Tôn phu nhân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tôn phu nhân
孫夫人
SunShangxiang.jpg
Hình minh họa trong một ấn bản Tam quốc diễn nghĩa thời nhà Thanh
Phu nhân Lưu Thục chúa
Thông tin chung
Phu quân Lưu Bị
Thân phụ Tôn Kiên
Tôn phu nhân
Tên
Trong Tam quốc chí Tôn phu nhân (孫夫人)
Trong Hán Tấn Xuân Thu Tôn Nhân Hiến (孫仁獻)
Trong Tam quốc diễn nghĩa Tôn Nhân (孫仁)
Trong Kinh kịch Tôn Thượng Hương (孫尚香)
Tên khác Cung Yêu Cơ (弓腰姬)

Tôn phu nhân (chữ Hán: 孫夫人) là một phu nhân của Thục chúa Lưu Bị, người đã lập ra Thục Hán vào thời kì thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

Bà là con gái duy nhất và là con nhỏ nhất của Trường Sa thái thú Tôn Kiên, và là em gái của Tôn SáchTôn Quyền, những người tạo dựng cơ nghiệp nước Đông Ngô, một thế lực từng lập liên minh với Thục Hán trong một thời gian dài.

Tôn phu nhân còn được biết đến với tên Tôn Nhân (孫仁) trong Tam Quốc diễn nghĩaTôn Thượng Hương (孫尚香) trong Kinh kịch.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn phu nhân không rõ năm sinh, người Phú Xuân, Ngộ quận (吴郡富春). Theo Tam quốc chí ghi lại, bà thông minh mẫn tiệp, có tính cách cương trường, giỏi kiếm cung, rất giống 2 người anh trai là Tôn SáchTôn Quyền.

Năm 209, sau Trận Xích Bích với thắng lợi thuộc về Đông Ngô, bà được gả cho Lưu Bị nhằm giữ vững mối hòa hiệp trong liên minh Ngô-Thục. Vào lúc đó, bà chỉ vừa tầm 20 tuổi, còn Lưu Bị đã hơn 40 tuổi. Do cả hai bà vợ trước đó của Lưu Bị đều đã mất, Tôn phu nhân dần dần kiểm soát nhà và con trai Lưu Thiện của Lưu Bị.

Tam quốc chí của Trần Thọ chép rằng:

Nguyên trước Tôn Quyền gả em gái cho Tiên chủ, em gái vốn là người tài giỏi, nhanh nhẹn cương mãnh, có phong thái của các anh, thị tì hơn trăm người đều quen cầm đao đứng hầu, Tiên chủ mỗi lần vào đều thấy lạnh cả người.[1]

Gia Cát Lượng cũng đánh giá về Tôn phu nhân như sau:

Chúa công khi ở Công An, phía bắc úy kị Tào công cường mạnh, phía đông lo lắng Tôn Quyền bức bách, ở gần lại sợ Tôn phu nhân sinh biến ngay sát nách. Tình thế lúc ấy, thật là tiến thoái lưỡng nan...[2]

Năm 212, Lưu Bị nhập vào đất Thục, Tôn Quyền sai người kêu Tôn phu nhân về Đông Ngô, và bà dẫn theo con của Lưu Bị là Lưu thiện đi cùng. Biết chuyện, Gia Cát Lượng khiển Triệu Vân đến đoạt lại Lưu Thiện. Sau đó, sử sách không có ghi chép gì về bà nữa.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn phu nhân lần đầu tiên ra mắt trong Tam quốc diễn nghĩa đã bị Lỗ Túc mượn cớ. Lỗ Túc đã hiến kế với chúa công Tôn Quyền cho Lưu Bị kết hôn với quận chúa "cực kỳ hữu dụng, có hàng tá người hầu luôn mang theo đao bên mình, trong phòng binh khí để khắp nơi, mặc cho nam tử không đề phòng".

Theo lời Lỗ Túc thì Tôn phu nhân là một cô gái ngổ ngáo bướng bỉnh, đến miệng bà mai mối đã trở thành một cô gái "ngoan hiền". Lưu Bị đã cho thuyền tới để cưới quận chúa "ngổ ngáo" của nước Đông Ngô. Không ngờ rằng trong đêm động phòng, Lưu Bị đã bị Tôn Nhân đâm bằng dao, đao kiếm khiến người tỳ nữ hoảng sợ. Tôn Nhân thấy tình hình như vậy bèn nói một câu: "Chém giết nửa đời người, sợ gì binh đao!".

Hai năm sau, mối quan hệ giữa Ngô và Thục bắt đầu căng thẳng. Tôn phu nhân quay trở về với anh trai của mình là Tôn Quyền. Theo những gì Triệu Vân viết thì bà định mang theo con trai của Lưu Bị là Lưu Thiện với mình. Tuy nhiên, việc đó đã bị Trương Phi và Triệu Vân chặn lại. Sau khi hai bên thương thuyết, Tôn phu nhân để lại Lưu Thiện về nước Ngô.

Theo Tam quốc diễn nghĩa, sau trận Di Lăng có kẻ phao tin Lưu Bị chết, bà đã trầm mình xuống sông tự vẫn.

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tam quốc chí, quyển 37, Pháp Chính truyện, nguyên văn: 初,孫權以妹妻先主,妹才捷剛猛,有諸兄之風,侍婢百餘人,皆親執刀侍立,先主每入,衷心常凜凜
  2. ^ Tam quốc chí, quyển 37, Pháp Chính truyện, nguyên văn: 主公之在公安也,北畏曹公之強,東憚孫權之逼,近則懼孫夫人生變於肘腋之下;當斯之時,進退狼跋

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]