木竜一監督が” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  20. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』山崎貴&八木竜一&山本美月 単独インタビュー” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  21. ^ “3DCG『ドラえもん』、『ALWAYS』『永遠の0』と同じ手法で活路” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  22. ^ “Variety” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  23. ^ “2015 Doraemon film is Nobita no space heroes uchu eiyu ki”. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  24. ^ “第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表!” (bằng tiếng Nhật). Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2015. 
  25. ^ “映画『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナル・サウンドトラック” (bằng tiếng Nhật). Recochoku. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  26. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』 オリジナ ル・サウンドトラック” (bằng tiếng Nhật). Columbia. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  27. ^ “STAND BY ME ドラえもん ORIGINAL SOUNDTRACK” (bằng tiếng Nhật). Billboard Japan. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2015. 
  28. ^ “新訳『ドラえもん』” (bằng tiếng Nhật). Dora-World.con. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  29. ^ “Thông tin sách New translation "Doraemon” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  30. ^ “Thông tin sách Visual Story Stand by Me Doraemon” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  31. ^ “Thông tin phát hành phim”. CD Japan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  32. ^ “Ra mắt ấn phẩm đồng hành cùng bộ phim Stand by Me Doraemon”. VOV World. Truy cập ngày 24 tháng 2, 2015. 
  33. ^ “3DCG『ドラえもん』、興収80億円突破” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  34. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』21の国と地域へ進出! 海外バイヤーが大絶賛” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  35. ^ “3DCG『ドラえもん』世界へ 21ヶ国・地域で公開決定” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  36. ^ “stand-by-me-doraemon-3d-cg-film-to-open-in-57-countries” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Ngày 17 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  37. ^ “Lịch chiếu phim trên Goldstarcine”. Goldstarcine. Truy cập ngày 26 tháng 5, 2015. 
  38. ^ “Stand by Me Doraemon (2014) - Release Info”. Internet Movie Database (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  39. ^ “3D Doraemon film coming to China” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  40. ^ “‘Stand by Me Doraemon’ set to be first Japanese movie to screen in China in three years” (bằng tiếng Anh). The Japan Time. Ngày 27 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  41. ^ “Doraemon trở lại tuổi thơ 18 giờ hôm nay trên kênh K+ NS”. HCTV.com. Ngày 1 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2015. 
  42. ^ “tv-asahi.co.jp”. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2015. 
  43. ^ “3Dドラえもん 週末動員初登場1位!88・4%が「ドラ泣き」”. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 
  44. ^ “Doraemon đánh bại Transformer ở Nhật Bản” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015. 
  45. ^ “3DCG『ドラえもん』公開40日で興収70億円突破 57の国と地域で配給決定” (bằng tiếng Nhật). Nikan Sport. Truy cập ngày 18 tháng 9, 2014. 
  46. ^ “映画ドラえもん、興行収入80億円突破” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 10, 2014. 
  47. ^ “3DCGドラえもん強い!週末動員V5、興収60億円突破 ― スポニチ Sponichi Annex”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  48. ^ “2014年邦画ベスト10、山崎貴監督2作品で171億円!” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 16 tháng 12 năm 2014. Truy cập 17 tháng 12 năm 2014. 
  49. ^ “賀歲片情人節搶灘 叮噹日收300萬稱霸”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  50. ^ “單日收333萬發威 叮噹催淚贏盡賀歲檔”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  51. ^ a ă “叮噹破3000萬創紀錄”. Next Media. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  52. ^ Rob Cain (31 tháng 5, 2015). “Japan's Unlikely Ambassador: a Cartoon Robot Cat From the Future Wins China's Hearts and Minds”. Forbes (bằng tiếng Anh). (Forbes, Inc.). Truy cập 5 tháng 6, 2015. 
  53. ^ “动画电影《哆啦A梦》剧场版中文版国内票房破纪录” (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2015. 
  54. ^ “《哆啦A梦》首周近2.4亿成内地最卖座日片” (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 1 tháng 6, 2015. 
  55. ^ Rob Cain (2 tháng 6, 2015). “Box Office Shocker: Japanese Film Wins at Chinese Box Office”. forbes.com (bằng tiếng Anh). Truy cập 2 tháng 6, 2015. 
  56. ^ Rob Cain (10 tháng 6, 2015). “China Box Office: "San Andreas" Rolls to Strong PRC Opening”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập 11 tháng 6, 2015. 
  57. ^ “『STAND BY ME ドラえもん』を観た観客の反応は?”. Truy cập ngày 1 tháng 8, 2014. 
  58. ^ “ドラえもん映画 ストーリーを知る大人も「泣けた」理由とは”. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  59. ^ “ルミエール・ジャパン・アワードグランプリは「ドラえもん」”. eiga.com. Ngày 22 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2014. 
  60. ^ “山崎貴監督エンタメ貫き2冠/映画大賞”. Nikkan Sport. Ngày 4 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  61. ^ a ă “Winner of the 27th Nikkan Sport Film Award 2014” (bằng tiếng Anh). Arama Japan. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  62. ^ “International 3D & Advanced Imaging Society Bestows 23 Honors at 6th Annual Awards Ceremony at Warner Bros. Studios” (bằng tiếng Anh). Business Wire. Ngày 19 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  63. ^ “第38回日本アカデミー賞最優秀賞発表!” (bằng tiếng Nhật). Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  64. ^ “Thông báo đề cử Tokyo Anime Award Festival 2015 - Animation Award of Year” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  65. ^ “Frozen, Ping Pong tiger and bunny win at Tokyo Anime Award” (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2015. 
  66. ^ “ANIME NEWS: 'Yokai Watch,Aikatsu' among winners at AMD Awards”. Truy cập 9 tháng 7 năm 2016. 
  67. ^ “第24回日本映画批評家大賞アニメ部門 作品賞 に「楽園追放」、監督賞に米林宏昌” (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  68. ^ “第34回藤本賞に「STAND BY ME ドラえもん」製作陣、続編製作に意欲” (bằng tiếng Nhật). Eiga.com. Ngày 4 tháng 6, 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6, 2015. 
  69. ^ “Is a Time-Traveling Robot Cat Inspiring China and Japan to Bury the Hatchet?” (bằng tiếng Anh). Ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  70. ^ “Japanese robot cat Doraemon helps ease diplomatic tension” (bằng tiếng Anh). The Guardian. Ngày 3 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
Tham khảo
  1. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc cuối phim
  2. ^ Theo phần giới thiệu ở màn kết thúc các tập phim trên HTV3 và giọng nói nhân vật

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]