Tống Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Anh Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Chiping.jpg
Tranh vẽ Tống Anh Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 2 tháng 5 106325 tháng 1 1067
Tiền nhiệm Tống Nhân Tông
Kế nhiệm Tống Thần Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Tuyên Nhân Thánh Liệt hoàng hậu Cao thị
Hậu duệ
Tên húy Triệu Tông Thực (趙宗實)[1]
Triệu Thự (趙曙)[2]
Niên hiệu Trì Bình: 1064-1067
Thụy hiệu Thể càn Ứng lịch Long công Thịnh đức Hiến văn Túc vũ Duệ Thánh Tuyên Hiếu hoàng đế
(體乾應歷隆功盛德憲文肅武睿聖宣孝皇帝)[3]
Miếu hiệu Anh Tông (英宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Bộc An Ý vương Triệu Doãn Nhượng
Thân mẫu Tiên Du huyền quân Nhâm thị
Sinh 16 tháng 2, năm 1032
Mất 25 tháng 1, năm 1067
Trung Quốc
An táng Vĩnh Định Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Anh Tông (chữ Hán: 宋英宗, 16 tháng 2, 1032 - 25 tháng 1, 1067), thụy hiệu đầy đủ Thể Càn Ứng Lịch Long Công Thịnh Đức Hiến Văn Túc Vũ Duệ Thánh Tuyên Hiếu hoàng đế (體乾應歷隆功盛德憲文肅武睿聖宣孝皇帝), tên thật là Triệu Tông Thực (趙宗實), hay Triệu Thự (趙曙), là vị hoàng đế thứ năm của vương triều Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc. Ông là cháu chắt của Tống Thái Tông, được phong làm người kế vị cho chú là Tống Nhân Tông vốn không có con trai. Sau khi Nhân Tông từ trần năm 1063, ông trở thành hoàng đế nhà Tống. Trong 4 năm ở ngôi, ông chỉ sử dụng 1 niên hiệuTrì Bình (治平).

Tuy chỉ trị vì trong thời gian ngắn ngủi, nhưng Tống Anh Tông đã lập được nhiều thành tích đáng kể cho vương triều: ổn định chính sự trong nước, phát động biên soạn Thông giám và bên ngoài hòa hảo với Tây Hạ. Về tình hình chính sự, trong thời gian đầu trị vì của ông, quyền lực trong triều nằm trong tay Tào thái hậu. Mãi đến năm 1064, Anh Tông mới đích thân chấp chính. Trong thời gian này xảy ra tranh cãi về lễ nghị kéo dài tới 10 tháng, kết quả phụ thân ruột của Anh Tông được gọi là hoàng khảo. Tháng giêng năm 1067, Anh Tông qua đời. Ngôi hoàng đế được truyền cho hoàng tử trưởng là Dĩnh vương Triệu Húc, tức Tống Thần Tông.

Thân thế và cuộc sống ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Anh Tông là con trai thứ 13 của Bộc An Ý vương Triệu Doãn Nhượng, mẫu thân Tiên Du huyện quân Nhâm thị[4]. Doãn Nhượng là con trai thứ tư của Thương Cung Tĩnh vương Triệu Nguyên Phân và Thương vương là hoàng tử thứ tư của Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa. Nguyên trước kia Tống Chân Tông không có con, từng nuôi Bộc vương làm con mình, dự phòng về sau này có người kế vị, nhưng về sau thì hoàng tử Triệu Trinh (tức Tống Nhân Tông) chào đời, Triệu Doãn Nhượng phải nhường lại vị trí trữ quân và được phong làm Bộc vương.

Triệu Tông Thực chào đời vào ngày 3 tháng 1 ÂL năm Minh Đạo nguyên niên (1032) dưới thời Tống Nhân Tông tại phủ Bộc vương nằm ở phường Tuyên Bình, Biện Kinh[4]. Trước kia, Bộc vương có lần nằm mộng thấy 2 con rồng sà vào chỗ mình. Khi Tông Thực chào đời, có ánh sáng màu đỏ chiếu khắp gian phòng, lại có người thấy rồng vàng trong phủ. Từ năm Tông Thực lên bốn tuổi thì được Tống Nhân Tông đưa vào nuôi ở đại nội. Năm 1039, khi Dự vương Triệu Phưởng ra đời thì ông bị buộc phải trở về phủ Bộc vương.

Tông Thực lại hiếu thuận và tôn sùng lễ nghĩa, thích đọc sách Nho. Năm Cảnh Hựu thứ ba (1036) thì ông được ban tên gọi là Tông Thực, nhận chức Tả giám môn Vệ soái phủ phó suất, sau là Hữu Vũ Lâm đại tướng quân rồi thứ sử Nghi châu. Năm 1050, được phong Hữu Vệ đại tướng quân, Nhạc châu đoàn luyện sứ.

Làm trữ quân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đó ba hoàng tử của Nhân Tông đều chết yểu, các phi tần còn lại chỉ sinh ra con gái, nên Nhân Tông không có người kế vị. Khoảng giữa những năm Gia Hựu (1057 - 1063), tể tướng Hàn Kì nhiều lần dâng sớ xin lập hoàng trữ[4], Nhân Tông đã có ý lập Tông Thực. Vào năm 1059, Bộc vương Doãn Nhượng qua đời, Tông Thực phải trở về phủ chịu tang. Năm 1062, ông được bổ nhiệm Tần châu phòng ngự sứ, Tri Tông chánh tự, nhưng lại bốn lần dâng biểu, lấy lí do phục tang mà từ chối. Khi ông hết tang, Nhân Tông hạ chiếu phong làm hoàng tử, ban tên là Thự, ông cáo bệnh từ mà chối. Nhân Tông triệu Phán Đại tông tự An Quốc công đến truyền chỉ, Thự vẫn không nhận. Người trong nhà là Mạnh Dương hỏi lí do, ông đáp

Không muốn nghĩ đến cái phúc trước mắt, chỉ muốn tránh tai vạ.

Mạnh Dương nói

Thiên tử mấy lần truyền chiếu cứ cố từ không nhận; một mai triều thần nghe tin mà nghi hoặc thì có còn giữ được cái gọi là phúc không?

Tông Thực hiểu ra, bèn cùng Tòng Cổ vào cung. Trước khi lên đường ông nhắn với gia nhận rằng

Trông nom cơ nghiệp, khi hoàng thượng có đích tự, ta sẽ quay về.

Sau đó, mỗi ngày ông lên triều một lần, có khi phải ở trong cung mấy hôm. Tháng 9 ÂL năm 1062, được dời Tề châu phòng ngự sứ, tước Cự Lộc quận công[4]. Ngày 30 tháng 4 năm 1063, Nhân Tông lâm bệnh nặng, liền cho triệu hoàng hậu Tào thị đến. Khi đó Nhân Tông không thể nói được nữa; hoàng hậu triệu các thái y đến châm cứu và dâng thuốc nhưng đã không kịp. Đêm hôm đó, đế qua đời[5]. Hoàng hậu sợ có biến, liền giữ các chìa khóa các cung ngay bên mình, đến sáng hôm sau triệu hoàng tử và các đại thần đến bàn việc lên ngôi. Hoàng tử thất sắc nói: Không dám theo, không dám theo. Hàn Kì cùng các đại thần ra sức thúc ép, đưa sẵn triều phục; triệu Vương Khuê đến thảo di chiếu rồi tuyên đọc ở điện Phúc Ninh.

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Thái hậu nhiếp chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 5 năm 1063, hoàng tử tức vị hoàng đế, tức là Tống Anh Tông, ra triều với các quan tại Đông Doanh[5]. Anh Tông muốn theo lệ cổ, để ba năm xem xét, cho Hàn Kì nhiếp trùng tể, nhưng các đại thần phần đông không nhất trí, đành thôi. Hạ chiếu tôn hoàng hậu làm hoàng thái hậu. Anh Tông vừa lên ngôi chưa đầy nửa tháng thì lại bệnh nặng, vui buồn thất thường, có nhiều hành động kì lạ. Các quan đại thần cùng đến gặp Thái hậu, xin buông mành nhiếp chánh. Thái hậu tinh thông kinh sử, giải quyết công việc nhanh gọn, nên triều chính vẫn tương đối yên ổn. Tiến phong Hàn Kì làm Vệ quốc công, Tăng Công Lượng là Trung thư thị lang kiêm Thượng thư bộ Lễ... Phong hoàng tử Trọng Châm làm An châu quan sát sứ, Quang quốc công; Trọng Củ làm Nhạc An quận công; Trọng Khác là Đại Ninh quận công. Khi ấy bệnh tình của Anh Tông có phần thuyên giảm, Vương Khuê xin thái hậu trả lại chính sự nhưng cuối cùng việc này không được tiến hành.

Anh Tông hạ chiếu lập Kinh Triệu quận quân Cao thị làm hoàng hậu. Hoàng hậu là cháu chắt của Thị trung Cao Quỳnh, có mẹ là em gái của Tào thái hậu. Năm hậu 4 tuổi cũng được đưa vào cung nuôi dưỡng cùng với Anh Tông; về sau được ban hôn. Đến đây thì chính vị hoàng hậu[5]. Khi đó cựu tướng Phú Bật cũng hết tang, được bổ dụng Xu mật sứ. Tháng 10 năm đó phong hoàng tử Quang Quốc công Trọng Châm làm Tiết độ sứ Trung Vũ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, tháng sáu năm sau cải là Dĩnh vương, cải tên là Triệu Húc. Mùa đông, táng Nhân Tông hoàng đế ở Vĩnh Chiêu lăng[4].

Anh Tông kể từ sau khi lâm bệnh, tính khí vui buồn thất thường, thường đánh mắng tả hữu vì lỗi nhỏ khiến trong cung ta thán khắp nơi. Khi đó tên hoạn quan Nhậm Thủ Trung thừa cơ gội, tìm cách gièm pha li gián hai cung. Lâu ngày thành ra mối hiềm khích khó mà hóa giải được. Một hôm thái hậu đem việc này ra khóc với quần thần, Hàn Kì nói là do bệnh nên mới thế, sau này tất khác; trước kia thái hậu thờ Nhân Tông, nhân đức bao trùm thiên hạ, lúc Ôn Thành hoàng hậu còn sống thái hậu vẫn nhẫn nhục được; nay tình mẹ con sao chẳng thể bỏ qua, Thái hậu mới dần nguôi ngoai đi. Hôm đó Hàn Kì vào yết kiến Anh Tông. Anh Tông nói luôn

Thái hậu đối với trẫm chưa tận tâm.

Hàn Kì bảo rằng nếu cha mẹ không hiền minh mà con vẫn tận hiếu thì mới có thể nên danh thiên cổ.[5] Anh Tông dần tỉnh ngộ. Đầu năm 1064, Anh Tông đến Kinh diên nghe giảng sách, thị giảng Lưu Sưởng đọc đến đoạn Nghiêu nhường ngôi cho Thuấn thì chắp tay khen ngợi cái hiếu của Thuấn. Anh Tông cảm thấy phân chấn hơn; liền vào cung quỳ mà tạ lỗi với thái hậu. Từ đó hai cung hòa giải với nhau, mối quan hệ trở lại êm đẹp.

Sự kiện Bộc nghị[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này bệnh tình của Anh Tông đã khỏi hẳn, Hàn Kì muốn thái hậu giao lại chính quyền nhưng không tiện nói ra, bèn giả cách xin nghỉ, bảo rằng hoàng đế đủ sức xét việc lại có thái hậu huấn chính thì làm gì cần tể thần nữa. Thái hậu hiểu ý, liền hạ chỉ hết buông rèm. Đó là vào tháng 5 ÂL năm 1064. Anh Tông thân chính, ra lệnh phong Hàn Kì làm Thượng thư Hữu bộc xạ, cho mệnh lệnh của thái hậu vẫn xưng là thánh chỉ, nghi vệ cho thái hậu như Chương Minh Hiến Túc thái hậu trước kia[6]. Hàn Kì cho đuổi Nhậm Thủ Trung ra Kỳ châu.

Theo ý của Anh Tông, tể thần dâng biểu xin làm lễ truy tôn cho Bộc An Ý vương cùng Tiếu quốc phu nhân Vương thị, Tương quốc phu nhân Hàn thị, Tiêu du huyện quân Nhâm thị. Tri gián viện Tư Mã Quang nói xưa kia Hán Tuyên Đế không truy tôn Lệ thái tử, Hán Quang Vũ Đế không truy tôn Thần Lộc nam đốn quân, đó là lẽ muôn đời vậy. Còn việc xưng hô với Bộc vương như thế nào thì lại phải bàn tiếp. Do Ngụy quốc công Tông Ý không con, Bộc vương không có đích tôn, vì vậy triều đình cho con thứ của Bộc vương là Tông Phác nối chức Bộc quốc công[7]. Giữa năm 1065, Vương Khuê lại dâng tấu nói Bộc vương là anh Nhân Tông thì cư xưng là Hoàng bá phụ là đủ. Lại có lời bàn nên xưng Hoàng bá khảo, Lã Công Trứ bảo ngày xưa Chân Tông đối với Thái Tổ cũng xưng là Hoàng bá khảo, Bộc vương thì sao sánh với Thái Tổ được. Âu Dương Tu dẫn Lễ nghi ra nói nếu về làm con nuôi người khác, thì đối với người sinh ra mình vẫn phải gọi là cha mẹ. Hán Tuyên Đế, Quang Vũ Đế cũng gọi cha là Hoàng khảo. Anh Tông đành cho gác chuyện lại đến khi có điển cố thích hợp mới bàn tiếp. Tư Mã Quang không chấp nhận. Ngự sử Lã Hối, Phạm Thuần Nhân, Lã Đại Phòng liên tục dâng sớ bàn luận, đều thuận theo Vương Khuê nhưng không được phúc đáp. Hàn Kì dâng sớ chờ tội, Âu Dương TuTăng Công Lượng đều xin miễn chức, các bên tranh nghị không dứt, kéo dài gần 1 năm.

Mùa thu năm đó, người Hạ cho quân đánh phá Tần Phượng, Kinh Nguyên, quấy nhiễu dân chúng và giết nhiều súc vật. Tư Mã Quang dâng thư xin đem cứu. Đầu năm 1065, triều đình gửi chiếu trách cứ Hạ chủ Lượng Tộ (Hạ Huệ Tông). Vua Hạ không phụng chiếu và đổ tội cho các tướng lĩnh ở vùng biên, không lâu sau lại gây hấn. Lúc này Xu mật phó sứ Vương Trù đã chết, được ban Lễ bộ thượng thư, thụy Trung Giản. Triều đình dùng Phùng Kinh làm An phủ sứ Thiểm Tây lo chống giữ với người Hạ[7].

Đến tháng giêng ÂL năm 1066, Hoàng thái hậu xuống chiếu viết tay, cho rằng đối với Bộc An Ý vương có thể xưng hoàng, phu nhân là hậu, hoàng đế đối với họ xưng là thân nhưng không tôn thụy gì thêm. Anh Tông xuống chiếu từ tạ, một hồi sau mới nhận, tôn Bộc An Ý vương là Bộc An Ý hoàng, Tiếu quốc, Tương quốc và Tiên Du phu nhân xưng là hậu[8]. Sau đó, Lã Hối thấy triều đình không nghe kiến nghị của mình nên dâng sớ chờ tội. Anh Tông cho trả sớ, Lã Hối nói Hàn KìÂu Dương Tu gây khó dễ cho mình. Cuối cùng Anh Tông theo lời hai vị phụ chính, đày Lã Hối đến Kỳ châu, Phạm Thuần Nhân đến An Châu, Lã Đại Phòng đến Ninh Huyện. Tư Mã QuangLã Công Trứ dâng sớ ngăn việc trục xuất ngôn quan, Anh Tông không nghe. Lã Công Trứ bèn xin ra ngoài, làm quan ở Thái châu. Từ đây, cuộc tranh luận mới chấm dứt.

Tháng 4 năm 1066, Anh Tông bổ nhiệm Tư Mã Quang biên soạn Thông chí, về sau gọi là Tư trị thông giám, gồm 289 quyển chép việc từ thời Chu Uy Liệt vương đến hết đời Hậu Chu. Tư trị thông giám trở thành tác phẩm lịch sử có giá trị vĩ đại của Trung Quốc.

Tháng 10 năm 1066, Hạ Nghị Tông dẫn quân xâm lược thành Đại Thuận và trại Nhu Viễn. Quân Tống chống trả quyết liệt, khiến Hạ chủ bại trận, trúng tên dẫn đến trọng thương, năm sau thì chết.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1066, Anh Tông xưng tôn hiệu Thể Càn Ứng Lịch Văn Vũ Thánh Hiếu hoàng đế. Lúc này bệnh cũ của ông tái phát, tể tướng Hàn Kì vào thăm và xin lập thái tử để yên lòng dân[8]. Khi ấy Anh Tông bệnh không nói được, những mệnh lệnh đều phải tự tay lấy bút mà ghi. Khi các đại thần xin lập tự, Anh Tông gật đầu rồi miên cưỡng viết tám chữ: Lập Đại Đại vương làm hoàng thái tử. Hàn Kỳ xin viết kĩ hơn, Anh Tông ghi thêm ba chữ Dĩnh vương Húc rồi cho phát đi[8]. Hàn Kỳ truyền cho Trương Phương Bình đến điện Phúc Ninh thảo chiếu lập thái tử. Khi đó Anh Tông chỉ còn đủ sức viết thêm chữ Húc rồi cho phát đi.

Ngày Đinh Tị, tháng giêng năm thứ tư Trị Bình, tức ngày 25 tháng 1 năm 1067, Anh Tông qua đời ở điện Phúc Ninh, hưởng dương 34 tuổi[4][9]. Thái tử Húc lên kế vị, tức là Tống Thần Tông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Yingzong.jpg
  • Cha: Bộc An Ý vương Triệu Duẫn Nhượng (濮安懿王 赵允让).
  • Mẹ: Tiên Du huyền quân Nhậm thị (仙游县君任氏).
  • Hậu phi:
  1. Tuyên Nhân Thánh Liệt hoàng hậu (宣仁聖烈皇后, 1032 - 1093), Cao Thao Thao (高滔滔), người Mông Thành, Bạch Châu.
  2. Chiêu nghi Bảo thị (昭儀鮑氏, ? - 1102).
  3. Tu dung Trương thị (修容張氏, 1053 - 1130).
  • Con cái:
  1. Thần Tông Triệu Húc (趙頊).
  2. Ngô Vinh vương Triệu Hạo (赵颢).
  3. Nhuận vương Triệu Nhan (赵颜), chết sớm.
  4. Ích Đoan Hiến vương Triệu Quân (赵頵).
  5. Ngụy Sở quốc đại trưởng công chúa (魏国楚国大长公主, ? - 1058), năm Gia Hữu thứ 8 tấn phong Đức Ninh công chúa (德寧公主). Lấy tả vệ tướng quân Vương Sư Ước.
  6. Ngụy quốc đại trưởng công chúa (魏国大长公主, 1051 - 1080), năm Gia Hữu thứ 8 tấn phong Bảo An công chúa (寶安公主). Lấy tả vệ tướng quân Vương Sân.
  7. Hàn quốc Ngụy quốc đại trưởng công chúa (韓國魏國大長公主, 1051 - 1123), tấn phong Thọ Khang công chúa (壽康公主). Lấy Trương Đôn Lễ.
  8. Thư quốc công chúa (舒國公主), chết sớm.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thương Thánh, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, 350 vị hoàng đế nổi tiếng, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đặt năm 1036.
  2. ^ Tên của ông được đổi thành Thự năm 1062 khi được tấn phong thái tử. Tên này thành kỵ húy khi ông lên ngôi vua năm 1063.
  3. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1083.
  4. ^ a ă â b c d Tống sử, quyển 13.
  5. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 61.
  6. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 62.
  7. ^ a ă Tục tư trị thông giám, quyển 63.
  8. ^ a ă â Tục tư trị thông giám, quyển 64.
  9. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 65.