Tả Phìn Hồ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tả Phìn Hồ

Suối cá Tả Phìn Hồ.jpg
Thiên nhiên Tả Phìn Hồ.
Hành chính
TỉnhHà Giang
HuyệnHoàng Su Phì
Nậm Ty
Địa lý
Tọa độ: 22°36′5″B 104°46′32,4″Đ / 22,60139°B 104,76667°Đ / 22.60139; 104.76667Tọa độ: 22°36′5″B 104°46′32,4″Đ / 22,60139°B 104,76667°Đ / 22.60139; 104.76667
Diện tích16,7729 km²
Dân số
Tổng cộng88 người
Mật độ5 người/km²
Khác

Tả Phìn Hồ là một thôn liền kề dãy núi Tây Côn Lĩnh vùng biên cương phía Bắc, thuộc địa bàn xã Nậm Ty - huyện Hoàng Su Phì - tỉnh Hà Giang. Tả Phìn Hồ chia thành 3 cụm thôn nhỏ gồm Phìn Hồ 1, Phìn Hồ 2, Phìn Hồ 3; Nơi đây lác đác chỉ có 34 hộ dân cư có hộ khẩu, chủ yếu là người Dao đỏ và Dao áo dài, người Nùng, người H’mông; Từ năm 2016 có thêm Viện Y học bản địa Việt Nam đến đầu tư tại đây về trồng dược liệu, chế biến chè Shan tuyết, sản xuất mỹ phẩm từ thảo dược và du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh.

Lịch sử - Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Cách đây hàng trăm năm, không rõ năm nào người Hán đã đến vùng này mở và hình thành chợ buôn bán, gọi là chợ Hán. Đây là nơi khai thác, tập kết, mua bán, trao đổi gỗ Ngọc Am, chưng cất dầu Ngọc Am, cũng như các sản vật lâm thổ sản khác.

Sâm Vũ Hoàn Trúc Diệp Tả Phìn Hồ
Sâm Vũ Hoàng Trúc Diệp Tả Phìn Hồ

Trước năm 2002, khu vực này không có cư dân sinh sống, nếu có thì chỉ là lán tạm phục vụ chăn thả gia súc, gia cầm, khai thác gỗ Ngọc Am và thu hái dược liệu quý trong rừng, thường là Lan Kim Tuyến, Tỏa Dương, Hoàng Tinh, Viễn Chí Ba Sừng, Sâm Ngọc linh, Sâm Vũ Hoàng Trúc Diệp và Tam Thất Hoang,... Viễn Chí loại lá màu đỏ gọi tên là Chang Ngưu.

Tháng 4 năm 2016, công ty TNHH Y học bản địa Việt Nam thành lập chi nhánh Tả Phìn Hồ, thực hiện dự án: “Phát triển nông thôn bền vững từ cây dược liệu chế biến mỹ phẩm, sản xuất chè Shan và du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh”. Do can thiệp tối thiểu, bảo tồn tối đa nên cảnh quan quần thể động thực vật, địa mạo, thủy văn, tính hoang sơ hùng vĩ còn khá nguyên sơ,... môi trường, môi sinh ít bị biến đổi.

Ở độ cao so với mặt biển bình quân là 1.500 m, Tả Phìn Hồ có tổng diện tích 1.449 ha rừng nguyên sinh, 430 ha là rừng tái sinh, nhiều thác, khe núi, dòng suối. Tả Phìn Hồ là tiểu vùng biệt lập, phía Tây và Tây nam giáp thôn Tân Thượng - xã Nậm Ty - huyện Hoàng Su Phì; phía Bắc giáp dãy Thượng Sơn - xã Thượng Sơn - huyện Vị Xuyên nằm trong hệ núi Tây Côn Lĩnh; phía Đông giáp xã Tân Thành – huyện Bắc Quang nhưng không có đường thông sang; phía Đông nam giáp xã Tân Lập - huyện Bắc Quang.

Địa hình - Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình đất dốc, chia cắt, khó canh tác, thiếu những khoảng bằng phẳng để an cư, địa mạo bị chia cắt, gấp khúc, cao thấp, quanh co, duy có khu vực thuộc đất công ty Y học bản địa Việt Nam là còn đôi chỗ bằng phẳng. Do mưa nhiều, nên tình trạng xói mòn mạnh, đất nghèo Feralit xám dinh dưỡng, pH đất thường khoảng 4,5.

Có 3 dòng suối nhỏ hợp lưu khá lớn chảy về xã Tân Thành làm nên thủy điện Nậm Mu, dòng chảy xiết, chỗ sâu nhất chừng 3 - 4 m, rộng có thể tới 6 - 14 m, có cá dầm xanh và một số loài cá khác, có thể đi đánh bắt cá bằng mảng vầu hoặc quăng chài. Hằng năm vào mùa mưa đôi khi có lũ quét. Hai bờ có những khoảng phẳng hẹp do người dân san ủi để trồng cấy, ươm gieo, bồi dục giống dược liệu như Đương Quy, Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Tam Thất,... hoặc làm nhà nghỉ dưỡng ven suối.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Không khí se lạnh quanh năm tại Tả Phìn Hồ
Không khí se lạnh quanh năm tại Tả Phìn Hồ

Tả Phìn Hồ có khí hậu quanh năm mát mẻ nhiệt độ trung bình từ 14 - 22 °C, độ ẩm thường xuyên trên 80%; mùa hè, nhiệt độ cao nhất là 24 °C vào ban ngày, 16 °C vào ban đêm; mùa đông, nhiệt độ chỉ khoảng 9-10 °C vào ban ngày, vào ban đêm nhiệt độ có thể hạ xuống 0 °C; thường xuyên có sương mù khô. Năm 2015, có nhiều băng tuyết. Khí hậu nơi đây phù hợp với cây chè Shan tuyết và cây dược liệu đặc hữu như: Sâm Ngọc Linh, Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Linh Chi đen, Hoàng Tinh đỏ, Tam Thất Hoang, Tổ Điểu, Mán Đỉa, đặc biệt rất nhiều Giảo Cổ Lam và Chè Dây.

Đa dạng sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Với độ cao 1500 m - gần 2000 m, mưa nhiều về sáng và đêm, đất nghèo dinh dưỡng, không khí lạnh nên động thực vật mang đặc trưng của rừng mưa đất dốc cận nhiệt đới.

Cây gỗ Ngọc Am Tả Phìn Hồ
Cây gỗ Ngọc Am Tả Phìn Hồ

Thực vật: rừng nguyên sinh, thảm mục dày, dồi dào, thảm thực vật khá phong phú; ngoài gỗ, vầu còn nhiều dây leo như Kê Huyết Đằng, Lân tơ uyn, Dây Bầu Rừng, Cúc Lục Lăng,... theo sổ tay cây thuốc Tả Phìn Hồ do một nhóm dược sỹ khảo sát, điều tra, phân loại, đánh giá năm 2016 vùng này có sự hiện diện của hơn 250 cây thuốc, hơn 10 cây thuốc loại hiếm phân bố trong hơn 30 họ thực vật. Các cây cổ thụ đặc trưng thường gặp là Kháo Đất, Sến, Táu,... cây cao nhất có thể tới 30 m; Vầu nơi đây rất to, nếu khai thác vào mùa đông có thể dùng làm nhà, khai thác các mùa khác dễ bị mọt mục. Vấn đề bảo tồn nguồn gen chủ yếu là tự phát, chưa có chủ trương của Nhà nước. Từ năm 2016, công tác bảo vệ rừng được chú trọng nhiều hơn trước, nạn chặt phá rừng lấy gỗ làm củi hoặc xẻ gỗ trái phép giảm nhiều. Tuy chưa ngăn chặn hoàn toàn được nhưng tình trạng bẫy thú, đánh mìn lấy cá cũng không còn phổ biến. Lâm sản: gỗ đặc trưng rừng mưa nguyên sinh cận nhiệt đới như Sa Mộc Dầu, Ngọc Am, gỗ Lim, Táu muối, Sến, Vàng Tâm, Giổi, Kháo Đá, Kháo Đất, Vầu ngọt, Vầu đắng, Vầu he. Những sườn núi có nắng nhiều cây chè Shan tuyết vài chục đến trăm tuổi, cao tới hơn chục mét, tán xòe rộng. Không thấy gỗ Đinh, gỗ Nghiến ở vùng này.

Trồng trọt: người dân nơi đây chủ yếu trồng, bảo tồn chè Shan tuyết, Thảo Quả, ruộng bậc thang trồng lúa một vụ và thu hái dược liệu dưới tán rừng như Tam Thất Hoang, Lan Kim Tuyến, Linh Chi Đen, Tỏa Dương, Sâm Ngọc Linh, Hoàng Tinh trắng, Hoàng Tinh đỏ; Thảo Quả trồng dưới tán là nguồn lợi rất lớn với người dân, nếu năm nào không bị băng tuyết có thể thu tới hàng trăm tấn thảo quả tươi.

Rắn lục hoa Tả Phìn Hồ
Rắn lục hoa Tả Phìn Hồ

Động vật: do lạnh nên vật nuôi gà đen, lợn đen, phát triển chậm, thịt thơm; mùa đông năm 2015 vì có băng và tuyết nên trâu, dê, lợn chết nhiều; động vật hoang dã còn ít gà rừng, chim muông, nhiều nhất là rắn, rắn độc gọi theo người bản địa là rắn mốc nơi đây to, dài, có con nặng tới 3,7 kg, dài hơn 3 m. Sóc đỏ sọc bụng khá nhiều, Cầy hương còn nhưng ít khi bắt gặp, ếch xanh, cá Dầm xanh có thể coi là đặc sản vùng này. Vì người dân hay trâu bò uống trực tiếp nước suối nên có thể bị con vắt xâm nhập, cư trú sâu trong mũi sau. Muông thú: do bảo vệ và ngăn chặn chưa kịp thời từ cuối thế kỷ trước nên hiện nay chỉ còn Lợn rừng, Gà rừng, Gà Gô, chim Chèo Bẻo, Chả Lam, chim Cú, Chích Chòe, chim Sâu. Chưa rõ nguyên nhân, thấy từ 2017 chim về vùng này nhiều, nên mỗi sáng dậy là nghe tiêng chim hót lảnh lót cả rừng già. Cá Dầm xanh là loài cá ngon nhất miền núi Việt Nam, có câu “nhất Dầm xanh, nhì Anh vũ, ba tư cá Mú cá Lăng” tuy nhiên chúng chưa được bảo tồn, quy hoạch, sản xuất. Ếch xanh, rắn Hổ lửa, trăn, rắn nước, Cạp nong, Cạp nia, rắn xanh còn rất nhiều,.... Khi trải nghiệm sinh tồn trong rừng vào mùa rắn động dục cần rất thận trọng. Kinh nghiệm nơi rắn trú ngụ thường mọc những cây chữa rắn cắn như cây Viễn Chí Ba Sừng, Viễn Chí Đỏ, cây Trầu Tiên, cây Gừng ly ly,... có thể chữa rắn cắn kịp thời.

Lợn đen Tả Phìn Hồ
Lợn đen Tả Phìn Hồ

Chăn nuôi: chăn thả rông các loại gia súc: dê, trâu, bò, gà đen, vịt và lợn đen chủ yếu để tự cung tự cấp. Do nhiều suối nước trong quanh năm, pH nước ≥ 8,0, nước sạch, ngọt, mát lạnh, nhiều thác phù hợp vơi nuôi cá hồi, cá tầm nhưng người dân chưa có kỹ thuật và chủ trương phát triển tiềm năng này. Nhờ tính tương đối biệt lập nên chăn nuôi vùng này rất ít mắc các bệnh dịch.

Con người và văn hóa bản địa[sửa | sửa mã nguồn]

Con người bản địa[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu nữ H'Mông Tả Phìn Hồ
Thiếu nữ H'Mông Tả Phìn Hồ

Nơi đây lác đác chỉ có 34 hộ dân cư có hộ khẩu, chủ yếu là người Dao đỏ và Dao áo dài, người Nùng, người H’mông; Từ năm 2016 có thêm Viện Y học bản địa Việt Nam đến đầu tư tại đây về trồng dược liệu, chế biến chè Shan tuyết, sản xuất mỹ phẩm từ thảo dược và du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục người Dao đỏ
Trang phục người Dao đỏ

Trang phục của phụ nữ người Dao đỏ đều được thêu bằng tay truyền thống, chất liệu quần áo đều mua vải dệt bằng sợi do dân tộc Nùng se sợi đan thành. Người Dao mua về nhuộm trong thùng với keo chàm thành màu đen đều làm bằng thủ công, ít nhất từ 3 đến 5 lần khi giặt vò không phai mới sử dụng để thêu quần áo; viền cổ, cổ tay, cổ chân, tà ngang, vạt dọc có rất nhiều họa tiết, thêu bằng sợi tơ tằm nhuộm theo 4 màu, sau đó thêu từng vị trí theo quy định. Về trang sức đều dùng bằng bạc nguyên chất do thợ nung rèn đánh điêu luyện theo nhu cầu như: vòng cổ, vòng tay, vòng chân. Về công thức may áo, cổ áo được thiết kế theo hình tròn có thêu hoa văn, đằng sau lưng áo thêu viền có gắn nhiều chùm bông đỏ, yếm áo được trang trí bằng hoa bạc gồm 5 miếng bạc gọi là Nhàn kháo và 120 chiếc hoa bạc gọi là Nhàn piàng. Theo quan niệm của đồng bào Dao, nhìn vào cách thêu hoa văn ở phần đuôi áo của người phụ nữ sẽ biết được người phụ nữ khéo tay. Trang phục người nam Dao đỏ khá đơn giản nhưng có viền cổ, viền tà, khuy áo tròn bằng bạc, luồn cài lệch bên nách phải, trước ngực có yếm trang trí hình chữ nhật màu đỏ thêu bằng sợi chỉ tơ tằm nhuộm và may vải đỏ gắn theo viền.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Thịt treo Tả Phìn Hồ
Thịt treo Tả Phìn Hồ

Ngoài các nguồn lương thực chính là gạo, người Dao cũng có nhiều món ăn chế biến từ thịt và cá rất đa dạng mang nét đặc trưng riêng của người Dao như: thịt treo gác bếp, thắng cố dê, gà nướng, thịt chua, dưa cải muối trong ống vầu,... Mỗi món ăn đều có bí quyết chế biến độc đáo khiến cho cả hương lẫn vị đều không thể lẫn với bất cứ vùng miền nào. Một vài món đặc trưng tiêu biểu, thịt treo gác bếp, xôi ngũ sắc, ếch xanh nấu măng, bọ cánh cam rang muối, thịt trâu khô, cá dầm xanh nấu cháo nếp, lợn đen nướng hầm mầm thảo quả, canh gà đen nấu gừng non,... người Dao mời rượu nhưng không chạm chén, ai uống bao nhiêu tùy ý không ép.

Văn hóa bản địa[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhảy lửa cúng hồn

Nhảy lửa: Nhảy lửa của dân tộc Dao đã có từ ngày xưa, nghe người già kể lại và thực tế đã thấy cứ năm mới là tổ chức cúng nhảy lửa cho tổ tiên. Phong tục cúng nhảy lửa: dân tộc Dao đỏ, Dao Tuyển Tả Phìn Hồ là phong tục, cúng tổ tiên 3 năm cúng một lần; cúng nhảy lửa chỉ cần một con gà trống, thường cúng từ mồng một đến trước 15 tết âm lịch hàng năm hoặc rằm tháng 7 tùy theo từng dòng họ. Tiếng chiêng trống trước, trong khi nhảy lửa dường như đưa người nhảy lửa vào trạng thái lên ám thị thôi miên.

Cúng hồn: Người Dao cho rằng người ta có 3 hồn 7 vía 9 tinh 10 mệnh, vì lý do nào đó bị mất một phần hồn vía con người sẽ có những biểu hiện khác thường: ám ảnh, sợ hãi, giật mình, bực dọc, thẫn thờ, u uất,... trạng thái rối loạn tâm thần. Sau cúng người bệnh thường ổn định trở lại.

Liếm lưỡi cày nung đỏ
Tục liếm lưỡi cày nung đỏ

Liếm lưỡi cày nung đỏ tím: Dân tộc người H’Mông ở huyện Hoàng Su Phì, tiểu vùng Tả Phìn Hồ có bài cúng giải hạn trừ tà rất đặc biệt ít nơi có được và ít người biết đến. Nội dung bài cúng này của người H’Mông được truyền lại từ ngàn năm, cúng rồi tay trần cầm lưỡi cày đã nung đỏ tím đi quanh người bệnh, rồi thầy cúng dùng lưỡi liếm vào lưỡi cày, chân trần chà xát vào lười cày mà không bị bỏng.

Chợ Phiên Nậm Ty[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên chợ xã Nậm Ty

Phiên chợ diễn ra vào ngày thứ 6 hàng tuần. Đối với đồng bào các dân tộc H'mông, Dao đỏ,.... sinh sống ở huyện Hoàng Su Phì thì chợ phiên Nậm Ty là một phiên chợ quan trọng. Đây không chỉ là nơi trao đổi, buôn bán các sản vật tự mà còn là nơi gặp gỡ, giao lưu giữa các dân tộc với nhau.

Các hàng hóa mà đồng bào các dân tộc mang tới khá đa dạng từ ngô, rau rừng, dao, cuốc, các loại gia súc đến đồ trang sức, quần áo dệt thổ cẩm có màu sắc sặc sỡ,... tất cả đều do họ tự làm ra. Ngoài ra, các tiểu thương từ vùng khác cũng đến đây để bày bán các vật dụng cần thiết và có phần hiện đại hơn như: nồi cơm điện, tivi, giày da,...

Sinh hoạt văn hóa, văn nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Múa khèn: Múa khèn là điệu múa truyền thống mang ý nghĩa quan trọng đối với đời sống tinh thần của đồng bào H’mông. Múa khèn được biểu diễn trong lễ hội, có thể do một người biểu diễn, hoặc một đội biểu diễn từ 4 đến 6 người, thường là đôi nam nữ; nam múa khèn kết hợp với nữ múa ô và hát đệm. Múa khèn là sự kết hợp hài hoà giữa các điệu khèn và các động tác biểu diễn của người chơi. Múa khèn tạo cho không khí của ngày hội thêm náo nhiệt, vui tươi, các điệu khèn cũng thể hiện những sắc thái tình cảm khác nhau, ráo riết, đằm thắm, mãnh liệt trong tình yêu cuộc sống. Ngoài ra còn thấy sáo mèo, khèn môi lưỡi đồng, khèn lá, múa tiền,...

Hát đối giao duyên: của người Dao, diễn ra giữa một đội nam và một đội nữ. Những câu hát rất mộc mạc dễ hiểu do người hát tự sáng tác, đó có thể là câu hát để tìm hiểu người bạn mới quen hay kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày, những điều mong ước, những tâm tư tình cảm khó giãi bày. Tùy vào đối tượng, khung cảnh ca hát mà người Dao có các giai điệu và cách đặt lời khác nhau.

Các điểm du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Thác Năng lượng

Thác Năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Cách trung tâm Tả Phìn Hồ 2 km đường rừng là Thác Năng Lượng, thác cao khoảng 15 m, có nhiều mỏm đá rộng, nhô cao có thể dùng làm chỗ nghỉ chân hoặc bày tiệc dã ngoại. Thác cũng là nơi vọng cảnh, ngồi thiền, dưỡng sức, bồi bổ sức khỏe. Thác này xa xưa có tên là thác thùng vì những triền đá dốc bị dòng chảy lâu năm tạo nên những giếng, những thùng, hố nước. Mỗi khi mất gia súc do suối nước cuốn trôi người dân thường tìm xác gia súc trong các giếng, thùng, hố nước này.

Lạ là xác chết gia súc ở đây rất lâu hư thối nên một số chuyên gia trắc địa /năng lượng điện từ, đã tiến hành đo chỉ số Bovis. Năng lượng điện từ trường hay chỉ số Bovis khu vực này rất cao, cao hơn các khu xung quanh hàng nghìn độ. Do vậy về sau thác này được gọi thành thác năng lượng, nhà vọng cảnh gọi nhà năng lượng. Một số người đau yếu, mệt mỏi, chán nản, trầm cảm ... thường ngồi ở bên thác này với kỳ vọng được nạp thêm năng lượng sống, họ cho rằng thác này rất tốt với sức khỏe.

Chòi vọng cảnh trên Đỉnh Bành Bọ[sửa | sửa mã nguồn]

Đỉnh Bành Bọ

Đỉnh Bành Bọ là một đỉnh núi, trên đỉnh là một tảng đá to bằng một tòa nhà lớn ở độ cao hơn 1600m, trên đó được người Pháp thiết kế điểm quan sát và xây dựng công sự phòng ngự. Vào ngày nắng có thể quan sát toàn bộ xã Nậm Ty, Thông Nguyên và Cổng trời 1 cũng như di tích quốc gia ruộng bậc thang Hoàng Su Phì ngay dưới chân. Thường lên đỉnh này không mấy khi có nắng, vì cứ mươi mười lăm phút lại có đợt sương mù khô tràn qua nên chỉ cách nhau vài mét cũng khó nhận rõ mặt người.

Theo tiếng địa phương “Bành” có nghĩa là "Đá", "Bọ" có nghĩa là "Đỉnh". Nơi đây không khí loãng nhưng rất trong lành. Đây là điểm có thể tổ chức du lịch mạo hiểm, nhảy dù từ trên cao.

Miếu Thủ Tợi Mỉu[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu Thủ Tợi Mỉu

Miếu nằm trên dãy Bành Bọ, độ cao khoảng 1500 m, tương truyền rằng cuối đời nhà Đường (904-907), Chu Ôn ép vua đường Chiêu Tông dời đô từ Trường An sang Lạc Dương, một vị cận thần của vua bất mãn chạy về phía nam đến vùng Tả Phìn Hồ rộng lớn, lập làng, lập ra chợ Hán để buôn bán. Khi đang giai đoạn khó khăn, một hôm người hầu bê thau nước bằng đồng vào cho ông rửa mặt, bỗng trong thau thấy ảnh một cây gỗ, hình dáng đặc biệt, ông đã cho quân lính đi tìm cuối cùng thấy cây gỗ như mô tả, có mùi thơm rất mạnh ở Tả Phìn Hồ, nơi có miếu nhỏ hiện nay. Cây này để trong chuồng lợn chuồng gà,... gia súc gia cầm không bị ốm; chữa cảm mạo, đau bụng lạnh, kiết lỵ, ngất,... rất hiệu quả; gỗ này ướt thì thơm, khi khô nhẹ hơn, ít thơm, chưng cất được một loại dầu nâu đen rất thơm dùng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc, dùng gỗ làm áo quan thi thể không hư thối. Vị này dặn người nhà rằng đây là cây quý do thần linh ban cho, sau khi ta chết phải dùng gỗ này làm quan tài, rồi đặt tên cây là Ngọc Am, nghĩa là gỗ quý như ngọc, thịt thơm như trinh nữ, rất thiêng, cần lập miếu, lập am nhỏ để thờ trên núi để nhờ đó yểm thân, yểm thế gia, gia sản phát tài lộc (Am theo Hán nôm là yểm, là an, là cái miếu nhỏ - chữ am theo hán việt có bộ nữ). Từ đó, người ta lập miếu nhỏ trên núi để thờ loài cây ngọc am với mong muốn buôn bán sẽ phát tài lộc, săn bắn thuận lợi, ít ốm đau. Suốt hơn nghìn năm qua gọi là miếu, thực ra chỉ là một hốc cây dùng 3 hòn đá nhỏ quây quanh một hòn đá to, ống nhang, chén đựng nước và chén rót rượu đều làm bằng ống cây Vầu đã mủn mục.

Khi cầu tài lộc ở miếu này lễ vật chỉ là sự thành tâm và vài chiếc lá tươi, hoa tươi trong rừng, không cầu kỳ, nếu có mâm lễ thì hết tuần hương có thể mang về luôn, không để lại, không đặt tiền.

Dị bản: còn gọi Thủ Tài Miếu hay Miếu Thủ Lợi, Miếu Cầu Lộc, Miếu Ngọc Am,... có nhiều truyền thuyết về Miếu. Truyền, trước đây rất lâu ở vùng Xín Mần có một vị tài chủ người Dao ham mê đánh bạc đến tán gia bại sản. Khi nghe nói trên núi nọ có một ngôi miếu Ngọc Am rất thiêng, hễ ai thành tâm tới cầu xin gì sẽ được thần linh nơi miếu ban cho. Tài chủ này khi ấy đang buồn lại nảy sinh hi vọng. Dù không có gì, nhưng ông đã tay không, ngắt vài hoa lá làm lễ vật tìm tới miếu thành tâm cầu khấn. Không lâu sau ông ta đã trở nên giàu có hơn trước rất nhiều.

Ngày nay, rằm hay mồng một hoặc bất kể ngày đều có khách tới thắp hương cầu tài lộc.

Miếu Cụ Mao[sửa | sửa mã nguồn]

Miếu Cụ Nùng Thị Mao

Phục vụ nhu cầu tâm linh cầu an, cầu tự, cầu sức khỏe.

Câu chuyện được truyền lại cách đây hơn 400 năm, khi chưa có chính quyền, chưa có biên giới, vùng đất Tả Phìn Hồ có cụ Nùng Thị Mao - một thầy thuốc rất giỏi chuyên chữa bệnh cho người lao động, người nghèo khổ. Khi Cụ mất, để tưởng nhớ công ơn và cầu mong sức khỏe, an lành, khỏi bệnh, người dân đã lập một lán gỗ và một bàn đá thờ hương khói cho Cụ. Qua nhiều thế hệ, mọi người nơi đây truyền miệng nhau rằng: người bệnh thường xuyên đến đây thắp nhang, cầu Cụ phù hộ khỏi bệnh rất nghiệm và rất thiêng.

Tháng 4 năm 2016, Viện Y học bản địa Việt Nam thực hiện dự án tại đây đã chỉnh trang, đặt cây hương cho Cụ. Nhiều bệnh nhân đã đến cầu tự, cầu sức khỏe tại cây hương Miếu Cụ Mao cho rằng Miếu rất thiêng.

Vùng dược liệu và cây chè Shan tuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng dược liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn ươm Tả Phìn Hồ

Có khoảng 200 loài thực vật bản địa trong đó có rất nhiều loại quý hiếm.

Viện Y học bản địa Việt Nam đã trồng dưới tán 100 ha dược liệu, phát triển ổn định; diện tích vườn ươm 1450m2 với 50 loài thực vật bản địa: Chàm Mèo, Thông Đất, Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Giảo Cổ Lam, Dong Riềng Đỏ, Tam Thất hoang, Ngải Tiên,Hoàng Tinh đỏ, Linh Chi đen, Sâm Ngọc Linh, Rêu trắng, Tổ Điểu,...đáp ứng nhu cầu sản xuất Mỹ Phẩm, Thuốc, Thực phẩm bảo vệ sức khỏe bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giải quyết công ăn việc làm cho người dân vùng Tả Phìn Hồ và các vùng lân cận, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn bền vững.

Vùng chè Shan Tuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Thu hái chè Shan tuyết

Trà Shan Tuyết: Shan là núi, tuyết là búp trà có lông măng trắng như tuyết, sinh trưởng tốt trong giá rét núi cao. Giống trà này phát triển tốt ở vùng núi cao trên 1200 m, do đó rất thích hợp trồng tại Tả Phìn Hồ. Người H’mông gọi là Trà tà xùa nghĩa là trà núi, người Dao gọi là trà Slím pè, nghĩa là trà búp trắng, ngoài ra còn gọi Phin Cha trà đó là Tiến Vua. Búp trà Shan Tuyết to, dài 3–6 cm, bụ bẫm, búp (tôm) có màu trắng bạc.

Cuối năm 2016, Viện Y học bản địa Việt Nam đã tiếp nhận 218 ha Trà Shan tuyết tại thôn Tả Phìn Hồ, Nậm Piên, Tân Thượng xã Nậm Ty, Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Đến nay, diện tích này đã tăng lên đáng kể phục vụ nhu cầu sản xuất chè, matcha tiêu thụ trong và ngoài nước. Góp phần nâng cao đời sống người dân nơi đây.

Một số hình ảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Dân tộc Dao ở Việt Nam
  2. Người làm hồi sinh nền y học bản địa
  3. Hà Giang: Đẩy mạnh bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông
  4. Tọa đàm về cây ngải tiên và chàm mèo với cộng đồng
  5. Cây dong riềng đỏ - cây thuốc mới điều trị bệnh mạch vành
  6. Ngải tiên – “vàng trắng” trên Cao Nguyên Đá
  7. Đánh thức kho dược liệu Tả Phìn Hồ