Sugita Tomokazu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sugita Tomokazu
Sinh 11 tháng 10, 1980 (37 tuổi)
Nhật Bản Saitama, Nhật Bản
Nghề nghiệp Diễn viên lồng tiếng
Năm hoạt động 1999 - nay
Đại lý Atomic Monkey
Website sugitazangetsu.com/
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Sugita. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Sugita Tomokazu (杉田 智和 Sam Điền Trí Hòa?, sinh ngày 11 tháng 10, 1980) là một nam diễn viên lồng tiếng người Nhật đến từ tỉnh Saitama, hiện đang làm việc cho Atomic Monkey[1]. Vai diễn đáng chú ý nhất của anh là Gintoki trong Gintama, anh cũng là người lồng tiếng cho Kyon trong The Melancholy of Suzumiya Haruhi. Anh là một trong ba MC phụ trách chương trình phát thanh BlueRadio để quảng cáo cho trò chơi điện tử Blazblue, được sản xuất và phát hành bởi Nico Nico Douga. Hai người còn lại là Kondou KanakoImai Asami, cũng lồng tiếng cho các nhân vật trong Blazblue.

Sugita là bạn thân của Nakamura Yuichi, đồng nghiệp của anh, từ năm 2001. Cả hai đều đảm nhận những vai chủ chốt trong hai chuyển thể anime từ visual novel của Key, Aizawa Yuichi trong KanonOkazaki Tomoya trong CLANNAD.

Tại Anime Grand Prix lần thứ 33, vai lồng tiếng Sakata Gintoki cho anime Gintama của anh đã thắng giải nhân vật nam được ưa thích nhất, và ở giải trước đó là Kyon trong The Melancholy of Suzumiya Haruhi. Sugita và Nakamura làm việc cùng nhau trong sê-ri Blazblue cho lần lượt hai vai chính diện là Ragna và phản diện là Hazama.

Sugita được phong danh hiệu "Nam diễn viên phụ Xuất sắc nhất" của Giải thưởng Seiyū lần 3[2].

Vai diễn nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Các vai chính được in đậm.

2000[sửa | sửa mã nguồn]

2001[sửa | sửa mã nguồn]

2002[sửa | sửa mã nguồn]

2003[sửa | sửa mã nguồn]

2004[sửa | sửa mã nguồn]

2005[sửa | sửa mã nguồn]

2006[sửa | sửa mã nguồn]

2007[sửa | sửa mã nguồn]

2008[sửa | sửa mã nguồn]

2009[sửa | sửa mã nguồn]

2010[sửa | sửa mã nguồn]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "杉田智和プロフィール" (tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010.
  2. ^ a ă Maeda, Hisashi. "The Official Art of The Melancholy of Haruhi Suzumiya". Newtype USA. 6 (11) pp. 133–139. November 2007. ISSN 1541-4817.
  3. ^ "かってにコープス祭" (tiếng Nhật). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]