Tân Ninh, Triệu Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search

Tân Ninh là một xã của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Tân Ninh là xã cực nam của huyện Triệu Sơn, giáp ranh với huyện Nông Cống ở phía Đông Nam và Đông (các xã Tân Khang (đông nam), Tân Thọ (đông)), giáp ranh với huyện Như Thanh ở phía Tây Nam (xã Mậu Lâm). Mặt phía Bắc, Tân Ninh giáp các xã cùng huyện là: Thái Hòa (phía Tây Bắc), Khuyến Nông (phía Bắc), Đồng Lợi (phía Đông Bắc). Tân Ninh nằm dưới chân núi Nưa cao khoảng 300–400 m.

Hiện nay xã Tân Ninh được chia thành 13 thôn từ thôn 1 đến thôn 13.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bằng công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia cho di tích căn cứ kháng chiến chống Đông Ngô của Bà Triệu trên đỉnh núi Nưa xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn Thanh Hóa.

Tân Ninh một xã nằm trên vùng đất tối cổ có từ thời các Hùng Vương dựng nước[1]. Xã Tân Ninh được hình thành từ một làng cổ mang tên Cổ Định thuộc tổng Cổ Định, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thời nhà Nguyễn[2]. Vào thời Hùng Vương, Tân Ninh nay (tức làng Cổ Định xưa) có tên gọi là chạ Kẻ Nưa (dưới chân dãy núi Ngàn Nưa). Đến thời thuộc nhà Hán chạ Kẻ Nưa được gọi là Cà Ná giáp. Thời thuộc nhà Tùy, nhà Đường sách sử ghi là Cà Ná giáp, dân giã gọi là Kẻ Nưa.

Thời nhà Lý, nhà Trần, xã được đổi thành hương Cổ Na. Thời Lê sơ, Lê Thái Tổ đổi Cổ Na thành Cổ Ninh, thời Lê trung hưng được đổi thành Cổ Định (do tránh gọi tên húy của vua Lê Duy Ninh), sau Cách mạng tháng Tám, xã lại được đổi tên thành Tân Ninh (với chữ Tân nghĩa là mới)[3].

Làng Cổ Định (Kẻ Nưa) vào năm 248 là căn cứ kháng chiến chống quân Đông Ngô của Bà Triệu.

Kẻ Nưa (Tân Ninh) được cho là nơi khởi nguồn của một số dòng họ của người Việt trên đất nước Việt Nam như họ Trịnh, họ Doãn.

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Ninh nằm gần một vùng mỏ Cromit vào loại lớn nhất Việt Nam. Mỏ Cromit Cổ Định nằm trên địa bàn xã đã được Bộ Công nghiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra quyết định thành lập từ ngày 28 tháng 2 năm 1956, nhằm khai thác Crom sa khoáng[4].

Nhân kiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại giao:

  • Doãn Anh Khái, sứ thần nhà Lý sang Tống
  • Doãn Tử Tư, sứ thần nhà Lý sang Tống, tiếp nhận tên gọi An Nam Quốc do nhà Tống đặt cho Việt Nam (góp phần vào việc lần đầu tiên một triều đại phong kiến Trung Hoa công nhận Đại Việt (Việt Nam) là một quốc gia).
  • Doãn Bang Hiến, thượng thư bộ Hình nhà Trần, sứ thần sang Nguyên tranh biện giải quyết tranh chấp biên giới Đại Việt-Đại Nguyên.
  • Lê Bật Tứ, hoàng giáp (tiến sĩ nho học) năm 1598[5] triều nhà Hậu Lê, đi sứ nhà Minh

Quân sự:

  • Doãn Nỗ, khai quốc công thần nhà Hậu Lê

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]