Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tòa án Quân sự Quốc tế được triệu tập tại Ichigaya Court, trước đó là tòa nhà trụ sở của Lục quân Đế quốc Nhật Bản, ở Ichigaya, Tokyo.

Tòa án Quân sự Quốc tế Viễn Đông (tiếng Anh: The International Military Tribunal for the Far East (IMTFE)) còn được gọi là các phiên tòa Tokyo hay Tòa án Tội ác Chiến tranh Tokyo, đã được triệu tập vào ngày 29 tháng 4 năm 1946 để xét xử giới lãnh đạo của Đế quốc Nhật với ba loại tội ác chiến tranh. "Loại A" dành cho những kẻ đã tham gia vào những âm mưu chung nhằm phát động chiến tranh, loại này gồm những người có quyền hành cao nhất; "loại B" dành cho những kẻ phạm phải những tội ác "thông thường" ("conventional") hoặc tội ác chống lại loài người; "loại C" dành cho những kẻ "lên kế hoạch, ra lệnh, cho phép, hoặc không chống lại các tội ác như trên ở những cấp chỉ huy cao hơn."

Kết án[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm nhân Chức vụ trước khi bị bắt Chú thích
Không kết án
Ōkawa Shūmei OKAWA Shumei.jpg Ông bị cho là tinh thần không ổn định để xét xử và cáo buộc đã được bãi bỏ.
Matsuoka Yōsuke Yohsuke matsuoka1932.jpg Bộ trưởng Ngoại giao Chết trước khi bị truy tố
Nagano Osami Fleet Admiral Osami Nagano.jpg Bộ trưởng Hải quân Chết trước khi bị truy tố
Kết án
Tướng

Doihara Kenji

Doihara Kenji.jpg Giám đốc cơ quan tình báo ở Manchukuo Bị kết án tử hình bằng hình thức treo cổtội ác chiến tranh, tội ác chống loài ngườitội ác chống lại hòa bình (loại A, loại B và loại C):[1]
Hirota Kōki Kōki Hirota.jpg Thủ tướng

(sau là Bộ trưởng Ngoại giao)

Tướng

Itagaki Seishirō

Seishirō Itagaki 2.jpg Bộ trưởng Chiến tranh
Tướng

Kimura Heitarō

KimuraHeitaro.jpg Chỉ huy Quân đội Khu vực Miến Điện
Trung tướng

Mutō Akira

MutouAkira.jpg Tham mưu trưởng Quân khu 14
Tướng Tōjō Hideki Tojo wearing tie.jpg Chỉ huy Đạo quân Quan Đông

(sau là Thủ tướng)

Matsui Iwane Iwane Matsui 1947.jpg Chỉ huy Lực lượng viễn chinh Thượng Hải và Quân khu miền Trung Trung Quốc Bị kết án tử hình bằng cách treo cổtội ác chiến tranhtội ác chống lại loài người (Loại B và Loại C):[2]
Tướng

Araki Sadao

Sadao Araki 2.jpg Bộ trưởng Chiến tranh Bị bị kết án tù chung thân. Ba người (Koiso, Shiratori và Umezu) chết trong tù, trong khi mười ba người còn lại được ân xá từ năm 1954 đến năm 1956:
Trung tướng

Hashimoto Kingorō

HashimotoKingoro.jpg Kẻ chủ mưu chính của Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ hai
Thống chế

Hata Shunroku

HataSyunroku.jpg Bộ trưởng Chiến tranh
Nam tước Hiranuma Kiichirō Hiranuma Kiichirō.jpg Thủ tướng
Hoshino Naoki Hoshino Naoki.jpg Chánh Văn phòng Nội các
Kaya Okinori KayaOkinori.jpg Bộ trưởng Tài chính
Hầu tước

Kido Kōichi

Kōichi Kido 2.jpg Quan chưởng ấn
Tướng

Koiso Kuniaki

Kuniaki Koiso 3.jpg Thống đốc Triều Tiên

(sau là Thủ tướng)

Tướng

Minami Jirō

MinamiJiro.jpg Chỉ huy Đạo quân Quan Đông
Đô đốc

Oka Takazumi

OkaKeijun.jpg Bộ trưởng Hải quân
Trung tướng

Ōshima Hiroshi

OshimaHiroshi.jpg Đại sứ Đế quốc Nhật Bản tại Đức
Tướng

Satō Kenryō

SatoKenryo.jpg Cục trưởng Cục Quân sự
Đô đốc

Shimada Shigetarō

Shigetarō Shimada.jpg Bộ trưởng Hải quân
Shiratori Toshio ShiratoriToshio.jpg Đại sứ Đế quốc Nhật Bản tại Ý
Trung tướng Suzuki Teiichi Teiichi Suzuki.jpg Chủ tịch Ban Kế hoạch Nội các
Tướng

Umezu Yoshijirō

UmezuYosijiro.jpg Bộ trưởng chiến tranh và Tổng tham mưu trưởng lục quân
Tōgō Shigenori Shigenori Tōgō 2.jpg Bộ trưởng Ngoại giao Bị kết án 20 năm tù, Tōgō chết trong tù năm 1950.
Shigemitsu Mamoru Mamoru Shigemitsu 2.jpg Bộ trưởng Ngoại giao Bị kết án 7 năm và được ân xá vào năm 1950. Sau đó, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giaoPhó Thủ tướng Nhật Bản thời hậu chiến
Phán quyết và các bản án của tòa được MacArthur xác nhận vào ngày 24 tháng 11 năm 1948, hai ngày sau cuộc họp chiếu lệ với các thành viên của Ủy ban Kiểm soát Đồng minh tại Nhật Bản, người đóng vai trò là đại diện địa phương của các quốc gia thuộc Ủy ban Viễn Đông. Sáu trong số các đại diện đó không đưa ra khuyến nghị nào về sự khoan hồng. Úc, Canada, Ấn ĐộHà Lan sẵn sàng thấy vị tướng này thực hiện một số giảm án. Ông ấy đã không làm như vậy. Vấn đề khoan hồng sau đó đã làm xáo trộn mối quan hệ của Nhật Bản với các cường quốc Đồng minh cho đến cuối những năm 1950, khi đa số các cường quốc Đồng minh đồng ý thả những tên tội phạm chiến tranh lớn cuối cùng bị kết án khỏi nơi giam giữ.[3]
Các bị cáo tại Tòa án Quân sự Quốc tế về Viễn Đông: (hàng trước, từ trái sang phải) Thủ tướng Nhật Bản Tōjō Hideki, Đô đốc Oka Takazumi , (hàng sau, từ trái sang phải) Chủ tịch Hội đông Cơ mật Hiranuma Kiichirō , Bộ trưởng Ngoại giao Tōgō Shigenori

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảy người bị cáo bị kết án tử hình đã bị hành quyết tại nhà tù Sugamo ở Ikebukuro vào ngày 23 tháng 12 năm 1948. MacArthur, sợ làm xấu hổ và gây phản cảm cho người dân Nhật Bản, đã bất chấp mong muốn của Tổng thống Truman và cấm chụp ảnh dưới bất kỳ hình thức nào, thay vào đó đưa bốn thành viên của Hội đồng Đồng minh vào để làm nhân chứng chính thức.
  2. ^ Bảy người bị cáo bị kết án tử hình đã bị hành quyết tại nhà tù Sugamo ở Ikebukuro vào ngày 23 tháng 12 năm 1948. MacArthur, sợ làm xấu hổ và gây phản cảm cho người dân Nhật Bản, đã bất chấp mong muốn của Tổng thống Truman và cấm chụp ảnh dưới bất kỳ hình thức nào, thay vào đó đưa bốn thành viên của Hội đồng Đồng minh vào để làm nhân chứng chính thức.
  3. ^ Wilson, Sandra; Cribb, Robert; Trefalt, Beatrice; Aszkielowicz, Dean (2017). Japanese War Criminals: the Politics of Justice after the Second World War. New York: Columbia University Press. ISBN 978-0231179225.