Susana Baca

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Susana Baca
Susanabaca2006.jpg
Susan Baca in Santa Cruz, 17 April 2010
Chức vụ
Thông tin chung

Susana Esther Baca de la Colina (phát âm tiếng Tây Ban Nha[suˈsana ˈβaka]; sinh ngày 24 tháng 5 năm 1944 tại Chorrillos, tỉnh Lima, Peru) là một ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng người Peru, giáo viên trường học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà nghiên cứu dân tộc học và hai lần đoạt giải Grammy Latin. Bà đã là một nhân vật quan trọng trong sự hồi sinh của âm nhạc Afro-Peru.

Vào tháng 7 năm 2011, bà được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Văn hóa của Peru trong chính phủ của ông Ollanta Humala,[1] trở thành bộ trưởng nội các Afro-Peru thứ hai trong lịch sử Peru độc lập.[2]

Vào tháng 11 năm 2011, bà được bầu vào Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Văn hóa cho giai đoạn 2011-13.[3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Susana Baca biểu diễn năm 2006.

Baca lớn lên tại một làng chài ven biển Chorrillos, một huyện thuộc tỉnh Lima của Peru và là một phần của Lima.[4] Âm nhạc của bà là sự pha trộn giữa truyền thống và đương đại. Ban nhạc đệm của mình tính năng cụ Peru bản xứ như Cajon ("hộp gỗ", có nguồn gốc nằm trong một cái thùng đựng hoa quả hếch), udu (nồi đất sét), và quijada (xương hàm của một con lừa) Cheko một bầu khô, cũng như âm thanh guitarbass điện thẳng đứng bé. Mặc dù nhiều bài hát của bà dựa trên các hình thức truyền thống như Landó hay vals, bà cũng kết hợp các yếu tố của âm nhạc CubaBrazil. Album đầu tay của bà cho Luaka Bop, được sản xuất bởi Greg Landau, đã đưa bà đến sự chú ý của khán giả World Music trên toàn thế giới.

Baca là một nhân vật quan trọng trong sự hồi sinh của âm nhạc Afro-Peru ở Peru (ví dụ, xem các vũ công từ đoàn kịch Perú Negro, cũng như âm nhạc " Festejo "), giống như văn hóa sản xuất ra nó, trước đây rất ít được công nhận, nhưng hiện được coi là một phần quan trọng của văn hóa Peru. Baca đã đóng góp nhiều cho sự nổi tiếng quốc tế của nó, bắt đầu từ năm 1995 với việc phát hành đĩa CD tổng hợp Afro-Peru Classics: The Soul of Black Peru. Album, có bài hát Baca " Maria Lando ", được phát hành bởi hãng thu âm Luaka Bop, thuộc về cựu thủ lĩnh của Talking Heads, David Byrne.[5]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi biểu diễn của Susana Baca năm 2017.

Theo một số nhà phê bình quan trọng, Baca không chỉ là một diva người Afro-Peru. Michael Heumann từ Tạp chí Stylus cho biết: "Maria Lando đã đưa Susana Baca lên bản đồ âm nhạc thế giới. Kể từ đó, bà ấy đã phát hành một số album rất nổi tiếng, hầu hết trên Luaka Bop, và tất cả đều có chất lượng cực kỳ cao."

Timothy G. Merello từ PopMatters nói về màn trình diễn của bà tại Trường âm nhạc dân gian Old Town, Chicago: "Susana Baca, không chỉ là một ca sĩ, là một nhà thơ, nhà sử học, nhà thám hiểm và nhà thám hiểm của văn hóa dân gian Afro-Peru [...] bà ấy và ban nhạc của mình giải trí, giáo dục và tiếp cận một đám đông đã bán hết với một giai điệu âm nhạc của nhịp điệu, giai điệu, nhịp đập và khiêu vũ. "

Trong khi Deanne Sole, cũng từ PopMatters, nói về album 2009 của Baca, Seis Poemas (Six Poems): một giọng nói nhưng với tư cách là một người biểu diễn, như một người [...] Seis Poemas, một album nhỏ nhưng quyến rũ. "

Baca đã thành lập Học viện NegutoContuo (Viện Continuum Đen) tại ngôi nhà bên bờ biển của mình ở Chorrillos, để thúc đẩy việc thu thập, bảo tồn và sáng tạo văn hóa, âm nhạc và khiêu vũ của người Afro-Peru.[6]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Susana Baca đã giành giải thưởng Grammy Latin cho Album dân ca hay nhất, với CD Lamento Negro [2] bên cạnh một đề cử cho giải Grammy là "Album nhạc hay nhất thế giới".

Vào tháng 11 năm 2011, bà đã giành được giải Grammy Latin thứ hai trong sự nghiệp của mình với sự hợp tác với nhóm đô thị Calle 13 trong bài hát " Latinoamérica ", được thu âm ở Peru, cùng với ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Brazil Maria Rita và nghệ sĩ thu âm người Colombia Totó la Momposina.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2011, Tổng thống mới được bầu của Peru, ông Ollanta Humala, tuyên bố rằng Baca sẽ trở thành Bộ trưởng Bộ Văn hóa của ông. Vào ngày 28 tháng 7, bà tuyên thệ nhậm chức, trở thành bộ trưởng nội các Afro-Peru thứ hai trong lịch sử Peru độc lập. Bà đã từ chức do cải tổ nội các vào ngày 11 tháng 12 năm 2011.

Vào tháng 11 năm 2011, bà được bầu vào Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Văn hóa cho giai đoạn 2011-13.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album
  • 1987 - Poesía y Canto Negro
  • 1991 - Vestida de Vida, Canto Negro de las Américas! (Kardum, Iris)
  • 1992 - Fuego y Agua (Voi, Tonga)
  • 1997 - Susana Baca (Luaka Bop)
  • 2000 - Eco de Sombras (Luaka Bop)
  • 2001 - Lamento Negro (Âm nhạc Tumi)
  • 2002 - Espíritu Vivo (Luaka Bop)
  • 2002 - A Viva Voz (Biên tập viên SDK El Comercio, biên soạn)
  • 2004 - The Best of Susana Baca (Luaka Bop tổng hợp)
  • 2006 - Travesías (Luaka Bop)
  • 2009 - Seis Poemas (Luaka Bop)
  • 2010 - Mama (Biên tập viên Pregón)
  • 2010 - Cantos de Adoración
  • 2011 - Afrodiaspora (Luaka Bop)
Nghệ sĩ đóng góp

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2003 - Susana Baca: Memoria Viva. Đạo diễn Marc Dixon.
  • 2013 - Sigo Siendo. Đạo diễn bởi Javier Corcuera.
  • 2011 - Música afroperuana: tras la tinya noche. Đạo diễn Patricia Ferreira. Phim tài liệu làm cho TV. RTVE, sê-ri "Todo el mundo es música".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Singer Susana Baca will be Peru's next minister of culture”. Living in Peru. 27 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2019.
  2. ^ a b “Latin Grammy-winner named Peru's culture minister”. Associated Press. 26 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  3. ^ "Peru’s culture minister named Chair of OAS Inter-American Committee on Culture", Andina, 11 November 2011.
  4. ^ Elisa Murray, "CD Review: Eco de Sombras (2000)", Roots world.
  5. ^ David Collyns, "Susana Baca: the singer who became Peru's first black cabinet minister", The Guardian, October 28, 2011.
  6. ^ James C. McKinley, Jr., "Music, Activism and the Peruvian Cabinet", The New York Times, 19 August 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]