Tế Độ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tế Độ (济度; 1633 - 1660) là một quý tộc, chính trị gia và nhà quân sự của Mãn Châu đầu thời nhà Thanh.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ra trong gia tộc Ái Tân Giác La, là con trai thứ hai của Trịnh Hiến Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng và cháu nội của Thư Nhĩ Cáp Tề - em của người sáng lập ra nhà Hậu Kim là Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Làm quan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thuận Trị thứ 5 (1648), sau khi Túc Vũ Thân vương Hào Cách mất, Chính Lam Kỳ được giao lại cho ông.

Năm Thuận Trị thứ 8 (1651), ông được Thuận Trị Đế phong làm Giản Quận vương (簡郡王) và là một trong tám vị đại thần hội nghị Nghị Chính.

Năm Thuận Trị thứ 11 (1654), tháng 11, ông được lệnh xuất quân thảo phạt Trịnh Thành Công.

Năm Thuận Trị thứ 14 (1657), nghe tin phụ thân qua đời, ông lập tức về kinh lo liệu tang sự. Ông được thế tập tước vị của cha mình, song phong hào được Thuận Trị Đế đổi từ "Trịnh" (郑) thành "Giản" (简).

Năm Thuận Trị thứ 17 (1660), ông qua đời, được ban thụy "Thuần" (纯), nên thụy hiệu đầy đủ của ông là Giản Thuần Thân vương (简纯亲王).

Mưu phản[sửa | sửa mã nguồn]

Vì bất mãn với chính sách thân Hán của Hoàng đế Thuận Trị, ngoài ra còn có việc trọng dụng Hồng Thừa Trù và Ngao Bái. Ông đã sai thân tín của mình là Na Nhạc bí mật huấn luyện 3000 võ sĩ để hành thích Hoàng đế Thuận Trị nhưng thất bại. Sau đó Tế Độ sai cánh tay phải đắc lực của mình là Phó đô thống Chính Lam Kỳ Bái Mông giết người diệt khẩu để Na Nhạc gánh tội danh giết vua. Không lâu sau đó chuyện bị bại lộ, Tế Độ bị xét xử trước hội nghị Nghị Chính do vì gia đình của Tế Độ có công lao với nhà Thanh nên được Hoàng đế Thuận Trị miễn tội chết nhưng mãi mãi bị giam cầm trong ngục.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ thân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trịnh Hiến Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng.

Mẫu thân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tam Phúc tấn Hô Nhi Cáp Tô thị

Đích Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thi (博尔济吉特氏), con gái của Bối lặc Xước Nhĩ Tế (绰尔济).

Trắc Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Lỗ Đặc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị (吴鲁博尔济吉特氏), con gái của Thượng thư Đô thống Bố Ngạn Thái (布彦泰).
  • Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thi (博尔济吉特氏), con gái của Nhị đẳng Thị vệ Thượng A Thái (尚阿泰).

Thứ Phúc tấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngạch Tắc Lễ thị (额塞礼氏), con gái của Tắc Doãn Đồ (塞尹图).
  • Hàng thị (杭氏), con gái của Ông Phổ Hi (翁普熙).
  • Đồng thị (佟氏), con gái của Ngô Cách (吴格).

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai:
  1. Mặc Mỹ (墨美; 1652 - 1690), con của Thứ Phúc tấn Ngạch Tắc Lễ thị. Được phong Phụ quốc Tướng quân (辅国将军) năm 1666.
  2. Lạt Bố (喇布; 1654 - 1681), con của Thứ Phúc tấn Hàng thị. Năm 1670, được thế tập tước vị của Tế Độ, nhưng bị đoạt tước năm 1682.
  3. Đức Tái (德塞; 1654 - 1670), con của Đích Phúc tấn Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị. Năm 1661 được thế tập tước vị của Tế Độ. Sau khi qua đời được truy thụy Giản Huệ Thân vương (简惠亲王).
  4. Mục Tế Nạp (穆济衲; 1656 - 1659): con của Thứ Phúc tấn Ngạch Tắc Lễ thị. Chết yểu.
  5. Nhã Bố (雅布; 1658 - 1701), con của Thứ Phúc tấn Hàng thị. Năm 1683, được thế tập tước vị của Tế Độ. Sau khi qua đời được truy thụy Giản Tu Thân vương (簡修親王).
  • Con gái:
  1. Cố Luân Đoan Mẫn Công chúa (固倫端敏公主; 1653 - 1729) được Thuận Trị Đế nhận làm con nuôi, sau đó hôn phối với Ban Đệ (班第), Thân vương của Khoa Nhĩ Thẩm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]