Tổ tôm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tổ tôm là một trò chơi bài lá dân gian phổ biến của người dân Việt Nam, hiện nay chỉ thấy được chơi ở Việt Nam). Tên gọi của trò chơi được đọc chệch ra từ chữ "Tụ tam" nghĩa là hội tụ của ba lại hàng Văn, Vạn và Sách. Trong các ngày lễ, Tết, Tổ tôm thường được nam giới và người già chơi vì nó có một số luật khá khó, nhiều nước biến hoá, thanh niên và phụ nữ thời xưa ít chơi. Tổ tôm không phổ biến và bình dân bằng trò chơi Tam cúc. Do Tổ tôm khá khó nên người xưa có câu ca dao đề cao Tổ tôm, nó thể hiện trình độ và cái oai phong của bậc quân tử:

Làm trai biết đánh Tổ tôm
Uống chè mạn hảo xem nôm Thuý Kiều

Cũng có tài liệu nói rằng Tổ tôm xuất phát từ Nhật Bản do các hình vẽ đều là hình vẽ theo kiểu của Nhật, theo lối tranh mộc bản (mokuhan) đơn giản và tất cả các nhân vật đều mặc kimono thời Edo (trước khi Nhật hoàng Minh Trị lên ngôi và trị vì 1868-1912), trong số này có 18 hình đàn ông (có 8 người bó chân), 4 hình phụ nữ và 4 hình trẻ em. Các hình cá chép, trái đào, thành, thuyền cũng là những hình ảnh rất Nhật[1].[2]

Quân bài[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tôm

Bài Tổ tôm có 120 quân, gồm có 3 hàng Vạn (萬), Văn (文), Sách (索). Các hàng quân này được viết bằng chữ Nho và cách nhận biết 3 hàng quân này theo câu "Vạn vuông, Văn chéo, Sách loằng ngoằng". Bên phải các quân bài có chữ số từ Nhất đến Cửu. Loại quân đặc biệt có tên gọi là Thang Thang, Lão và Chi Chi. Các quân bài đều có hình minh họa, có thể ghi nhớ bằng hình nếu như không thuộc được hết chữ Nho. Bài Tổ tôm cũng được làm bằng bìa, mặt sau giống hệt nhau để tránh lộ bài.

Các khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ tôm điếm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài ù phải có lưng các lá còn lại năm trong các bí trừ các lá yêu

  • Lưng:
  1. -Thiên khai
  2. -Khàn (có 3 lá giống nhau)
  3. -Phỗng (bài có ba lá phỗng thêm 1 lá giống như chíu trong đánh chắn)
  4. -các tụ tam sau
<nhất vạn + nhất sách + cửu văn>
<Thang thang + ông lão + cửu sách>
<cửu vạn + cửu sách + thang thang> (ở đây phải là cửu vạn chứ: cửu vạn + cửu sách + thang thang)
<tam vạn + tam sách + thất văn>
<cửu vạn + bát sách + chi chi>
<nhị vạn + nhị sách + bát văn>
<nhất văn + nhị văn + tam văn>
  • Bí:
  1. -bí tam - giống như phỏm trong "tá lả"
tứ văn + tứ vạn + tứ sách
tứ văn + ngữ văn + lục văn
  1. tương tự có bí tứ, bí ngũ...

Tài bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Tài bàn gồm ba người chơi, đánh như Tổ tôm tuy nhiên trong tài bàn không bị bó buộc nhiều về cách ăn, cách đánh (như ăn một đánh hai thì được phép hoặc đánh phu dưới chiếu...). Một bài ù được trong tài bàn phải đủ ít nhất 9 lưng, tùy bài có khàn hay không có khàn thì quy ra cước, trong tài bàn chỉ có 3 cước ù là ù xuông, ù tài bàn và ù sửu bàn.

Trong tài bàn người ta quy định một số cây gọi là "tài"

  • Nhị, cửu văn
  • Tứ, thất sách
  • Ngũ, bát vạn.

Các cây tài này cùng với các cây "yêu" một phỗng được 2 lưng, một khàn thì có 6 lưng, một chíu hoặc thiên khai có 12 lưng. Các cây còn lại 1 phỗng có 1 lưng, 1 khàn có 3 lưng, và chíu hoặc thiên khai có 6 lưng. Ngoài ra các phu tính 1 lưng như của Tổ tôm như nhị vạn nhị sách bát văn, thang thang ông lão cửu sách...

  • Trong tài bàn không có cước tôm lèo..
  • Ù tài bàn khi người ù có 14 lưng trở lên
  • Ù sửu bàn khi không có khàn mà ù được.

Thông thường ù sửu bàn có cước to hơn ù tài bàn.

  • Các trường hợp còn lại thì ù xuông, nhỏ nhất.

Cách tính cước tùy người chơi.

Vì thế, đánh tài bàn là cách học "nhập môn" trước khi chơi được Tổ tôm cũng vì lẽ đó.

Đánh chắn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem mục Chắn

Các từ ngữ tiếng lóng liên quan đến Tổ tôm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gàn bát sách
  • Cửu vạn
  • Thất sách
  • Phỗng mất
  • Hoa rơi cửa Phật
  • Hợp cạ
  • Tròn bài

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ Nguyễn Khuyến có nhắc đến Tổ tôm trong bài "Tự trào":

...Mở miệng nói ra gàn bát Sách
Mềm môi chén mãi tít cung Thang
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng

Còn nhà thơ Trần Tế Xương cũng có đề cập đến trò chơi này:

Bực chăng nhẽ anh hùng khi vị ngộ
Như lúc đen chơi cuộc Tổ tôm

Riêng nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã viết cả một bài thơ, câu nào cũng có tên một quân bài Tổ tôm, theo tương truyền là để khất nợ:

Thân "bát văn" tôi đã xác vờ.
Trong nhà còn biết "bán chi" giờ?
Của trời cũng muốn "không thang" bắc,
Lộc thánh còn mong "lục sách" chờ.
Thiên tử "nhất văn" rồi chẳng thiếu.
Nhân sinh "tam vạn" hãy còn thừa.
Đã không "nhất sách" kêu chi nữa?
"Ông lão" tha cho cũng được nhờ!

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tương Quan Văn Hóa Việt - Nhật
  2. ^ Nguyễn Lưu. Tổ tôm, thú chơi tao nhã. Nhà xuất bản Thê dục thể thao, năm 2007.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]