Tống Hiếu Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tống Hiếu Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Xiaozong.jpg
Tranh vẽ Tống Hiếu Tông.
Hoàng đế nhà Tống
Trị vì 24 tháng 7 năm 116218 tháng 2 năm 1189
Tiền nhiệm Tống Cao Tông
Kế nhiệm Tống Quang Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Thành Mục hoàng hậu Quách thị
Thành Cung hoàng hậu Hạ thị
Thành Túc hoàng hậu Tạ thị
Sái quý phi
Lý hiền phi
Hậu duệ
Tên húy Triệu Bá Tông (趙伯琮)
Triệu Viện (趙瑗)[1]
Triệu Vĩ (趙瑋)[2]
Triệu Thận (趙昚)[3]
Niên hiệu
Thụy hiệu Thiệu Thống Đồng Đạo Quan Đức Chiêu Công Triết Văn Thần Vũ Minh Thánh Thành Hiếu hoàng đế
紹統同道冠德昭功哲文神武明聖成孝皇帝[4]
Miếu hiệu Hiếu Tông (孝宗)
Triều đại Nhà Tống
Thân phụ Tú An Hy vương Triệu Tử Xưng
Thân mẫu Tú vương phu nhân Trương thị
Sinh 27 tháng 11 năm 1127
Mất 28 tháng 6 năm 1194
Trung Quốc
An táng Vĩnh Phụ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Tống Hiếu Tông (chữ Hán: 宋孝宗, 27 tháng 11 năm 1127 - 28 tháng 6 năm 1194), thụy hiệu Thiệu Thống Đồng Đạo Quan Đức Chiêu Công Triết Văn Thần Vũ Minh Thánh Thành Hiếu hoàng đế (紹統同道冠德昭功哲文神武明聖成孝皇帝), tên thật là Triệu Bá Tông (趙伯琮), Triệu Viện (趙瑗), Triệu Vĩ (趙瑋) hay Triệu Thận (趙昚), tự Nguyên Vĩnh (元永) là hoàng đế thứ 11 của triều đại nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc.

Tống Hiếu Tông xuất thân là hậu duệ của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn, cha của ông là Tú vương Triệu Tử Xưng. Từ lúc còn nhỏ, Triệu Bá Tông được Tống Cao Tông đưa vào trong cung nuôi dưỡng, về sau chính thức phong vương cho ông rồi lập ông làm hoàng tự. Năm 1162, Cao Tông nhường ngôi và trở thành thái thượng hoàng, Hiếu Tông chính thức tức vị khi đã 36 tuổi. Những năm đầu trị vì, ông chú tâm vào công cuộc khôi phục Trung Nguyên vốn đã mất vào tay nước Kim từ thập niên 1130, song không thành công, cuối cùng ông phải chấp nhận kí hòa ước, lập lại hòa bình vào năm 1164, từ đó nam bắc hòa hảo trong hơn 40 năm. Đến những năm Càn Đạo và Thuần Hi, Hiếu Tông bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, bổ dụng hiền tài khiến đất nước thái bình, bá tánh an cư lạc nghiệp, sử xưng thời kì này là Can Thuần chi trị. Hiếu Tông được sử sách đánh giá là vị vua giỏi nhất của thời Nam Tống. Sau cái chết của thượng hoàng Cao Tông (1187), Hiếu Tông thương xót và quyết tâm mặc áo xô trong ba năm để tròn đạo hiếu với thượng hoàng. Năm 1189, ông nhường ngôi cho con trai là thái tử Triệu Đôn, tức là Tống Quang Tông, lui về cung Trùng Hoa làm thái thượng hoàng. Trong những năm đó, do sự gièm pha của Lý hoàng hậu khiến quan hệ hai cung trở nên bất hòa, Quang Tông cũng bỏ việc yết kiến Hiếu Tông, khiến ông buồn phiền và sinh bệnh Năm 1194, ông bệnh mất ở cung Trùng Hoa, thọ 68 tuổi. Cũng do Quang Tông không chấp nhận chủ tang cho Hiếu Tông, thái hoàng thái hậu Ngô thị làm sách mệnh ép Quang Tông phải thoái vị.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Bá Tông là cháu bảy đời của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn. Thái Tổ có bốn người con trai, trong đó hoàng tử thứ tư là Tần Khang Huệ vương Triệu Đức Phương. Nguyên Thái Tổ tuân theo di huấn của thái hậu nên nhường ngôi cho người em là Triệu Quang Nghĩa, tức Tống Thái Tông. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Thái Tông đã tìm cách loại trừ các con của Thái Tổ để về sau sẽ truyền ngôi cho con của mình, và Triệu Đức Phương cũng đã bị giết vào năm 981 ở tuổi 23. Đức Phương có một người con là Ạnh Quốc công Triệu Duy Hiến (979 - 1016), Duy Hiến sinh Tân Hưng hầu Triệu Tòng Úc, Tòng Úc sinh Hoa Âm hầu Triệu Thế Tương, Thế Tương sinh Khánh quốc công Triệu Lệnh Thoại, Lệnh Thoại sinh ra Triệu Tử Xưng, về sau được truy tặng là Tú vương. Tử Xưng thành hôn với bà Trương thị. Lúc Trương thị có mang mộng thấy một người nói với mình

Dĩ thử vi thức[5].

Ngày Mậu Dần tháng 10 ÂL năm Kiến Viêm nguyên niên thời Tống Cao Tông, tức Dương lịch ngày 27 tháng 11 năm 1127[6], Trương thị hạ sinh Triệu Bá Tông tại quan xá ấp Thanh Sam, Tú châu[5].

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự biến Tĩnh Khang năm 1127, Tống Cao Tông Triệu Cấu dẫn theo triều đình chạy về phía nam để tránh sự truy đuổi của người Kim và lập ra vương triều Nam Tống. Năm 1129, con trai duy nhất của Cao Tông là Nguyên Ý thái tử Triệu Phu qua đời[7], Cao Tông sau đó mắc bệnh liệt dương khiến cho hậu cung không thể nào sinh nở được nữa, buộc Cao Tông phải chọn hoàng tự khác. Lúc Chiêu Từ Thánh Hiến hoàng hậu từ Giang Tây trở về hành tại thì mộng thấy giấc mơ lạ, nói với Cao Tông. Về sau tể tướng Phạm Tông Doãn xin Cao Tông noi theo việc Từ Thánh hoàng hậu đời Tống Nhân Tông, chọn trẻ trong tông thất vào làm hoàng tự để dự phòng về sau. Cao Tông bèn hạ chiếu tuyển con cháu của Thái Tổ vào nuôi trong cung. Tháng 5 ÂL năm 1132, tuyển được 10 trẻ tên có chữ Bá, hiệu là Tông Tử, trong đó có Bá Tông, người nuôi dưỡng ông là Trương Hiền phi. Tháng 2 ÂL năm 1133, ông được phong làm Hoa châu[8] phòng ngự sứ, ban danh là Viện, mấy tháng sau dời làm Quý châu phòng ngự sứ. Tháng 5 ÂL năm 1135, tể tướng Triệu Đỉnh đề nghị lập thư viện ở cung trung để giúp đỡ việc học của các trẻ này, Cao Tông đồng ý, đặt tên nơi đó là Tư Thiện đường[5]. Triệu Viện ở trong cung tỏ ra là cần mẫn, người ham học hỏi, biết giữ lễ và thông minh hơn người. Cùng năm 1135, ông được phong làm Báo Khánh quân tiết độ sứ, tước Kiến Quốc công[5]. Tháng 6 ÂL, lấy Huy Du các đãi chế Phạm Trùng và Khởi cư lang Chu Chấn làm sư phó cho Triệu Viện. Cao Tông mệnh Triệu Viện khi gặp hai người này phải dùng lễ bái. Về sau Trương Hiền phi qua đời, Triệu Viện sang chỗ Ngô quý phi, tức là Ngô hoàng hậu về sau.

Sau đó từ mười trẻ được chọn ban đầu, Cao Tông chọn ra hai trẻ ưu tú nhất là Triệu Viện và một người khác tên là Triệu Bá Cửu, tên mới là Triệu Cứ và dự định trong hai chọn lấy một. Cao Tông muốn xem xét tính tình của hai đứa nên triệu vào gặp. Lúc đó có một con mèo đến ngồi cạnh án. Viện vẫn thản nhiên, còn Cứ thì bước tới đá con mèo. Do đó Cao Tông cho Cứ là nghiêm quá khó gánh vác việc lớn, đã muốn chọn Viện. Vào đầu năm 1142, ông được phong Kiểm giáo thái bảo, Phổ An quận vương[9]. Tháng 3 ÂL cùng năm được ra ở phủ đệ bên ngoài cung.

Tháng 9 ÂL năm 1143, cha Triệu Viện là Triệu Tử Xưng mất ở Tú châu. Đầu năm 1144, triều đình nghị sự, cho rằng khi Cao Tông chưa chính thức nhận Viện làm con thì ông phải giữ đạo hiếu với cha ruột, nên ông xin giải trừ quan chức và về chịu tang. Ba năm sau, tháng 4 ÂL năm 1146, Triệu Viện hết tang, được phục lại chức cũ[5]. Ngày Mậu Ngọ tháng 6 ÂL năm 1147, được đổi làm Thường Đức quân tiết độ sứ. Năm 1154, giặc cướp nổi lên ở Cù châu, Tần Cối tự ý sai người đánh dẹp mà không báo với Cao Tông. Triệu Viện biết chuyện vào tâu rõ, Cao Tông tức giận triệu Cối vào chất vấn. Cối bảo rằng việc nhỏ không cần phiền hoàng thượng. Về sau Cối mới biết Triệu Viện tâu việc này lên Cao Tông nên sinh ra thù ghét ông. Sau này Triệu Cừ cũng được phong làm Ân Bình quận vương. Nguyên trước kia Cao Tông chọn Triệu Viện, nhưng thực ra lại yêu quý Triệu Cừ vì thế lại do dự, bèn ban hai mươi cung nữ, phân phát về hai phủ Phổ An, Ân Bình. Một năm sau triệu 20 cô gái vào kiểm tra, thì thấy 10 cô ở phủ Phổ An đều còn trinh nữ, trái với 10 cô kia. Do vậy ông quyết định chọn Viện. Nhưng Tần Cối lại ra sức bảo Cao Tông nên chờ hậu cung có người mang thai, nên việc lập tự bị gác lại.

Năm 1155, Tần Cối bệnh nặng rồi chết[10], bọn tay chân bàn mưu ép Cao Tông phải phong cho con Cối là Tần Hi làm tể tướng, Triệu Viện biết chuyện, tố cáo Cao Tông khiến âm mưu của họ không thành.

Làm hoàng tử và hoàng thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Quý Dậu tháng 2 ÂL năm 1160, Tống Cao Tông chính thức lập Triệu Viện làm hoàng tử, đổi tên là Triệu Vĩ[5]. Sang ngày Bính Tí, ông được gia Ninh Quốc quân tiết độ sứ, Khai phủ nghi đồng tam ti, tiến phong Kiến thân vương. Chiếu vừa ban ra, sĩ đại phu cả thảy đều mừng rỡ. Tháng 4 ÂL năm đó, ông được ban tên tự Nguyên Khôi[5]. Ngày Nhâm Tí tháng 10 ÂL năm 1161, được đổi làm Trấn Nam quân tiết độ sứ. Lúc này triều đình lại phải đối mặt với cuộc tấn công mới của nước Kim. Kim chủ Lượng dẫn 60 vạn quân nam xâm, nhanh chóng lấy mất Lưỡng Hoài, cả Lâm An chấn động. Cao Tông lo sợ lại muốn bỏ chạy ra biển, quần thần cũng ra sức hùa theo. Triệu Vĩ thấy triều thần hèn nhát như thế bèn xin tự mình ra trận giết địch. Cao Tông vì thế cũng có phần tự tin hơn. Vào cuối năm này, quân đội triều Tống đánh bại quân Kim một trận lớn ở Thái Thạch Kì, giải được mối nguy cơ mất nước[11].

Lúc này Cao Tông tuổi cao đã cảm thấy mệt mỏi nên muốn nhường ngôi, nhưng Triệu Vĩ cho rằng lúc triều đình đang phải chống chọi với giặc Kim hùng mạnh thì không thích hợp để mình nhận ngôi báu. Về sau chiến sự chấm dứt, tể tướng Trần Khang Bá và trung thư xá nhân Đoàn Văn Nhã đề nghị phải danh chính ngôn thuận lập Vĩ làm hoàng thái tử, Cao Tông bằng lòng. Ngày Giáp Tí tháng 5 ÂL năm 1162, chính thức hạ chiếu sắc phong Triệu Vĩ làm thái tử, cải tên là Triệu Thận, Học sĩ thừa chỉ Hồng Tuân được phong làm Thái tử trạch tự[12]. Ngày Giáp Tuất tháng 6 ÂL (22 tháng 7), Cao Tông đích thân viết ngự bút, ban cho Triệu Thận tên tự mới là Nguyên Vĩnh. Sau đó Cao Tông hạ chiếu:

Hoàng thái tử có thể tức vị hoàng đế. Trẫm xưng thái thượng hoàng đế, lui về cung Đức Thọ, hoàng hậu xưng là Thái thượng hoàng hậu.

Ngày Bính Tí (24 tháng 7) sai trung sứ triệu thái tử vào cấm trung, ban lệnh nhường ngôi, thái tử từ chối ba lần, lại muốn trở về đông cung, nhưng Cao Tông không chịu, mới phải chấp nhận. Tể tướng Trần Khang Bá dẫn trăm quan đến chúc mừng, mời thái tử lên ngai vàng.

Ngày Mậu Dần (26 tháng 7), ông hạ lệnh tể tướng và trăm quan một tháng phải hai lần triều yết Đức Thọ cung. Hôm sau nữa (27 tháng 7), vua mới tế cáo trời đất và tông miếu về việc lên ngôi, tức là Hiếu Tông hoàng đế. Ngày 28 tháng 7, ông đặt lệ cứ năm ngày vào Đức Thọ cung triều yết thượng hoàng một lần, về sau thượng hoàng có thánh dụ cho phép mỗi tháng chỉ phải triều yết hai lần vào các ngày 8 và 22.

Làm hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Long Hưng bắc phạt[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Tông từ lâu đã nghe danh của tể tướng Trương Tuấn (Hiện là phán Kiến Khang phủ) nên rất muốn triệu dùng trở lại, bèn hạ chiếu mời Trương Tuấn vào cung. Sau khi nói chuyện, Hiếu Tông rất hài lòng.

Trương Tuấn nhân đó xin Hiếu Tông đừng trông mong ở nghị hòa mà hãy tập trung đánh Kim, khôi phục lại đất đai Trung Nguyên đã bị mất. Hiếu Tông gia phong Tuấn là Thiếu phó, tuyên phủ sứ Giang Hòa, tước Ngụy quốc công; thống lĩnh quân đội triều đình tiến lên giành lấy Trung Nguyên. Trong khi đó ở nước Kim, Tào Quốc công Ô Lộc lên ngôi, tức là Kim Thế Tông, đã bình định được người Liêu ở phía bắc. Kim chủ biết được triều Tống động binh, cũng sai Bộc Tán Trung Nghĩa cùng Ngột Thạch Liệt Chí Ninh đóng ở Hoài Dương chuẩn bị nam xâm. Trong lúc đó thì thầy cũ của Hiếu Tông là Sử Hạo lại tâu rằng triều đình nên lo ở phía tây, đông không qua khỏi Bảo Kê, bắc không qua khỏi Đức Thuận; nếu để quân ở xa Thục chính là làm mất Thục, vì thế triều đình rút bớt quân ở ba lộ Tần Phượng về giữ đất Thục, đồng nghĩa là bỏ hẳn Thiểm Tây. Xuyên Thiểm tuyên phủ sứ Ngu Doãn Văn cực lực can ngăn, cho rằng nếu muốn khôi phục thì phải bắt đầu từ Thiểm Tây, và nếu bỏ Thiểm thì Thục nguy, triều đình đẩy Doãn Văn ra Quỳ châu nhưng Hiếu Tông quyết định gọi Doãn Văn về[13]. Cuối cùng thì ba lộ Tần Phương, Hi Hà, Vĩnh Hưng và các châu quận vừa giành được đã bị người Kim cướp lại.

Hiếu Tông nhiệm dụng Sử Hạo làm Thượng thư Hữu bộc xạ, Đồng bình chương sự kiêm Khu mật viện. Khi triều đình bàn định về việc chống địch, đa số đại thần chủ chiến, duy Sử Hạo chủ hòa. Khi đó người Kim muốn có bốn châu Hải, Tứ, Đường, Đặng. Trương Tuấn vẫn quyết tâm chủ chiến, khuyên Hiếu Tông ra Kiến Khang, khích lệ quân sĩ, lại còn tâu xin đánh Hồng và Linh Bích, Hiếu Tông nghe theo. Sử Hạo lại lên tiếng phản bác, Hiếu Tông nói

Ngụy công có ý muốn khôi phục, còn trẫm cũng không mong được nghỉ ngơi.

Sau đó trao toàn bộ binh quyền ở Giang, Hoài cho Trương Tuấn. Trương Tuấn tự mình đốc chiến, đánh đến Hào châu, Tứ châu, Túc châu... cả Trung Nguyên chấn động[14]. Lúc này Sử Hạo mới hay việc triều đình thắng trận nên tỏ ra không vui, dâng sớ xin từ chức. Có thị ngự sử Vương Thập Bằng kể ra tám tội cuủa Sử Hạo khiến ông này bị đày đến Thiệu Hưng.

Sau trận thắng ở Túc châu, Hiếu Tông phong cho Lý Hiển Trung làm Hoài Nam, Kinh Đông, Hà Bắc chiêu thảo sứ, Hoành Uyên là phó. Nhưng về sau do Hiển Trung và Thiệu Hoành Uyên không thống nhất ý kiến, Hoành Uyên cho rằng quân giặc có tơi 20 vạn, không thể chống nổi nên rút quân, Hiển Trung bất đắc dĩ cũng phải lui. Đến Phù Li thì quan quân tan rã hết, bao nhiêu quân nhu, vũ khí triều đình tích góp đã lâu lại không còn. Trương Tuấn cũng dâng sớ tự trách. Hiếu Tông chẳng những không trách phạt mà còn ra sức động viên khích lệ[14]. Tháng 3 ÂL năm 1164, Tuấn cử Ngụy Thắng, Trần Mẫn, Thích Phương, Quách Chân chia nhau giữ ba châu Hải, Tứ, Hào và đất Lục Hợp, sửa sang quan ải, chiêu mộ tráng sĩ ở Hà Bắc, tổng cộng có được 24000 người, tăng số thuyền chiến, mài thêm nhiều đao thương, cung kiếm. Lúc bấy giờ người Trung Nguyên lũ lượt xin quy phục, tướng Kim là Tiêu Kì vốn gốc gác Khiết Đan cũng đem quân đến hàng, cả nước Kim chấn động.

Kí kết hòa nghị[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên vào lúc này triều đình bắt đầu nghĩ tới việc nghị hòa. Lễ toàn quan sứ Thang Tư Thoái cùng Hữu chính ngôn Doãn Sắc vốn phe cựu đảng của Tần Cối đã dâng sớ đàn hặc Trương Tuấn, khiến Hiếu Tông giáng Tuấn làm Đặc tiến Khu mật sứ, tuyên phủ Giang Hoài Nam Tây lộ; còn Thang Tư Thoái được phong Thượng thư Hữu bộc xạ kiêm Khu mật sứ.

Hột Thạch Liệt Chí Ninh lại gửi thư tới Tống đòi bốn châu Hải, Tứ, Đường, Đặng. Tư Thoái cùng bọn Triều Quỳ, Trương Xiển hùa nhau tâu rằng Đường, Đặng không phải nơi hiểm yếu, có thể bỏ qua. Hiếu Tông bắt đầu dao động. Ngu Doãn Văn năm lần dâng sớ tranh luận liền bị giáng chức. Hiếu Tông sau đó sai Lư Trọng Hiền sang Kim bàn về hòa nghị, bảo Trọng Hiền không được cắt bốn châu và phải xin giảm tiền triều cống. Nhưng Trọng Hiền lại bị Bộc Tán Trung Nghĩa hù dọa khiến Trọng Hiền lo sợ không dám làm gì. Bộc Tán Trung Nghĩa còn yêu cầu triều Tống giao trả những người phản bội đầu hàng, cắt bốn châu và để nguyên tiền triều cống. Hiếu Tông cảm thấy hối hận vì đã cử Trọng Hiền đi sứ, bèn giáng chức đày ra Liễu châu. Thang Tư Thoái bèn cử Vương Chi VọngLong Đại Uyên đi sứ, căn dặn là hãy đồng ý cắt đất chỉ xin giảm tiền triều cống. Nhưng Hữu chính ngôn Trần Lượng Hàn tâu rằng cần phải bàn kĩ trước, triều đình mới lệnh Chi Vọng chờ ở ngoài biên giới. Lúc này Ngu Doãn Văn, Hồ Thuyên, Diên an Trung, Chu Hi đều dâng sớ phản đối hòa nghị và bị giáng chức, Hồ Phỏng thì bị người Kim giữ lại về sau mới thả. Hiếu Tông được tin thất kinh nên triệu Vương Chi Vọng về triều, lệnh Trương Tuấn tăng cường phòng bị.

Sang năm 1164 chiến sự vẫn tiếp diễn. Sau đó Hiếu Tông nghe theo lời Thang Tư thoái sai Đoan Lễ và Vương Chi Vọng đến chỗ Trương Tuấn, khuyên ông bãi binh. Sau đó Hiếu Tông hạ chiếu triệu Trương Tuấn vào triều, bãi bỏ phủ đô đốc Giang Hoài, chuẩn bị cho hòa nghị. Trương Tuấn thất vọng, khi đến Bình Giang thì dâng sớ xin nghỉ, đây là lần xin nghỉ thứ tám, Hiếu Tông bèn bãi chức tể tướng của Tuấn nhưng vẫn cảm kích lòng trung của ông, nên phong làm Thiếu sư, Bảo Tín quân tiết độ sứ, Phán Phúc châu. Lại lệnh triệu Ngu Doãn Văn về triều, lấy Hàn Trọng Thông thay thế và cho quân rút khỏi hai châu Đường, Đặng.

Tháng 8 ÂL năm này, Trương Tuấn mất. Thang Tư Thoái tiếp tục xúc tiến nghị hòa, xin cử Tông chánh thiếu khanh Ngụy Kỉ sang Kim. Hiếu Tông dặn Ngụy Kỉ phải kí minh ước rõ ràng, buộc triều Kim lui quân, giảm tiền triều cống và không được trả những người quy thuận. Ngụy Kỉ xin Hiếu Tông nếu người Kim đòi hỏi vô lý thì phải lập tức ra quân, Hiếu Tông bằng lòng.

Lúc đó có chiếu lệnh phong cho Vương Chi Vọng là Tham tri chính sự và dời Thang Tư Thoái là Đô đốc Giang Hoài. Tư Thoái sợ hãi, ra sức từ tạ, Hiếu Tông phong cho Dương Tồn Trung làm Đô đốc, Ngô Phi Tịnh làm Tham tán quân sự, bãi tuyên dụ ti. Nhưng lúc này thì quân Kim lại nam hạ. Bộc Tán Trung Nghĩa muốn lấy cả hai châu Thương, Tần, tiền triều cống là 20 vạn. Ngụy Kỉ bèn báo về triều. Hiếu Tông nghe lời Thang Tư Thoái, hứa cắt 4 châu, nộp 20 vạn tiền triều cống và lại sai Ngụy Kỉ sang Kim. Nhưng Bộc Tán Trung Nghĩa cũng chưa vừa ý, bèn cùng Hột Thạch Liệt Chí Ninh đem quân từ Thanh Hà tấn công Sở châu giết chết tướng Ngụy Thắng khiến Giang Hoài chấn động. Đô thống chế Lưu Bảo bỏ thành chạy trốn. Lấy được Sở châu, quân Kim đem quân đánh tiếp Hào châu, Trừ châu. Vương Ngạn ở Trừ châu co giò bỏ chạy, Trừ châu cũng mất[15]. Hiếu Tông bèn bãi chức đô đốc của Thang Tư Thoái, triệu Trần Khang Bá về kinh và định phong cho Vương Chi Vọng thống lĩnh quân ở Giang Hoài chống địch. Chi Vọng nhát gan không dám nên Hiếu Tông mới dùng Dương Tồn Trung. Dương Tồn Trung cố giữ vừng Lưỡng Hoài, truy cứu những tướng ở biên cương thiếu trách nhiệm dẫn đến việc thua trận. Tham tri chính sự Chu Quỳ kể tội Thang Tư Thoái, Vương Chi VọngDoãn Sắc rước giặc vào nhà, Tư Thoái bị đày đến Vĩnh Châu. Lại có Thái học sinh Trương Quan cùng hơn 70 người quỳ ở cửa khuyết xin chém đầu bọn Tư Thoái. Tư Thoái vừa đi đến Tín châu thì được tin này, lo sợ quá mà chết. Hiếu Tông lấy Trần Khang Bá làm Tả bộc xạ kiêm Xu mật sứ, Tiền Đoan Lễ làm Tham tri chính sự; bãi chức của Chu Quỳ, Doãn Sắc, Vương Chi Vọng... Lúc này quân Kim đã đánh bại quân của tướng Thôi Tuyền ở Lục Hợp. Triều đình sai Vương Biện đi sứ nước Kim dâng thư lên Kim Thế Tông bàn về việc hòa nghị, sau đó triệu Dương Tồn Trung về kinh, đổi làm Ninh Viễn, Chiêu Khánh tiết độ sứ; bãi Lưỡng Hoài tuyên phủ ti, Hồ Bắc Kinh Tây chế trí ti (1165). Tiền Đoan Lễ chủ trương nghị hòa nên ngầm lệnh các tướng không được tự ý tiến quân. Vương Biện sang Kim bàn bạc, cuối cùng Kim chủ chấp nhận nghị hòa, xưng chú cháu, gửi thư cho nhau, tiền triều cống mỗi thứ giảm 5 vạn, Tống cắt nhường cho Kim bốn châu Hải, Tứ, Đường, Đặng; những người ở miền bắc đã quy phục triều Tống được miễn truy xét.

Năm 1165, Ngụy Kỉ đã tới Kim và dâng thư của Hiếu Tông lên vua Kim, đầu thư viết: Chất Đại Tống hoàng đế Thận kính cẩn cúi đầu dâng thư lên chú là Đại Kim Thánh Minh Nhân Hiếu hoàng đế, khuyết hạ và hứa nạp tiền triều cống 20 vạn. Kim Thế Tông cũng gửi thư cho triều Tống, đầu thư viết: Thúc Đại Kim hoàng đế (vua chú, không ghi tên, không viết là kính cẩn cúi đầu) gửi thư đến chất là Đại Tống hoàng đế (không nói tôn hiệu, không đề khuyết hạ). Cách viết thư này trở thành thông lệ cho việc bang giao về sau giữa hai nước. Sau đó Kim chủ triệu Bộc Tán Trung Nghĩa về nước, chỉ giữ 60.000 quân canh giữ biên cương, còn Ngụy Kỉ trở về Tống phục mệnh. Từ đó, nam - bắc hòa hảo trong suốt hơn 40 năm, Trung Quốc bước vào một thời kì thái bình thịnh trị.

Chính sự những năm Càn Đạo (1165 - 1173)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 ÂL năm 1165, Hiếu Tông triều kiến Đức Thọ cung và đích thân đi theo thái thượng hoàng đế, hậu đến Tứ Thánh quan. Kẻ sĩ trong nước hết lời ca ngợi. Mấy hôm sau đó, tể tướng Trần Khang Bá mất[16]. Hiếu Tông đích thân ban mấy chữ tinh trung hiển đức chi bi viết lên mộ của Trần Khang Bá. Tháng 3 ÂL cùng năm ông phong cho Ngu Doãn Văn làm Tham tri chính sự, Doãn Văn cùng Vương Cương Trung được kiêm Đồng tri xu mật viện sự. Nhưng đến tháng 6 cùng năm Vương Cương Trung cũng chết, được ban thụy Trung Giản[17]. Hiếu Tông nghĩ tới việc lập tự. Người vợ đầu tiên của Hiếu Tông là Quách thị đã mất vào năm 1156, và bốn người con trai của Hiếu Tông đều do bà sinh ra. Khi lên ngôi, Hiếu Tông truy phong Quách thị làm Thành Mục hoàng hậu, và lập Hiền phi Hạ thị làm kế hậu. Hậu nguyên quán ở Nghi Xuân, trước làm tì nữ hầu hạ thái hoàng thái hậu Ngô thị, sau được ban cho Hiến Tông.

Cũng năm 1165, Hiếu Tông hạ chiếu lập Đặng vương Kì làm hoàng thái tử. Cuối năm này, sứ Kim là Hoàn Nhan Trọng đi sứ triều Tống buông ra lời lẽ bất kính, Ngu Doãn Văn bàn nên chém đi, nhưng triều thần không ai dám làm. Sau đó có việc Tiền Đoan Lễ nhận đồ hối lộ từ Lý Hoành, Ngự sử Chương Phục hặc tội Doãn Văn là người chuyển giao chiếc đai này, nên Hiếu Tông bãi chức Doãn Văn, bắt phải về quê. Hiếu Tông lại định dùng Tiền Đoan Lễ làm tể tướng, nhưng Thị ngự sử Đường Nghiêu Phong cho rằng Đoan Lễ là cha của thái tử phi Tiền thị, không tiện nắm giữ tướng vị, Đoan Lễ mang hận trong lòng; giáng Nghiêu Phong. Hiếu Tông thấy Đoan Lễ ngang ngược như vậy thì không hài lòng bèn cách chức, giáng làm Tư chính điện đại học sĩ, Vạn Thọ quan sứ. Đầu năm 1166, Hồng Thích được phong làm Thượng thư Hữu bộc xạ, Đồng bình chương sự, Xu mật sứ, nắm giữ tướng vị. Tuy nhiên chỉ chưa đầy nửa năm thì nhân có trời mưa to, đình thần bàn luận về Hồng Thích khiến Thích lại phải xin bãi chức. Hiếu Tông phong Ngụy Kỉ làm Tham tri chính sự; Lâm An Trạch làm đồng Tri khu mật viện sự kiêm Quyền tham tri chính sự, Phí Thiêm Thư làm Xu mật viện sự, Trần Tuấn Khanh làm Lại bộ thượng thư, đồng thời bãi chức của Xu mật sứ Uông Triệt, Tham tri chính sự Diệp Dung. Nhưng Lâm An Trạch do bị Hiếu Tông nghi ngờ có ăn hối lộ nên bị đày đến Quân châu không lâu sau đó. Sau đó Ngụy Kỉ được thăng làm Thượng thư Hữu bộc xạ Bình chương sự, Diệp Dung làm Thượng thư Tả bộc xạ. Tháng 11 ÂL năm đó, Hòa Nghĩa quận vương Dương Tồn Trung qua đời. Hiếu Tông cảm thấy thương xót, truy phong làm Hòa vương, thụy Vũ Cung.

Tháng 3 ÂL năm 1167, mẹ Hiếu Tông là Tú vương phi Trương thị qua đời[18]. Tháng sau, Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, tri Hưng Nguyên phủ Ngô Lân mất ở đất Thục, truy phong Lân là thái tư, tước Tín vương. Lại thấy Ngu Doãn Văn làm Tứ Xuyên tuyên phủ sứ thay cho Ngô Lân. Không lâu sau thì hoàng hậu Hạ thị mất, thụy An Cung hoàng hậu. Đến tháng 7 ÂL hoàng thái tử Triệu Kì bệnh nặng, rồi mất, thụy là Trang Văn thái tử. Về sau Diệp Dung, Ngụy Kỉ lại bị bãi chức, Tưởng Phất được phong làm Thượng thư hữu bộc xạ, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự kiêm Xu mật sứ kiêm chế quốc dụng. Nhưng ít lâu sau Tưởng Phất phải về quê chịu tang mẹ. Hiếu Tông lại dùng Trần Tuấn Khanh làm Thượng thư Tả bộc xạ, Ngu Doãn Văn làm Thượng thư hữu bộc xạ (1169), hai người kiêm Bình chương sự, Xu mật sứ; còn Vương Viêm thay Doãn Văn lo việc ở Tứ Xuyên.

Vào năm 1170, Lại bộ thượng thư Uông Ứng Thần vì việc can gián đã bị bãi chức[19]. Lúc đó thượng hoàng sống nhàn nhã ở cung Đức Thọ nên nghĩ đến những trò tiêu khiển, đã cho mở rất nhiều sở ứng phụng ở bên ngoài, lại dùng thuyền chuyển thủy ngân vào cung. Uông Ứng Thần cùng Viên Phu lên tiếng can gián và xin cấm chỉ. Hiếu Tông không dám trái ý thượng hoàng nên đã giáng Viên Phu làm Hộ bộ thị lang; đày Ứng Thần ra phủ Bình Giang. Vào giữa năm này, Ngu Doãn Văn định sai sứ sang Kim xin được dời sơn lăng ở Củng Lạc về nam, Trần Tuấn Khanh can là không nên. Hiếu Tông vốn tin tưởng Doãn Văn nên giáng chức Tuấn Khanh là Quan Văn điện đại học sĩ, tri Phúc châu. Trước đó vào năm Thiệu Hưng khi sứ Kim vào triều thì Tống đế phải đích thân bước xuống nhận thư rồi chuyển cho nội thị. Khi Hiếu Tông lên ngôi thì việc này có thay đổi, Hiếu Tông chỉ sai người ra nhận thư rồi mang vào triều. Khi tái kí hòa nghị thì lễ tiết lại như trước nên Hiếu Tông cảm thấy không vui. Nhân việc đi sứ lần này, ông sai Phạm Thành Đại đến Kim ngoài chuyện lăng tẩm cũng phải thuyết phục Kim Thế Tông cho bỏ qua lễ tiết như vậy. Tuy mục đích đi sứ không đạt hưng Hiếu Tông vẫn cho Thành Đại là người trung thành, nên rất tín nhiệm[20].

Năm 1171, Hiếu Tông và quần thần gia tôn hiệu cho thái thượng hoàng đế, thái thượng hoàng hậu. Từ sau khi Trang Văn thái tử qua đời, triều đình tranh nghị việc lập người kế vị. Theo lệ thì phải lập hoàng tử thứ 2 là Khánh vương Khải. Hiếu Tông thấy hoàng tử thứ 3 là Cung vương Đôn anh vũ giống mình, liền lập làm người kế vị, lại sợ Khánh vương Khải ở bên trong xảy ra tranh giành, nên đổi Khải là Ngụy vương, điều ra phủ Ninh Quốc rồi Minh châu (1174). Lúc này nhân sinh nhật Kim Thế Tông, triều đình lại sai Triệu Hùng sang Kim bàn việc lăng tẩm. Kim Thế Tông không cho và bảo triều Tống rước thi hài Khâm Tông về nam. Về nước, Hùng tấu rằng vua Kim anh minh sáng suốt, nước Kim đương thời thịnh trị, nước Tống khó mà đánh được. Lại lấy Tri cáp môn Trương Thuyết là Thiêm thư xu mật viện sự. Thuyết lại là em rể của thái thượng hoàng hậu, nên triều thần xôn xao bàn làm. Tả tư viên ngoại lang kiêm Thị giảng Trương Thức trách Ngu Doãn Văn mở đường cho cận tập chấp chính. Doãn Văn phải vào xin Hiếu Tông bảo lệnh, vì thế Trương Thuyết bị bãi làm An Viễn quân tiết độ sứ, Đề cử Vạn Thọ quan. Lúc này không thấy bên Tống hồi âm việc đưa linh cữu Khâm Tông về nam, nên vua Kim cho táng Khâm Tông ở Củng, Lạc theo lễ quan nhất phẩm.

Tháng 2 ÂL năm 1172, triều đình đổi Tả, hữu bộc xạ thành Tả, hữu thừa tướng, trong đó Ngu Doãn Văn làm Tả thừa tướng, Lương Khắc Gia làm Hữu thừa tướng[21] Tháng 4 ÂL cùng năm, ngự sử Tiêu Chi Mẫn đàn hặc Ngu Doãn Văn chuyên quyền, bất công, Doãn Văn dâng sớ xin tội. Thượng hoàng biết chuyện, khuyên Hiếu Tông không nên đuổi Doãn Văn, vì thế Hiếu Tông cho đuổi Tiêu Chi Mẫn, nhưng Doãn Văn cho Chi Mẫn là người chính trực nên giữ lại. Cùng năm này, Ngu Doãn Văn tiến cử Ngạn Dĩnh, Lâm Quang Triều, Vương Chất vào Gián viện đang thiếu người, nhưng Hiếu Tông không nghe mà dùng người của hạnh thần Tăng Địch đề cử làm Gián Nghị đại phu. Doãn Văn thất vọng, xin từ quan. Tháng 8 ÂL, Hiếu Tông chuyển Doãn Văn về Thục, phong Thiếu bảo, Vũ An quân tiết độ sứ, Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, tiến tước Ung quốc công, ban gia miếu tế khí.

Mùa đông năm 1173, Hữu thừa tướng Lương Khắc Gia do bất hòa với Trương Thuyết, xin bãi chức, được phong Quan Văn Điện đại học sĩ, tri Kiến Ninh. Hiếu Tông phong Tăng Hoài lên thay làm Hữu thừa tướng.

Chính sự thời kì Thuần Hi (1174 - 1189)[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1174, Ngu Doãn Văn chết ở đất Thục. Giữa năm này, tể tướng Tăng Hoài cũng bị thai quan đàn hặc và bị bãi chức nhưng nhanh chóng được phục chức tể tướng[22]. Cuối năm này Tăng Hoài lấy cớ bị bệnh, xin từ chức. Hiếu Tông bổ nhiệm Diệp Hành nắm quyền, nhưng sau ông này bị bãi chức vào năm 1175. Trong năm này, Lý Đảo bổ sung Tư trị thông giám trường biên chép việc từ những năm Trị Bình thứ 4 đến năm Nguyên Phù thời Tống Triết Tông.

Tháng 8 ÂL năm 1176, Hiếu Tông có chiếu lập Hiền phi Tạ thị làm kế hậu. Lúc bấy giờ trong triều không có tể tướng, Cung Mậu Lương mang danh Tham tri chính sự nhưng nắm quyền như tể tướng, về sau thấy Hiếu Tông triệu Sử Hạo về triều làm Thiếu bảo nên Mậu Lương xin lui, Hiếu Tông cố gắng khuyên giải, nói rằng chỉ triệu Hạo về việc Kinh diên, không phải là bổ dụng làm tướng. Nhưng tháng 6 ÂL năm đó Cung Mậu Lương bị bãi vì làm phật lòng Hiếu Tông[23]. Hiếu Tông dùng Vương Hoài làm Tham tri chính sự, nắm quyền tể tướng, cùng Triệu Hùng làm Đồng tri xu mật viện sự[24]. Đầu năm sau (1178, Nam Man xâm phạm biên giới, triều đình phái quân đánh dẹp và hàng phục được. Không lâu sau, Sử Hạo lại được bổ nhiệm lại làm Hữu thừa tướng, kiêm Xu mật sứ; Vương Hoài làm Xu mật viện sự, Triệu HùngPhạm Thành Đại làm Tham tri chính sự. Sau đó do bên ngoài có lời gièm pha nên Thành Đại bị bãi chức. Tháng 7 ÂL cùng năm, Lý Hiển Trung qua đời, được ban thụy là Trung Tương. Mùa đông năm đó Sử Hạo trí sĩ triều đình lấy Tiền Lương Thần làm Tham tri chính sự, dùng Triệu Hùng làm Hữu thừa tướng, Vương Hoài làm Xu mật sứ.

Mùa hạ năm 1179, trong nước có hạn hán, Hiếu Tông xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Lúc đó có đại thần Chu Hi dâng sớ xin Hiếu Tông giữ chính tâm, lập lại kỉ cương. Hiếu Tông tức giận, muốn xử phạt thật nặng. Nhưng có Triệu Hùng ra sức can ngăn nên Hiếu Tông đồng ý tha tội, dời Chu Hi đến Giang Tây, sau điều về Chiết Đông[25]. Năm 1181, Hữu thừa tướng Triệu Hùng cùng Tham tri chính sự Tiền Lương Thần bị bãi chức, Triệu Hùng bị giáng làm Quan Văn điện đại học sĩ, Tứ Xuyên chế trí sứ. Vào tháng 8 ÂL, Hiếu Tông phong Vương Hoài lên thay làm Hữu thừa tướng kiêm Xu mật sứ, Tạ Khoáng Nhiên làm Đồng tri Xu mật viện sự rồi Tham tri chính sự.

Năm 1182, Hiếu Tông sau đó lại phong cho Lý Ngạn Dĩnh lên làm Tham tri chính sự, nhưng sang năm sau thì Dĩnh bị bãi chức do có con phạm tội đánh chết người. Tháng 9 ÂL cùng năm, Vương Hoài được bổ nhiệm làm Tả thừa tướng, Lương Khắc Gia làm Hữu thừa tướng. Lúc đó Chu Hi làm quan ở Chiết rất được lòng dân. Hiếu Tông hài lòng, triệu về triều phong chức Binh bộ thị lang. Nhưng do Vương Hoài có hiềm khích với Chu Hi nên ra sức ngăn trở, gọi học thuyết của ông là Ngụy học. Sau này Đạo học của Chu Hi cũng bị cấm chỉ trong một thời gian khi Hàn Thác Trụ nắm quyền.

Đầu năm 1184, Lý Đảo đã hoàn thành bộ Tư trị thông giám trường biên, chép việc từ năm Tống Thái Tổ Kiến Long nguyên niên đến Tống Khâm Tông Tĩnh Khang thứ hai, tổng cộng gồm 98 quyển, tiếp nối Tư trị thông giám của Tư Mã Quang.

Năm 1187, Hiếu Tông dùng Chu Tất Đại làm Hữu thừa tướng, Lưu Chính làm Tham tri chính sự kiêm Đồng tri Xu mật viện sự[26]. Tháng 10 ÂL năm đó thái thượng hoàng không khỏe, Hiếu Tông không ra triều, đích thân chăm sóc và hạ lệnh xá trong ngoài. Mấy hôm sau thì Người băng hà, miếu hiệu là Cao Tông hoàng đế[27]. Hiếu Tông sau đó tôn thái thượng hoàng hậu Ngô thị làm hoàng thái hậu. Hiếu Tông đau buồn, bỏ ăn suốt hai ngày, lại muốn phục tang cho thượng hoàng trong ba năm (mặc dù thượng hoàng không phải cha ruột của Hiếu Tông). Tể tướng Vương Hoài dẫn việc Tấn Hiếu Vũ Đế, Ngụy Hiếu Văn Đế lúc trước đều nói phục tang mà không làm được để khuyên can, Hiếu Tông không nghe, sau đó hạ chiếu

Đại Hành thái thượng hoàng đế có công nuôi nấng, trẫm nguyện để tang ba năm.[26]

Đầu năm 1189, Hiếu Tông dùng Chu Tất Đại, Lưu Chính là Tả, Hữu thừa tướng[26]. Sau đó chuyển hoàng thái hậu sang cung Từ Phúc, đổi cung ấy là cung Nhân Thọ, lại đổi cung Đức Thọ thành cung Trùng Hoa. Hiếu Tông nói với hai tể tướng ý định truyền ngôi, bảo họ thảo chiếu. Ngày 18 tháng 2 năm 1189 (Nhâm Tuất), cử hành lễ nạp thiền. Hiếu Tông truyền ngôi cho thái tử Đôn, còn mình xưng là thái thượng hoàng đế, dời sang cung Trùng Hoa, vẫn mặc tang phục. Vua mới là Tống Quang Tông, tôn hiệu cho Hiếu Tông là Chí Tôn Thọ hoàng thánh đế[28], hoàng hậu là Thọ Thành hoàng hậu, hoàng thái hậu là Thọ Thánh hoàng thái hậu[26].

Làm thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Không lâu sau khi Quang Tông lên ngôi, Thọ hoàng hạ chiếu lập Nguyên phi Lý thị làm hoàng hậu. Lúc này Quang Tông cải nguyên là Thiệu Hi[26]; bãi chức Chu Tất Đại, dùng Lưu Chính là Tả thừa tướng, Vương Lận làm Khu mậy sứ, Cát Bật Tham tri chính sự, Hồ Tấn Thần giám thư Khu mật viện, việc triều chính vẫn ổn định như trước. Nhưng Lý hậu thực là một tay ghê gớm, áp chế Quang Tông, tiếm quyền triều chính, ngang ngược bất pháp.

Đầu năm Thiệu Hi nguyên niên (1190), Quang Tông triều yết cung Trùng Hoa, nhận sách bảo từ Thọ hoàng. Tháng 8 ÂL, Quang Tông lại suất quần thần đến cung Trùng Hoa dâng Thọ hoàng ngọc điệpnhật lịch[29]. Về sau Quang Tông muốn giết bọn hoạn giả, cận tập gần gũi với Lý hậu. Bọn nội thị hay được, liền tìm cách kêu xin với Lý hậu bảo toàn mạng sống cho mình. Quang Tông không làm gì được nên uất ức và sinh bệnh. Lũ nội thị lại nghĩ ra kế li gián tam cung. Lúc Quang Tông mắc bệnh, Thọ hoàng cho tìm ngự y chế ra ít thuốc định đợi lúc Quang Tông đến vấn an thì ban cho. Lũ nội thị chớp cơ hội gièm pha với Lý hậu nói thái thượng hoàng hợp biết bao nhiêu thuốc không tốt, xa giá mà đến cung Trùng Hoa thì ép phải uống, hoàng thượng uống vào có mệnh hệ gì thì tông xã ra sao? Lý hậu tin là thật nên tìm cách ngăn trở Quang Tông đến cung Trùng Hoa. Mùa đông năm 1191, Lý hậu nhân lúc có yến tiệc, hậu xin Quang Tông lập con trai mình là Gia vương Khoáng làm hoàng thái tử, rồi đích thân đến cung Trùng Hoa bẩm với Thọ hoàng. Thọ hoàng nghĩ đến việc trước kia bỏ qua con trưởng là Ngụy vương Khải để lập Quang Tông làm thái tử, nên nay muốn Quang Tông nhường ngôi lại cho con của Khải là Nghi vương Bính, nên không đồng ý lập Khoáng.

Thọ hoàng cảm thấy rất tức giận, chửi mắng Lý hậu. Lý hậu uất ức, về tâu với Quang Tông việc Thọ hoàng có ý phế lập[29]. Vì thế Quang Tông nghi hoặc và từ đó bỏ việc triều yết Thọ hoàng. Về sau do Lý hậu áp bức lâu ngày, Quang Tông bực bội sinh bệnh không lên triều. Lý hậu nhân đó tìm cách khống chế triều chính, độc đoán độc hành, hoang đường bất pháp. Về phần Thọ hoàng nghe tin Quang Tông có bệnh vội đến thăm; thấy hoàng hậu thì tức giận mắng nhiếc Lý hậu khiến hậu đã hận lại càng thêm hận[29].

Tháng 3 ÂL năm sau (1192), Quang Tông đỡ bệnh, lên triều nghe chính. Trước kia vào mỗi dịp lễ tết đều thiết triều ở cung Trùng Hoa, nhưng vì Quang Tông ốm đau nên Thọ hoàng cho miễn. Đến đây quần thần lại xin thiết triều ở đó, Quang Tông không theo. Thấy thế, bách quan lại quỳ trước cửa cung kêu xin, Quang Tông mới miễn cưỡng chấp nhận; đến triều yết cung Trùng Hoa vào tháng 4 ÂL. Tháng 10 ÂL, Quang Tông lại một lần nữa đến chỗ Thọ hoàng tiến hương; nhưng sau đó thì nội thị Trần Nguyên do trước kia bị Thọ hoàng đuổi đi đã sinh oán hận, liền tìm cách li gián hai cung. Cho nên dù bệnh đã khỏi mà Quang Tông cũng không đến thỉnh an Thọ hoàng. Tháng 11 ÂL ngày Bính Tuất, thừa tướng Lưu Chính suất bách quan đến cung Trùng Hoa chúc mừng Thọ hoàng nhưng Quang Tông không có mặt. Nhiều đại thần lên tiếng khuyên can Quang Tông cũng không theo. Lại bộ thượng thư Triệu Nhữ Ngu bày tỏ thái độ giữa triều, Quang Tông mới tỏ ra tỉnh ngộ. Ngày Tân Mão, Quang Tông cùng Lý hậu đến triều yết cung Trùng Hoa và trò chuyện cùng thọ hoàng suốt buổi; nhân sĩ nghe tin, hết thảy đều mừng rỡ[29]. Ngày Quý Mão tháng 12 ÂL, Đế lại suất quần thần đến cung Trùng Hoa dâng Thọ hoàng ngọc điệpThánh chánh hội yếu.

Tết Nguyên đán năm Thiệu Hi thứ tư (1193), Quang Tông cùng Lý hậu đến cung Trùng Hoa và ở đến tận cuối xuân. Sau đó lại cùng Thọ hoàng và Thọ Thành hoàng hậu đi chơi ở vườn Ngọc Tân. Đến tháng 9 ÂL, nhân tiết Trọng Minh và cũng là ngày sinh Quang Tông, trăm quan xin về cung Trùng Hoa, Quang Tông không đồng ý. Cấp sự trung Tạ Thâm Phủ dâng sớ nói

Tình cảm cha con là do trời định. Thái thượng yêu thương Bệ hạ chẳng khác chi Bệ hạ yêu thương Gia vương. Nay thái thượng tuổi đã cao, sau này Người thiên thu vạn tuế rồi, Bệ hạ biết nhìn thiên hạ như thế nào đây?[30]

Quang Tông thấy phải. Ngày Giáp Thân, mệnh bách quan theo mình đến triều yết Thọ hoàng, nhưng rốt cục bị Lý hậu cản trở. Tháng 10 ÂL, Bí thư tỉnh lại dâng sớ cầu xin và cũng không được hồi đáp. Thọ hoàng khi đó ở trong cung rất muốn gặp Quang Tông. Vào dịp Khánh tiết, đáng lí Quang Tông phải đến chúc mừng Thọ hoàng nhưng lại không đến, chỉ có Cát Bật suất trăm quan chúc mừng mà thôi. Gia vương phủ dực thiện Hoàng Thường, bí thư lang Bành Quy Niên xin đế triều yết cung Trùng Hoa và đuổi bọn nội thị Dương Thuấn Khanh, Trần Nguyên; Quang Tông cũng chả để ý[30]. Ngày Canh Thân, Quang Tông lại xưng bệnh không chịu gặp Thọ hoàng. Từ tể tướng trở xuống đều dâng sớ tự trách[30]. Mãi đến Tết nguyên đán năm sau (1194), Quang Tông mới chịu đến cung Trùng Hoa và cung Từ Phúc chúc thọ, và đây là lần cuối cùng Thọ hoàng gặp Quang Tông. Ngày Quý Dậu tháng 1 ÂL, Thọ hoàng bắt đầu cảm thấy không khỏe. Sang tháng 4 ÂL, bệnh tình đã trở nặng mà không thấy Quang Tông đến thăm. Quần thần nhiều lần liên danh cầu xin cũng chẳng ăn thua, sau đó Quang Tông còn cùng Lý hậu đi chơi vườn Ngọc Tân mặc cho thượng hoàng sống chết thế nào[30]. Binh bộ thượng thư La Điểm xin về cung Trùng Hoa, Trung thư xá nhân Bành Quy Niên dập đầu cầu xin đến chảy máu, Quang Tông vẫn không theo. Về sau quần thần lại liên danh cầu xin, Quang Tông mới chấp nhận nhưng cuối cùng lại không đi. Tháng 5 ÂL, Thọ hoàng bệnh tình nguy kịch, rất muốn gặp Quang Tông, đã sai tả hữu đến triệu nhiều lần. Lưu Chính dẫn đầu trăm quan cầu xin, Quang Tông phất tay áo bỏ đi vào trong cung. Hai hôm sau Lưu Chính lại cầu xin cũng không được, bèn cùng trăm quan ra Chiết Giang đình chờ tội, Quang Tông chẳng thèm để ý. Thọ hoàng được tin, triệu Hàn Thác Trụ (cháu rể của thái hậu) vào hỏi chuyện và đồng ý cho Thác Trụ ra triệu mọi người vào thành[30]. Cuối cùng La Điểm, Bành Quy Niên, Hoàng Thường... thuyết phục được Quang Tông cử Gia vương Khoáng đến thăm hỏi Thọ hoàng. Vương đến nơi, Thọ hoàng tỏ ra xúc động, nước mắt chảy dài.

Đêm Mậu Tuất tháng 6 ÂL năm Thiệu Hi thứ 5 (28 tháng 6 năm 1194), Thọ hoàng mất ở cung Trùng Hoa. Di chiếu đổi cung Trùng Hoa thành cung Từ Phúc cho thái hậu ở, xây cung khác cho Thọ Thành hoàng hậu; và đem 100 vạn mân tiền ban cho quân lính trong ngoài[30]. Hiếu Tông ở ngôi 27 năm, làm thượng hoàng 5 năm, thọ 68 tuổi.

Lưu Chính, Triệu Nhữ Ngu liên danh mời Quang Tông đến cung Trùng Hoa chịu tang. Quang Tông không nghe. Các đại thần lấy cớ đó ép Quang Tông thoái vị, đưa Gia vương Khoáng lên ngôi, tức là Tống Ninh Tông[30].

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách Thoát Thoát có lời nhận xét về Hiếu Tông như sau

Cao Tông lấy cái tâm công thiên hạ, chọn hậu duệ của Thái Tổ là tự, được một người hiền tài, thông minh anh nghị. Có thể coi Hiếu Tông là người giỏi nhất trong các hoàng đế kể từ khi triều Tống dời về nam. Lúc mới tức vị, ông lập chí khôi phục, nhưng biến loạn ở Phù Li làm việc trung hưng gặp bất lợi, lại nghe theo ý của Cao Tông nên không khinh suất ra khỏi kinh sư; sau đó là Kim Thế Tông được lập, Bắc triều bình trị không còn có thể dùng binh được nữa. Tuy nhiên triều Tống cũng có thể lập lại quan hệ bình đẳng với Bắc triều, biểu được đổi xưng là thư, thần có thể đổi là chất, tiền thuế mỗi năm được giảm, mà người Kim cũng phải bỏ tham vọng thôn tính miền nam; nam bắc từ đó kết minh. Về sau Kim Thế Tông mỗi lần cùng quần thần bàn bạc việc biên bị đều nói rằng: Ta sợ ảnh hưởng đến hòa ước với người Tống, tức là coi trọng cái sự kết minh này. Cái ý dụng binh của đế tuy không thành công nhưng cuối cùng cũng yên. Từ cổ đại, thiên tử từ nhánh bên ngoài kế nhập đại thống được mấy ai có lòng chí hiếu với triều trước, mà đế chính là một trong số đó. Thời đó phụ tử như Cao Tông với Hiếu Tông cùng trường thọ cũng không phải là ngẫu nhiên. Phục tang ba năm, bỏ qua lời lo ngại của quần thần mà gắng sức thực hiện việc đó. Trong miếu hiệu các hoàng đế triều Tống, có Nhân Tông là nhân, Hiếu Tông là hiếu, quả thực không sai.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời trị vì 27 năm của mình, ông sử dụng ba niên hiệu như sau:

  • Long Hưng (隆興, 1163 - 1164)
  • Càn Đạo (乾道, 1165 - 1173)
  • Thuần Hy (淳熙, 1174 - 1189)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha mẹ:
  • Vợ:
    • Thành Mục hoàng hậu Quách thị (成穆皇后 郭氏, 1126 - 1156), người Tường Phù, Khai Phong. Mới đầu truy phong làm Thục Quốc phu nhân (淑國夫人), Phúc Quốc phu nhân (福國夫人). Sau khi Hiếu Tông đăng cơ, truy tặng làm Cung Hoài hoàng hậu (恭怀皇后), sau đó mới đổi như hiện tại.
    • Thành Cung hoàng hậu Hạ thị (成恭皇后 夏氏, ? - 1167), người Nghi Xuân, Viên Châu. Gia cảnh bần cùng, là cung nữ của Hiến Thánh Ngô thái hậu. Sau khi Quách phu nhân qua đời, Thái hậu phong Hạ thị làm Tề An quận phu nhân (齊安郡夫人). Khi Hiếu Tông đăng cơ, tấn phong Hiền phi (賢妃), không lâu sau lập làm Hoàng hậu. Vì đăng ngôi hoàng hậu, cả nhà Hạ thị được mười mấy người thụ quan, bổng chốc hiển quý.
    • Thành Túc hoàng hậu (成肅皇后, 1132 - 1203), tên là Tạ Tô Phương (謝苏芳), người Đan Dương. Tạ thị vốn mồ côi, được nhà họ Địch (翟) nuôi dưỡng, sau đó tuyển cung thì đổi lại thành họ Tạ. Ban đầu là cung nữ của Hiến Thánh Ngô thái hậu, sau được phong làm Hàm An quận phu nhân (咸安郡夫人). Hiếu Tông đăng cơ, tấn phong làm Uyển dung (婉容), rồi Quý phi (貴妃). Tạ quý phi cần kiệm, y phục đều tự may mặc, Hiếu Tông rất yêu thích. Khi Hạ hoàng hậu tạ thế, tấn phong làm Hoàng hậu. Khi Tống Quang Tông đăng cơ, bà được tôn làm Huệ Từ hoàng thái hậu (惠慈皇太后), thời Tống Ninh Tông là Từ Hựu thái hoàng thái hậu (慈佑太皇太后).
    • Sái quý phi (蔡贵妃, ? - 1185), ban đầu nhập cung là Hồng hà bí (紅霞帔), phong làm Hòa Nghĩa quận phu nhân (和義郡夫人), tấn phong Uyển dung. Mùa đông năm 1183, được tấn phong làm Quý phi. Cha đẻ là Sái Bàng (蔡滂), quan sát sử Nghi Xuân.
    • Lý hiền phi (李贤妃, ? - 1183), mới nhập cung là Điển tự (典字), chuyển thành Thông Nghĩa quận phu nhân (通義郡夫人), tấn phong Tiệp dư (婕妤). Khi mất thì truy tặng Hiền phi.
  • Con cái: Đều do Thành Mục hoàng hậu sinh.
    • Trang Văn thái tử Triệu Thực (赵愭, ? - 1167).
    • Ngụy Huệ Hiến vương Triệu Khải (趙愷).
    • Tống Quang Tông Triệu Đôn (趙惇).
    • Thiệu Điệu Túc vương Triệu Khác (趙恪).
    • Gia quốc công chúa (嘉國公主), mất năm Thiệu Hưng thứ 32 (1162).
    • Công chúa thứ 2 sinh được 5 tháng thì chết.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đổi thành Viện tháng 3 năm 1133 khi nhập cung.
  2. ^ Đổi tháng 4 năm 1160.
  3. ^ Đổi tháng 7 năm 1162.
  4. ^ Đây là thụy hiệu cuối cùng đặt năm 1197.
  5. ^ a ă â b c d đ Tống sử, quyển 33.
  6. ^ Academia Sinica - Chuyển hoán Trung Tây lịch.
  7. ^ Tống sử, quyển 246
  8. ^ Vị Nam, Thiểm Tây, Trung Quốc hiện nay
  9. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 125
  10. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 130
  11. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 134
  12. ^ Ban đầu Cao Tông định đổi tên ông là Diệp, nhưng Chu Tất Đại cho rằng tên này trùng với Đường Chiêu Tông Lý Diệp nên cuối cùng đổi là Thận
  13. ^ Tống sử, quyển 383
  14. ^ a ă Tục tư trị thông giám, quyển 138.
  15. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 139.
  16. ^ Tống sử, quyển 384
  17. ^ Tống sử, quyển 386
  18. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 140.
  19. ^ Tống sử, quyển 387
  20. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 142
  21. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 143.
  22. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 144
  23. ^ Tống sử, quyển 385
  24. ^ Tục tư trị thông giám, quyển 146.
  25. ^ Tống sử, quyển 429
  26. ^ a ă â b c Tục tư trị thông giám, quyển 151.
  27. ^ Tống sử, quyển 32
  28. ^ Vì thế sau khi nhường ngôi, Hiếu Tông còn được gọi là Thọ hoàng, danh xưng này phổ biến hơn là thượng hoàng
  29. ^ a ă â b Tục tư trị thông giám, quyển 152.
  30. ^ a ă â b c d đ Tục tư trị thông giám, quyển 153.