Tàu ngầm lớp Shchuka

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sc311.jpg
Shch-311
Khái quát về lớp tàu
Bên sử dụng:  Hải quân Liên Xô
Thời gian sử dụng: 1932
Thời gian hoạt động: - 1956
Hoàn tất: 88
Bị mất: 35
Đặc điểm khái quát
Trọng tải choán nước:
  • 577 tấn khi nổi
  • 704 tấn khi lặn
Độ dài: 57,00 m
Sườn ngang: 6,20 m
Mớn nước: 3,78 m
Động cơ đẩy:
  • 2 trục chân vịt
  • Động cơ điện-diesel
  • Động cơ diesel 1370 mã lực
  • Mô tơ điện 800 mã lực
Tốc độ:
  • 12,5 knot khi nổi
  • 6,3 knot khi lặn
Tầm xa: 6000 hải lý với 8 knot
Độ sâu thử: 300 ft
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
38 hoa tiêu và thủy thủ
Vũ trang:
  • 4 ống ngư lôi phía trước
  • 2 ống ngư lôi phía sau
  • 10 ngư lôi
  • 2 pháo 45 mm

Tàu ngầm lớp Shchuka (tiếng Nga:Щука) cũng được biết đến như tàu ngầm lớp Shch hay tàu ngầm lớp SC là lớp tàu ngầm hạng trung của Liên Xô được đóng với số lượng lớn để phục vụ chiến đấu trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 30 tháng 1 năm 1930 hội đồng quân sự cách mạng USSR đã chấp nhận đề xuất về tàu ngầm là "Thực hiện các nhiệm vụ ở các mặt gần". Với kế hoạch đóng trên 200 chiếc tàu ngầm theo ba dòng khác nhau, dòng sau phải lớn hơn và có tầm hoạt động xa hơn dòng trước. Tuy nhiên với việc thế chiến thứ hai bùng nổ chỉ có 88 chiếc là được hoàn thành. Shchuka vẫn chỉ là lớp tàu ngầm được đóng nhiều thứ hai của hải quân Xô Viết (loại được đóng nhiều nhất là tàu ngầm lớp Malyutka với 111 chiếc). Bảy chiếc vẫn được đóng khi chiến tranh nổ ra là Số 189, 190, 194 tại Leningrad, Số 112 tại Gorky, Số 200 tại Nikolaev và Số 202 tại Vladivostok.

Tên của lớp này được lấy theo tên của chiếc đầu tiên trong lớp được đóng là Shch-301 "Shchuka". Các số hiệu của tàu sẽ được đặc tùy thuộc vào chiến trường mà chúng sẽ phục vụ như: trong khoảng Số 100 sẽ phục vụ trong hạm đội Thái Bình Dương, khoảng Số 200 sẽ phục vụ trong hạm đội Địa Trung Hải, khoảng số 300 sẽ phục vụ trong hạm đội biển Baltic, và khoảng số 400 sẽ phục vụ trong hạm đội Đại Tây Dương. Tuy nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ như chiếc Shch-424 phục vụ trong hạm đội biển Bắc đã đổi tên thành Shch-321 khi được chuyển xuống phục vụ cho hạm đội biển Baltic (và sau đó đổi trở lại tên cũ sau khi trở về). Trên các tháp kính tiềm vọng có các ký hiệu bằng đồng thau là Щ-XXX (với XXX là số tàu).

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu ngầm lớp Shchuka đã bị tổn thất lớn trong chiến tranh. Các hạm đội tại biển Baltic, biển Đen và biển Bắc đã mất 60-70% số lượng tàu ngầm của mình. Tuy nhiên hạm đội Thái Bình Dương lại không hề chịu một tổn thất nào do điều kiện tư nhiên của mặt trận này là Nhật Bản đang tiến hành hòa hoãn với Nga để chống lại hạm đội quân Đồng Minh (các trận chiến chỉ diễn ra năm 1945 khi mà hầu hết hạm đội của Nhật đã bị thiệt hại). Tuy nhiên có 3 chiếc Shchuka bị mất do các nguyên nhân khác nhau (không phải trong chiến đấu).

Có 35 chiếc Shchuka đã bị chìm đa số là trên các mặt trận lớn của cuộc Thế chiến thứ hai.

Chiếc Shchuka cuối cùng còn sót đã được cho ra khỏi biên chế vào những năm 1950 và bị tháo rời trong những năm đó. Tuy nhiên hai chiếc Shchuka cùng hai chiếc tàu ngầm lớp Malyutka (S-121 và S-123) đã được trao cho hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào tháng 6 năm 1954. Đây là nền tảng hạm đội tàu ngầm của hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc tuy nhiên hai chiếc Shchuka không hẳn là trao cho Trung Quốc mà là cho mượn để huấn luyện thủy thủ và nghiên cứu về công nghệ chúng vẫn là tài sản của hải quân Xô Viết cũng như không có tên Trung Quốc như hai chiếc tàu ngầm lớp Malyutka đã hoàn toàn giao cho phía Trung Quốc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Submarines of the Russian and Soviet navies, 1718-1990 by Norman Polmar,Jurrien Noot

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]