Tôn Thất Tiết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tôn Thất Tiết
Tên khai sinhTôn Thất Tiết
Sinh1933
Huế
Thể loạiNhạc đương đại, nhạc cổ điển
Nghề nghiệpNhạc sĩ, nhà soạn nhạc

Tôn Thất Tiết (chữ Hán: 尊室節; sinh 1933) là một nhà soạn nhạc người Pháp gốc Việt thuộc dòng Nhạc đương đại (Contemporary classical music), ông đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn Thất Tiết sinh năm 1933 tại Huế và sang Paris, Pháp năm 1958 để theo học về soạn nhạc tại Học viện âm nhạc Conservatoire de Paris với hai giáo sư danh tiếng là Jean RivierAndré Jolivet.

Nhạc của ông là một sự hòa hợp giữa ĐôngTây phương [1]. Tuy học nhạc Tây phương, ông vẫn tìm âm hưởng nhạc từ triết lý Á Đông, Kinh dịch, Phật giáoẤn Độ giáo [2]. Gần đây ông lấy cảm hứng từ trường phái lãng mạn của Thi ca Trung Quốc cổ điển, như của Lý BạchVương Duy.

Ông tâm huyết với việc giữ gìn, phát huy tinh hoa âm nhạc truyền thống Việt Nam. Năm 1993, ông thành lập Hiệp hội Âm nhạc Pháp-Việt (France-Vietnam Music Association) nhắm mục đích giúp phát triển âm nhạc dân tộc [1]. Cuối năm 1994, nhóm các nhạc sĩ Việt Nam tại Pháp gồm Tôn Thất Tiết, Trần Văn Khê, Nguyễn Thiện Đạo đã bắt đầu chú ý đến việc phục hồi Nhã nhạc cung đình Huế và đã về Việt Nam để dàn dựng một chương trình âm nhạc cung đình [3]. Bằng nỗ lực cá nhân, ông cũng nhận bảo trợ cho các nghệ nhân Nhã Nhạc và Ca trù, và nhờ sự góp sức của ông mà các nghệ nhân có dịp đi trình tấu tại Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Áo, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc...[2]

Ông đã soạn nhạc cho 3 phim của đạo diễn hải ngoại Trần Anh Hùng: Mùi đu đủ xanh, Xích lô, Mùa hè chiếu thẳng đứng và phim Mùa len trâu cũng như cho các đoạn trình tấu Ballet của Régine Chopinot: Parole de feu (1995) và Danse du temps (1999) [1]. Xích lô được trao giải thưởng George Delerue năm 1995 về nhạc phim hay nhất.

Năm 2007, ông cộng tác với đoàn đồng ca Musicatreize ở Pháp, và soạn nhạc cho một ca kịch về cổ tích Việt Nam, thực hiện bởi Tam Quy ("L'arbalète Magique").

Tác phẩm và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là tác giả khoảng 50 tác phẩm đủ loại, trong đó có: 12 bản cho dàn nhạc, trong ấy có Tứ Đại Cảnh (1968), Hy Vọng (1971), Ngũ Hành (1973), Vô Vi (1974), Ấn Tượng (1974-75), Những Truyền Thuyết Đất Phương Nam (1996); 16 bản cho nhạc phòng, trong ấy có Niệm (1974), Chu Kỳ I, II (1976), III, IV (1977), Phong Vũ (1991), Xuân Vũ (1993); năm bản nhạc hát, trong ấy có Vang Bóng Thời Xưa (1969), Kiêm Ái (1978), Chu Kỳ VI (1993) [4]..

Ngoài những bản trên, còn những bản nhạc mang tên Pháp như Incarnations structurales (Cấu trúc những sự hóa thân, 1967), Terre-Feu (Đất-Lửa, 1981), Jeu des cinq Éléments (Ngũ hành, 1982), Moments rituels (Những thời khắc nghi lễ, 1992) trong số nhạc thính phòng, Prajna Paramita (Ba la mật da, 1988) trong số nhạc hát. Le chemin de Bouddha (Con đường Đức Phật, 1990-91) là một bản kịch múa [4].

Ông đã nhận nhiều giải thưởng như giải Lili Boulanger (1972) của Hội SACEM, giải Diễn đàn Quốc tế những Nhà soạn nhạcUNESCO (Tribune Internationale des Compositeurs à l’Unesco) (1975), giải Sáng tác của Bộ Văn hóa Pháp (1981) [4].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]