Tàu điện ngầm Busan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Busan Metro
South Korea subway logo.svg
Busan Subway Line 2.jpg
Tổng quát
Chủ Thành phố Busan
Địa điểm Busan, Hàn Quốc
Loại tuyến Rapid transit
Số tuyến 5 (+ Busan–Gimhae LRT)
Số nhà ga 107 (chỉ tính metro)
128 (bao gồm BGL)
Lượt khách hàng ngày 752,927 (2010)
Hoạt động
Bắt đầu vận hành 19 tháng 7 năm 1985
Đơn vị vận hành Tổng công ty vận chuyển Busan
B&G Metro
Kỹ thuật
Chiều dài hệ thống 109,5 km (68,0 mi) (chỉ tính metro)
133,4 km (82,9 mi) (bao gồm BGL)
Khổ đường sắt 1.435 mm (4 ft 8 12 in) đường sắt khổ tiêu chuẩn[1]
Bản đồ tuyến đường

Busan metro now.svg

Busan Metro
Hangul 부산 도시철도
Hanja 釜山 都市鐵道
Romaja quốc ngữ Busan dosicheoldo
McCune–Reischauer Pusan tosich'ŏlto

Busan Metro (Hangul: 부산 도시철도; hanja: 釜山 都市鐵道; RR: Busan dosicheoldo) điều hành bởi Tổng công ty vận chuyển Busan là hệ thống tàu điện của Busan, Hàn Quốc. Hệ thống tàu điện lần đầu mở cửa vào năm 1985 với 17 nhà ga. Metro bao gồm 4 tuyến, dài 109,5 kilômét (68,0 mi) và có 107 nhà ga; bao gồm, tuyến Tàu điện hạng nhẹ Busan–Gimhae, toàn bộ mạng lưới Busan là 133,4 kilômét (82,9 mi) và 128 ga.

Tất cả ký hiệu chỉ dẫn trên Busan Metro được viết bằng tiếng Hàntiếng Anh, và thông báo bằng giọng nói phát trên tàu chỉ các ga sắp tới, tuyến chuyển đổi và lối ra được nói bằng tiếng Hàn, sau đó là tiếng Anh. Thông báo tại ga khi tàu đến là tiếng Hàn, sau đó là tiếng Anh, kế tiếp là tiếng Nhật và tiếng Trung. Tất cả các ga được đánh số và chữ số đầu tiên cũng giống như số tuyến, ví dụ ga 123 là tuyến 1.

Bản đồ Metro bao gồm thông tin trên mỗi ga, và số lối ra từ nhà ga, được sử dụng cho các điểm tham quan chính.

Tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Quản lý Tên tuyến
Tiếng Anh
Tên tuyến
Tiếng Hàn
Ga bắt đầu Ga kết thúc Ga[2] Tổng độ dài[3]
Tổng công ty
vận chuyển Busan
Tuyến 1
1호선 Sinpyeong Nopo 34 32.5 km
Tuyến 2
2호선 Jangsan Yangsan 42 46.0 km
Tuyến 3
3호선 Suyeong Daejeo 17 18.3 km
Tuyến 4
4호선 Minam Anpyeong 14 12.7 km
Tổng 107 109.5 km
B&G Metro
BGL
부산-김해
경전철
Sasang Đại học Kaya 21 23.9 km
Tổng toàn tuyến 128 133.4 km

Tuyến 1[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hiệu ngoài Ga Seomyeon, ga chuyển đổi giữa tuyến 1 và tuyến 2

Tàu điện ngầm Busan tuyến 1 (1호선) là tuyến Bắc-Nam. Nó dài 32,5 kilômét (20,2 mi) với 34 ga.[3] Tuyến sử dụng tàu có 8 khoang cho mỗi toa. Tổng chi phí xây dựng là 975.1 tỉ won.

Dự án cho tuyến này được thành lập vào 1979. Hai năm sau, vào năm 1981, công trình khởi công giai đoạn đầu tiên, giữa Nopo-Dong (hiện là Nopo) và Beomnaegol, hoàn thành vào tháng 7 năm 1985. Đoạn này dài 16,2 kilômét (10,1 mi). Sau đó tiếp tục mở rộng về phía Nam: một đoạn dài 5,4 kilômét (3,4 mi) từ Beomnaegol đến Jungang-dong (hiện là Jungang) mở cửa vào tháng 6 năm 1987; đoạn mở rộng 4,5 kilômét (2,8 mi) từ Seodaeshin-dong (hiện là Seodaeshin) mở cửa vào tháng 2 năm 1990; và một đoạn mở rộng 6,4 kilômét (4,0 mi) từ Shinpyeong mở cửa vào tháng 6 năm 1994.[3]

Đoạn mở rộng của tuyến đến Saha-gu hiện đang xây dựng và dự kiến hoàn thành vào cuối 2016.

Tuyến 2[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính của Tổng công ty vận chuyển Busan, quản lý tuyến 1-4

Tàu điện ngầm Busan tuyến 2 (2호선) đi qua Busan từ phía Đông sang Tây, chạy dọc theo bờ HaeundaeGwangalli, và phía Bắc hướng đi Yangsan. Nó dài 46,0 kilômét (28,6 mi), phục vụ 43 nhà ga. Tuyến sử dụng tàu có mỗi toa có 6 khoang.

Giai đoạn 1 bắt đầu vào năm 1991. Đoạn dài 21,7 kilômét (13,5 mi), phục vụ 21 nhà ga giữa Hopo và Seomyeon, nó không mở cửa cho đến 30 tháng 6 năm 1999. Với giai đoạn 2 (dự kiến là 16,3 kilômét (10,1 mi) trên toàn tuyến), tuyến mở rộng đầu tiên dài 7,7 kilômét (4,8 mi) về phía Nam từ Seomyeon đến Geumnyeonsan vào 8 tháng 8 năm 2001. Phần còn lại của giai đoạn 2 được thực hiện trong 2 giai đoạn: tuyến 2 được mở rộng 1,8 km (1,1 mi) về phía Bắc đến Gwangan vào 16 tháng 1 năm 2002, và cuối cùng vào 29 tháng 8 năm 2002 nó được mở rộng 6,8 kilômét (4,2 mi) về phía Đông đến Jangsan.[3]

Giai đoạn 3, bắt đầu từ 1998, mở rộng tuyến 2 về phía Bắc từ Hopo vào trong thành phố Yangsan. Giai đoạn đầu chỉ thêm 11,3 kilômét (7,0 mi) vào tuyến, thêm 7 nhà ga. Vào 10 tháng 1 năm 2003, tuyến 2 mở rộng thêm 8 kilômét (5,0 mi) đến ga hiện giờ là Yangsan, nhưng chỉ có 3 trong tổng 7 nhà ga trong kế hoạch được vận hành. Đại học quốc gia Pusan ga khuôn viên Yangsan, là 4 nhà ga mở cửa trong giai đoạn 3, mở cửa vào 1 tháng 10 năm 2009.[3] Thành phố Yangsan sau này đã hoàn thành mở rộng và xây thêm 3 nhà ga cuối cùng.

Mở rộng tuyến 2 hướng phía Đông của Haeundae-gu đã lên kế hoạch. Nếu phần mở rộng này mở cửa, thì 4 nhà ga mới sẽ được thêm vào tuyến 2. Nhà ga tên munjeon đổi tên thành Trung tâm tài chính quốc tế Busan, ngân hàng Busan

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ “Bản đồ ga > Bản đồ ga tổng hợp”. Tổng công ty vận chuyển Busan. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. 
  3. ^ a ă â b c “Giới thiệu> Lịch sử”. Tổng công ty vận chuyển Busan. 2011. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014.