Tàu ngầm lớp Kairyu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
KairyuuSuicideboat.jpg
Tàu ngầm lớp Kairyu tại lối vào Aburatsubo.
Khái quát về lớp tàu
Bên sử dụng:Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Hoàng gia Nhật Bản
Dự tính:760
Hoàn tất:200–213
Còn hoạt động:0
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu ngầm loại nhỏ - ngư lôi
Trọng tải choán nước: 19,24 tấn
Độ dài: 17,35 m
Sườn ngang: 1,3 m
Độ cao: 1,3 m
Động cơ đẩy:
  • Động cơ xăng 85 mã lực khi nổi
  • Động cơ điện 80 mã lực khi lặn
  • Tốc độ:
  • 7 knot khi nổi
  • 10 knot khi lặn
  • Tầm xa:
  • 450 hải lý (830 km) với 5 knot khi nổi
  • 36 hải lý (70 km) với 3 knot khi lặn
  • Thủy thủ đoàn
    đầy đủ:
    2
    Vũ trang: 2 ngư lôi 475mm và 600 kg thuốc nổ được nhồi vào tàu.

    Tàu ngầm lớp Kairyu (海龍, Kairyū) là tàu ngầm loại nhỏ được sử dung bởi Hải quân Hoàng gia Nhật Bản được thiết kế vào 1943-1944 và được đóng vào năm 1945 những tàu ngầm này được sử dụng để chống lại sự tấn công của hải quân Hoa Kỳ theo dự đoán của Tokyo là sẽ xảy ra.

    Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

    Một chiếc Kairyu tại bảo tàng Yamato.
    Chữ Kairyu

    Hơn 760 chiếc tàu loại này được lên kế hoạch đóng và vào tháng 08 năm 1945 đã có khoảng 213 chiếc đã được đóng. Hầu hết chúng được đóng tại bãi đóng tàu ở Yokosuka. Tàu ngầm lớp Kairyu có hai thủ thủ và được sử dụng như những ngư lôi với 600 kg (1.300 lb) thuốc nổ được nhồi vào tàu sử dụng trong các nhiệm vụ cảm tử.

    Hầu hết các chiếc Kairyu được đặt tại Yokosuka để bảo vệ lối vào vịnh Tokyo để đề phòng việc Hoa Kỳ tấn công vào đất liền của Nhật Bản. Một số tàu ngầm loại này được đặt tại Moroiso và Aburatsubo tại phía Nam của bán đảo Miura nơi mà một trường đào tạo cũng đã được đặt.

    Với việc Nhật Bản đầu hàng sau khi bị ném bom nguyên tử tại HiroshimaNagasaki cùng với Nhật Bản tuyên bố đầu hàng không có chiếc tàu ngầm nào loại này được thấy sử dụng.

    Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

    Phương tiện liên quan tới Kairyu class submarine tại Wikimedia Commons