Survivor (album của Destiny's Child)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Survivor
Album phòng thu của Destiny's Child
Phát hành 1 tháng 5 năm 2001 (Hoa Kỳ)
Thu âm 2000–2001
Thể loại R&B, pop, gospel
Thời lượng 59:37 (Bản thường)
Hãng đĩa Columbia
Sản xuất Anthony Dent
K-Fam
Mark J. Feist
Rob Fusari
Beyoncé Knowles
Errol "Poppi" McCalla Jr
Falonte Moore
Poke & Tone
Rapture & E. Seats
Cory Rooney
J. R. Rotem
Dwayne Wiggins
Thứ tự album của Destiny's Child
The Writing's on the Wall
(1999)
Survivor
(2001)
Love: Destiny
(2001)
Đĩa đơn từ Survivor
  1. "Independent Women Part 1"
    Phát hành: 14 tháng 9 năm 2000
  2. "Survivor"
    Phát hành: 13 tháng 2 năm 2001
  3. "Bootylicious"
    Phát hành: 20 tháng 5 năm 2001
  4. "Emotion"
    Phát hành: 13 tháng 11 năm 2001
  5. "Nasty Girl"
    Phát hành: 2 tháng 4 năm 2002

Survivor (Tạm dịch: Sống Sót) là album phòng thu thứ ba của nhóm nhạc nữ người Mỹ Destiny's Child, phát hành bởi hãng Columbia vào ngày 1 tháng 5 năm 2001 tại Mỹ. Album được sản xuất chính bởi Beyoncé KnowlesJ.R. Rotem, kèm theo những ca khúc được sản xuất bởi Poke & Tone, Cory RooneyMark J. Feist. Survivor gồm bốn đĩa đơn, trong đó có hai đĩa đơn quán quân là "Bootylicious" và "Independent Women Part 1", hai đĩa đơn do Beyoncé sáng tác được phát hành là "Survivor" và bản thu lại của ca khúc "Emotion" thuộc nhóm nhạc The Bee Gees.

Tại Mỹ, album lần đầu xuất hiện với vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 vào ngày 19 tháng 5 năm 2001 cùng 663,000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu tiên và giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng này đến hai tuần liên tiếp. Nhờ những thành công trên mà album đã giúp nhóm có cơ hội giành lấy ba đề cử Grammy cho hạng mục Trình diễn Song ca hoặc Nhóm nhạc R&B Xuất sắc nhất, Bài hát R&B Xuất sắc nhất, và Album R&B Xuất sắc nhất. Survivor sau đó đã được trao tặng đĩa Bạch kim bởi hiệp hội RIAA vào ngày 7 tháng Giêng, 2002. Tạp chí Billboard đã liệt kê Survivor ở vị trí #70 trong danh sách Top 200 Albums of the Decade (200 Album của Thập kỷ).[1]

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 11 năm 1999, LeToya LuckettLaTavia Roberson đã kiện quản lý của mình, Mathew Knowles vì ông đã chia lợi nhuận không đều cho các thành viên, thu nhập chủ yếu thuộc về hai thành viên thân cận của ông là Beyoncé KnowlesKelly Rowland[2]. Trước khi họ có ý định rời nhóm, trong khi thực hiện video "Say My Name" vào tháng 2 năm 2000, họ đã phát hiện ra rằng nhóm sẽ có hai thành viên mới thay thế họ là cựu ca sĩ hát bè cho Monica, Michelle Williams và một diễn viên nghiệp dư Farrah Franklin, hay người sẽ gia nhập cùng hai thành viên còn lại.[2] Nhưng, đúng 5 tháng trình diễn với nhóm Destiny's Child, Franklin cũng đã rời khỏi nhóm nhạc. Theo nhóm, cô đã bị sa thải vì cô hay lỡ những sự kiện âm nhạc hay các buổi diễn. Theo thành viên Williams, Franklin không thể chịu nổi những áp lực xung quanh mình.[2] Franklin sau đó cùng đã chia sẻ rằng cô rời nhóm nhạc vì cô đã xảy ra những vụ xung đột với nhóm và cô cảm thấy bất lực vì mình không thể đưa ra những quyết định cho nhóm.[2]

Thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thời điểm gay cấn trong sự nghiệp của nhóm, Knowles đã điều khiển lại Destiny's Child và tự tay viết cũng như việc sản xuất những ca khúc riêng dành cho nhóm.[3] Knowles hầu như sau đó đã viết và sản xuất toàn bộ album này, nhưng thực chất rằng cô không hề có ý định viết hay sản xuất hết các ca khúc trong album.[4] Cô giải thích, "Tôi lúc đó chỉ mong muốn sáng tác khoảng ba ca khúc... Nhưng hãng thu cứ tiếp tục nói 'Hãy sáng tác thêm nữa đi, hãy sáng tác thêm nữa đi, hãy sáng tác thêm nữa đi'. Tôi chưa hề lên kế hoạch này. Tôi chưa hề nói rằng 'Được, Tôi sẽ làm chủ album này'."[4] Album trước đó đã được lấy tên là Independent Women (Những người Phụ nữ Độc lập), nhưng sau đó đã được đổi tên thành Survivor (Sống Sót) để có thể gợi nhớ đến người nghe về những rắc rối của nhóm thời gian ấy.[5]

Ca khúc chủ đề "Survivor" được lấy cảm hứng từ trò đùa của một đài phát thanh khi trêu chọc rằng ba thành viên còn lại sẽ rời khỏi nhóm.[6] Knowles đã lấy cảm hứng từ những phản hồi tiêu cực ấy để viết một ca khúc với nội dung mang tính tích cực.[6] "Bootylicious" thì được Knowles sáng tác khi đang bay đến London, lúc đó, cô đang nghe bài hát "Edge of Seventeen" của Stevie Nicks thì từ "Bootylicious" ("Cặp mông Nõn nà") bỗng xuất hiện trong ý nghĩ của cô.[4] Trong khi thu âm các ca khúc cho album, Rowland đã thu âm một bài hát mang tên "Angel" và sau này ca khúc đã xuất hiện trong nhạc phim của Down to Earth.[3]

Sự tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic (63/100)[7]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[8]
Entertainment Weekly (B+)[9]
Blender 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg
Slant Magazine 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[10]
Robert Christgau Rating-Christgau-two-star-honorable-mention.png[11]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg 2004[12]

Album nhận được nhiều phản hồi tích cực cũng như những phản hồi khá lẫn lộn từ những nhà phê bình âm nhạc. "Survivor" nhận được số điểm là 63/100 bởi Metacritic, dựa trên 17 bài đánh giá "khá tích cực".[7] Entertainment Weekly khen ngợi album và cho rằng "(Survivor) là những diva chớm nở một cách nhanh chóng, dù vậy, những cô gái này vẫn gây được ấn tượng mạnh đối với khán giả." Tạp chí Spin cho rằng "Survivor đã chính là những sáng tạo không ngừng của các cô gái và nhóm đã được sống trở lại."[13] Ngược lại với những ý kiến trên, tạp chí New York cho rằng album không giành được nhiều sự thuyết phục khi nói: "Tất cả 15 ca khúc trong album đều là kinh khủng theo một cách, đều là những câu chuyện về việc loại bỏ các thành viên, trả thù bạn trai của mình và đáp lại những tin đồn xung quanh." Allmusic bình luận rằng: "Nghe khá giống như những gì Mariah Carey đã làm, chỉ có điều là không được hay cho lắm."[14]

Album đã giành được một giải Soul Train Lady of Soul Award cho hạng mục "Album R&B/Soul của Năm", một giải Teen Choice Award cho "Album R&B/Soul của Năm - Bởi một Nhóm nhạc, Ban nhạc hay Song ca", cùng một giải American Music Award cho "Album Pop/Rock được Yêu thích". Destiny's Child đồng thời cũng đã thắng một Giải Grammy cho "Trình diễn Song ca hoặc Nhóm nhạc R&B Xuất sắc nhất" nhờ ca khúc chủ đề "Survivor". Còn album này sau đó cũng đã giành một đề cử Grammy nữa là "Album R&B Xuất sắc nhất".[15]

Những thành công đã gặt hái[sửa | sửa mã nguồn]

Survivor lần đầu xuất hiện trên bảng xếp hạng album của Billboard với vị trí quán quân cùng số lượng đĩa tiêu thụ trong tuần đầu tiên khá cao, hơn 663,000 bản, kỷ lục này đã đánh bại những nhóm nhạc nữ khác theo thống kê của SoundScan và đồng thời cũng chính là album có số lượng đĩa bán tuần đầu tiên cao nhất trong lịch sử của hãng thu Columbia Records.

Survivor sau đó đã xuất hiện với vị trí quán quân hơn 9 quốc gia trên thế giới, trong đó có Anh Quốc, nơi album được chứng nhận 3-lần Bạch kim bởi hiệp hội BPI với 900,000 đến 1 triệu bản đã được tiêu thụ tại đây. Album đồng thời cũng vươn lên vị trí quán quân tại Canada cùng 31,000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu (nhưng vẫn được chứng nhận 4-lần Bạch kim với hơn 400,000 bản được tiêu thụ tổng cộng), và sau đó xuất hiện trong top 10 album tại Úc, Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp, Ý, Phần Lan và Ba Lan.

Nhờ Survivor, Destiny's Child đã trở thành nhóm nhạc nữ tại Mỹ thứ hai có album đứng nhất tại Anh, chỉ sau nhóm Diana Ross & the Supremes đứng nhất 24 năm về trước cùng album tuyển tập những ca khúc hay nhất của nhóm. Survivor chính là album phòng thu quán quân tại Anh đầu tiên (không phải là album tuyển tập những ca khúc hay nhất) được trình bày bởi một nhóm nhạc nữ người Mỹ suốt 43 năm vừa qua trong lịch sử của bảng xếp hạng. Với hai đĩa đơn quán quân tại Anh ("Independent Women Part I" và "Survivor"), Destiny's Child đã tiếp tục giành lấy kỷ lục nhóm nhạc nữ người Mỹ có nhiều đĩa đơn quán quân tại Anh nhất. Nhóm nhạc người Mỹ cuối cùng giành được danh hiệu nay chính là nhóm The Bangles với ca khúc đình đám "Walk Like an Egyptian" năm 1987.

Ngoài ra, đĩa đơn "Survivor" đã giữ vững vị trí á quân sáu tuần liền trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. "Independent Women Part I" (đồng thời cũng nằm trong album nhạc phim của Charlie's Angels') đã vươn lên vị trí đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100, R&B và bảng xếp hạng nhạc Dance. Video cho ca khúc "Bootylicious" của album còn kèm theo sự xuất hiện của Stevie Nicks.

Tại châu Âu, album được chứng nhận 2-lần Bạch kim với hơn hai triệu bản được tiêu thụ khắp châu lục này; đến nay album đã vươn lên con số ba triệu bản. Album đồng thời cũng đã được chứng nhận 2-lần Bạch kim tại Úc. Hiệp hội IFPI đã cho ra thống kê rằng Survivor là album bán chạy thứ ba thế giới vào năm 2001 với hơn 7.8 triệu bản được tiêu thụ trong năm này. Đến nay, album đã bán được 10 triệu bản.[16]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tại Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Independent Women Part I"   B. Knowles, S. Barnes, C. Rooney, J. C. Olivie Beyoncé Knowles, Poke and Tone, Cory Rooney 3:42
2. "Survivor" (kèm theo phần giới thiệu cho "Bootylicious") B. Knowles, A. Dent, M. Knowles Beyoncé Knowles, Anthony Dent 4:14
3. "Bootylicious"   B. Knowles, R. Fusari, F. Moore, S. Nicks Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Falonte Moore 3:28
4. "Nasty Girl"   B. Knowles, A. Dent, M. Bassi N. Hacket Beyoncé Knowles, Anthony Dent 4:18
5. "Fancy"   B. Knowles, D. Wiggins, J. Rotem Beyoncé Knowles, Dwayne Wiggins 4:13
6. "Apple Pie à la Mode"   B. Knowles, R. Fusari, F. Moore Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Falonte Moore 2:59
7. "Sexy Daddy"   B. Knowles, D. Elliott Beyoncé Knowles, Damon Elliott 4:07
8. "Independent Women Part II"   B. Knowles, R. Stewart, E. Seats, F. Comstock, D. Donaldson   3:46
9. "Happy Face" (kèm theo phần giới thiệu cho "Emotion") R. Fusari, C. Gaines, B. Knowles, B. Lee, F. Moore Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Calvin Gaines, Bill Lee, Falonte Moore 4:20
10. "Emotion"   B. Gibb, R. Gibb Beyoncé Knowles, Mark Fiest, Matthew Knowles 3:56
11. "Dangerously in Love"   B. Knowles, E, McCalla Jr Beyoncé Knowles, Errol "Poppi" McCalla Jr. 4:53
12. "Brown Eyes" (kèm theo phần giới thiệu cho "The Story of Beauty") W. Afanasieff, B. Knowles Beyoncé Knowles 4:49
13. "The Story of Beauty"   B. Knowles, K. Fambro Beyoncé Knowles, Ken "K-Fam" Fambro 3:32
14. "Gospel Medley (Điệp khúc nhạ Gospel)" (Gửi tặng Andretta Tillman) B. Knowles, K. Franklin, R. Smallwood Beyoncé Knowles 3:25
15. "Outro (DC-3) Thank You (Kết thúc (DC-3) Cảm ơn)"   B. Knowles, K. Rowland, M. Williams, R. Fusari, B. Lee, C. Gaines Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Bill Lee, Calvin Gaines 4:03

Phiên bản Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Mã hàng: Europe COL 501783 2,[17] Australia 501703 2[18]

STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Independent Women Part I"   B. Knowles, S. Barnes, C. Rooney, J. C. Olivie Beyoncé Knowles, Poke and Tone, Cory Rooney 3:42
2. "Survivor" (kèm theo phần giới thiệu cho "Bootylicious") B. Knowles, A. Dent, M. Knowles Beyoncé Knowles, Anthony Dent 4:14
3. "Bootylicious"   B. Knowles, R. Fusari, F. Moore, S. Nicks Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Falonte Moore 3:28
4. "Nasty Girl"   B. Knowles, A. Dent, M. Bassi N. Hacket Beyoncé Knowles, Anthony Dent 4:18
5. "Fancy"   B. Knowles, D. Wiggins, J. Rotem Beyoncé Knowles, Dwayne Wiggins 4:13
6. "Apple Pie à la Mode"   B. Knowles, R. Fusari, F. Moore Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Falonte Moore 2:59
7. "Sexy Daddy"   B. Knowles, D. Elliott Beyoncé Knowles, Damon Elliott 4:07
8. "Perfect Man"   B. Knowles, R. Stewart, E. Seats Rapture Stewart, Eric Seats 3:41
9. "Independent Women Part II"   B. Knowles, R. Stewart, E. Seats, F. Comstock, D. Donaldson   3:46
10. "Happy Face" (kèm theo phần giới thiệu cho "Emotion") R. Fusari, C. Gaines, B. Knowles, B. Lee, F. Moore Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Calvin Gaines, Bill Lee, Falonte Moore 4:20
11. "Dance With Me"   B. Knowles, C. Schack, K. Karlin Beyoncé Knowles, Soulshock & Karlin 3:43
12. "My Heart Still Beats" (cùng Beyoncé Knowles) B. Knowles, W. Afanasieff Walter Afanasieff, Beyoncé Knowles 4:08
13. "Emotion"   B. Gibb, R. Gibb Beyoncé Knowles, Mark Fiest, Matthew Knowles 3:56
14. "Brown Eyes" (kèm theo phần giới thiệu cho "The Story of Beauty") B. Knowles, W. Afanasieff Walter Afanasieff, Beyoncé Knowles 4:49
15. "Dangerously in Love"   B. Knowles, E, McCalla Jr Beyoncé Knowles, Errol "Poppi" McCalla Jr. 4:53
16. "The Story of Beauty"   B. Knowles, K. Fambro Beyoncé Knowles, Ken "K-Fam" Fambro 3:32
17. "Gospel Medley" (Gửi tặng đến Andretta Tillman) B. Knowles, K. Franklin, R. Smallwood Beyoncé Knowles 3:25
18. "Outro (DC-3) Thank You"   B. Knowles, K. Rowland, M. Williams, R. Fusari, B. Lee, C. Gaines Beyoncé Knowles, Rob Fusari, Bill Lee, Calvin Gaines 4:03

Những người thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm và đương nhiệm xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
All for You bởi Janet Jackson
Album quán quân Billboard 200
19 tháng Năm – 1 tháng 6 năm 2001
Kế nhiệm:
Lateralus bởi Tool
Tiền nhiệm:
Free All Angels bởi Ash
8701 bởi Usher
Album quán quân tại Anh
12 tháng 5 năm 2001 – 25 tháng 5 năm 2001
28 tháng 7 năm 2001 – 10 tháng 8 năm 2001
Kế nhiệm:
Reveal bởi R.E.M.
White Ladder bởi David Gray

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Best of the 2000s - Billboard 200 Albums”. Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2009. 
  2. ^ a ă â b Kaufman, Gil (ngày 13 tháng 6 năm 2005). “Destiny's Child's Long Road To Fame (The Song Isn't Called 'Survivor' For Nothing)”. MTV News. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  3. ^ a ă “Destiny's Child Full Biography”. MTV News. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  4. ^ a ă â Heather Stas, Franklin Cumberpatch. “Destiny's Child: News Feature: VH1.com”. Vh1. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  5. ^ VanHorn, Teri (ngày 8 tháng 12 năm 2000). “Destiny's Child Solo CDs Won't Compete With Group, Each Other”. MTV News. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  6. ^ a ă “Destiny's Child: Survivors”. MTV. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  7. ^ a ă “Survivor reviews at”. Metacritic.com. Ngày 1 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. 
  8. ^ Kellman, Andy. “Review: Survivor. Allmusic. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  9. ^ Browne, David. “Survivor”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010.  Đã bỏ qua văn bản “ Music ” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “ EW.com ” (trợ giúp)
  10. ^ Cinquemani, Sal (ngày 9 tháng 5 năm 2001). “Destiny's Child: Survivor”. Slant Magazine. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010.  Đã bỏ qua văn bản “ Music Review ” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “ Slant Magazine” (trợ giúp)
  11. ^ Christgau, Robert. "CG Destiny's Child". RobertChristgau.com. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010.
  12. ^ Brackett, Nathan. "Review: Survivor". Rolling Stone: 232. ngày 27 tháng 4 năm 2010.
  13. ^ Spin Magazine. July 2001.
  14. ^ Thomas, Stephen (ngày 1 tháng 5 năm 2001). “(((Survivor > Overview)))”. allmusic. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. [liên kết hỏng]
  15. ^ “Rock On The Net: 44th Grammy Awards - 2002”. Rock On The Net.  Đã bỏ qua văn bản “/2002/grammys.htm” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “accessdate: 15 July, 2011” (trợ giúp)
  16. ^ “Destiny's Child Biography and Sales”. 
  17. ^ “Destiny's Child - Survivor (CD, Album) at Discogs”. Discogs.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ “Destiny's Child - Survivor (CD, Album) at Discogs”. Discogs.com. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q “DESTINY'S CHILD - SURVIVOR (ALBUM)”. Swisscharts. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008. 
  20. ^ a ă “Survivor (Album)”. Type "Survior" in the space for "title". 
  21. ^ a ă “IFPI - Tilastot - Kulta- ja platinalevyt”. Ifpi.fi. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010. 
  22. ^ a ă musicline.de / PhonoNet GmbH. “Die ganze Musik im Internet: Charts, News, Neuerscheinungen, Tickets, Genres, Genresuche, Genrelexikon, Künstler-Suche, Musik-Suche, Track-Suche, Ticket-Suche”. musicline.de. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  23. ^ “DESTINY'S CHILD - SURVIVOR (ALBUM)”. Oricon. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  24. ^ “Associaчуo Brasileira de Produtores de Disco”. ABPD. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011. 
  25. ^ |http://abpd.org.br/certificados_interna.asp?sArtista=child
  26. ^ [1][liên kết hỏng]
  27. ^ Up for Discussion Jump to Forums. “Destiny's '#1's' Bows At The Top”. Billboard.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2010.