Tên chữ (địa danh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Địa danh tiêu biểu
Tên Nôm Tên chữ
Làng Dóng Phù Đổng
Làng Nành Phù Ninh
Làng Sét Thịnh Liệt
Làng Báng Đình Bảng
Làng Trèm Từ Liêm
Huế Thuận Hoá
Sài Gòn Gia Định Thành
Sông Cái (Miền Bắc) Hồng Hà
Sông Cả Lam Giang
Sông Luộc Sông Phú Nông
Sông Đuống Sông Thiên Đức
Sông Gianh Linh Giang
Đèo Ba Dội Đèo Tam Điệp
Núi Ba Vì Núi Tản Viên
Cửa Eo Cửa Thuận An
Chùa Đậu chùa Thành Đạo

Tên chữ là tên văn vẻ trong tiếng Việt của một thực thể địa lý ở Việt Nam, thường là làng, xóm, chùa, đền nhưng cũng có khi là thực thể thiên nhiên như sông, núi, đèo.

miền Bắc Việt Nam nhiều làng ở trung châu ngoài tên Nôm còn có tên chữ dùng song hành. Tên Nôm thường chỉ là một chữ trong khi tên chữ thường là hai chữ trở lên. Một số làng chỉ có tên Nôm mà không có tên chữ. Tên Nôm có lẽ có trước lấy cảnh quan hay sự kiện địa phương mà đặt.[1] Tên chữ có lẽ xuất hiện sau do ảnh hưởng Hán Việt cùng ý hướng cầu tiến, niềm tự hào.[2]

Nguồn gốc lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Từ Hán-ViệtChữ Nôm

Bắt đầu từ thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa Hán xâm nhập và chi phối sinh hoạt xã hội người Việt khá sâu đậm. Về mặt ngôn ngữ tuy người Việt vẫn nói tiếng Việt nhưng tiếng Hán được coi là tiếng chính thức, phục vụ mục tiêu đồng hóa người Việt của chính quốc.

Khi giành được độc lập thì văn Hán với phát âm Việt vẫn được coi là văn chính thức, và gọi là Hán Việt, được giới quan lại và trí thức sử dụng trong các hoạt động hành chính, thơ văn, cúng tế... Trong văn Hán Việt thì các tên riêng phần lớn được dịch theo nghĩa từ tiếng Việt thuần, ví dụ ở Hà Nội thì "ba kẻ Gừng" thành "Tam Khương" (Khương Thượng, Trung, Hạ), "kẻ Nhổn" thành "Cổ Nhuế"...[3].

Khi chữ Latin hóa ra đời và vào thế kỷ 20 trở thành Quốc ngữ thì chữ Hán và Nôm mất địa vị. Điều này dẫn đến những từ Hán Việt thường dùng được coi là đã du nhập. Các thế hệ người Việt không học chữ Hán/Nôm thường không còn để ý đến gốc Hán Việt của từ ngữ nữa. Song phong cách "thích nói chữ" vẫn thịnh hành ở phía bắc, và giảm dần theo đường Nam tiến của người Việt. Điều này thể hiện, như Tp. Hồ Chí Minh sẵn sàng đặt tên Nôm thuần cho phố, như đường Bà Hom... còn Hà Nội thì kêu toáng lên rằng "Hà Nội cạn quỹ tên đường" (!!!???) [4].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên và cách đặt tên làng (xã) ở Phủ Lý Nhân xưa
  2. ^ Vấn đề làng xã
  3. ^ Phần "Thời kỳ chữ Nôm ra đời", trong sách Giáo trình Hán Nôm, tập 2 (tập chữ Nôm), Bộ môn Hán Nôm trường Đại học Tổng hợp Hà Nội biên soạn, in tại Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990. Trang 8-9.
  4. ^ Hà Nội cạn quỹ tên đường. Thanh Niên Online, 09/11/2015. Truy cập 01/06/2016.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]