Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TGP. Thành phố Hồ Chí Minh
Archidioecesis Hochiminhopolitanus
Huy hiệu Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc.png
Địa giới Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Giám mục Giám mục chính tòa.png
Tổng giám mục Tổng giám mục.png Pallium.png Phaolô Bùi Văn Đọc
Giám mục phụ tá Giám mục phụ tá.png Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn
Tòa giám mục 180 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3
Trực thuộc Giáo tỉnh Sài Gòn
Linh mục đoàn 313 (triều), 292 (dòng) (2008)
Tổng giám mục danh dự Giám mục trống tòa.png Mũ hồng y.png Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Số giáo xứ
Số giáo dân
Website http://tgpsaigon.net/ (tiếng Việt)
http://saigonarchdiocese.net/ (tiếng Anh)

Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Latinh: Archidioecesis Hochiminhopolitanus[1]) là một tổng giáo phận Công giáoViệt Nam. Đây là tổng giáo phận có lịch sử lâu đời và vị trí đặc biệt trong Công giáo tại Việt Nam. Tổng giám mục của tổng giáo phận hiện nay là Phaolô Bùi Văn Đọc, ông nhậm chức từ năm 2014 kế nhiệm Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn nghỉ hưu;[2]nhà thờ chính tòaNhà thờ Đức Bà Sài Gòn, tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, trợ giúp cho Tổng giám mục Đọc có giám mục phụ tá Giuse Đỗ Mạnh Hùng (từ 2016).

Hiện tại, địa giới của nó là phần lớn Thành phố Hồ Chí Minh (ngoại trừ huyện Củ Chi), và có số lượng giáo dân đông thứ nhì cả nước, sau giáo phận Xuân Lộc.

Từ khi được thành lập vào năm 1844 đến nay, tổng giáo phận này trải qua các tên gọi: Giáo phận Tây Đàng Trong (1844 - 1924) [3][4][5] Giáo phận Sài Gòn (1924 - 1960), rồi Tổng giáo phận Sài Gòn (1960 - 1976) [3][6][7] Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (1976 - nay).[3]

Năm 2014, Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 684.000 giáo dân (chiếm 9.2%), 724 linh mục.[8][9].

Giáo dân Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng Giáo phận Hà Nội trong năm 2006 đã thành lập một tổ chức để giúp đỡ trẻ em ở các khu vực nông thôn và kém phát triển của Việt Nam[10].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh Công giáo trong vùng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3.

Lịch sử Công giáo tại Việt Nam ghi nhận rằng, một nhà thừa sai truyền giáo tên là Inêkhu đã đặt chân đến vùng đất Bùi Chu của lãnh thổ Việt Nam vào năm 1533, khi đó là Nhà Lê trung hưng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vào năm 1550, cũng có nhà thừa sai thuộc Dòng Đa Minhlinh mục Juan de la Cruz đặt chân đến vùng đất Hà Tiên ngày nay (khi ấy còn thuộc Đế quốc Khmer). Đến năm 1585, những linh mục thuộc dòng Phanxicô đã có mặt trên vùng đất mà ngày nay là Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là ở khu vực Chợ Quán. Cũng trong giai đoạn này, Chúa Nguyễn đã kiểm soát được phần lãnh thổ phía Nam sông Gianh, gọi là Đàng Trong. Từ năm 1641 đến 1645, khi chúa Nguyễn ra chỉ dụ cấm đạo Công giáo thì một số giáo dân từ miền Trung Việt Nam di tản vào miền Nam để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Họ hợp thành những cộng đoàn tín hữu Công giáo đầu tiên ở miền Nam, và tập trung quanh khu vực Sài Gòn ngày nay như tại Chợ Quán, Gia Định, Lái Thiêu, Bến Gỗ, và Long Thành.

Giáo phận Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1624, nhà thừa sai thuộc Dòng TênAlexandre de Rhodes (tên Việt là Đắc Lộ) cũng đến Đàng Trong. Sau khi nỗ lực truyền đạo và quan sát được tình hình, vào năm 1659, ông đã vận động Thánh Bộ Truyền giáo của Tòa Thánh xin Giáo hoàng Alexanđê VII thành lập hai giáo phận Tông Tòa là Đàng Ngoài và Đàng Trong (vùng đất thành phố Hồ Chí Minh ngày nay được coi là "hạt nhân" của Giáo phận Đàng Trong rộng lớn lúc đó). Đến năm 1698, Sài Gòn chính thức được thành lập như một đơn vị hành chính thuộc quyền Nhà Nguyễn (Việt Nam) thì vùng đất này thu hút thêm nhiều giáo dân Công giáo đến sinh sống. Sang thế kỷ 18, các tu sĩ Dòng Phanxicô hiện diện nhiều hơn ở vùng này, thậm chí họ còn mở mang đến các vùng xa hơn như Mỹ ThoHà Tiên. Vào năm 1747, tổng số giáo dân ở đây khoảng 5.500 người.

Giáo phận Tây Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 5 năm 1844, Giáo hoàng Grêgôriô XVI quyết định phân chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới là: Đông Đàng Trong (với Quy Nhơn làm trung tâm) và Tây Đàng Trong (với Sài Gòn là trung tâm, sáp nhập thêm cả Campuchia vào đó). Ông cũng bổ nhiệm Giám mục Dominique Lefèbvre (tên Việt là Ngãi; sinh: 1844, mất 1864) làm Đại diện Tông Tòa đầu tiên cai quản Giáo phận Tây Đàng Trong. Giáo phận Tây Đàng Trong khi đó có lãnh thổ bao gồm Nam Kỳ Lục tỉnh và cả Campuchia ngày nay, với khoảng 23.000 giáo dân. Đến năm 1850, tỉnh An GiangHà Tiên cùng lãnh thổ Campuchia tách ra khỏi Giáo phận Tây Đàng Trong để thành lập nên Giáo phận Nam Vang. Lúc này, địa giới của Giáo phận Tây Đàng Trong chỉ còn bốn tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định TườngVĩnh Long, được chia làm 12 giáo hạt: Ðất Ðỏ, Tân Triều, Lái Thiêu, Thủ Ðức, Thị Nghè, Chợ Lớn, Thủ Ngữ, Xoài Mít, Cái Nhum, Cái Mơm, Bãi San và Ðầm Nước[11].

Khi đã được ổn định, Giám mục Lefèbvre Ngãi thiết lập các cơ sở Công giáo tại giáo phận như: Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán (1852), mời Dòng Thánh Phaolô thành Chatres đến (1860), mời Dòng Cát Minh nữ đến (1861), xây Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn ở vị trí hiện nay, thành lập họ đạo Sài Gòn. Các giám mục kế nhiệm ông là Miche (tên Việt: Mịch) cũng đã mời Dòng La San đến mở trường Công giáo và Colombert (tên Việt: Mỹ) xây dựng nhà thờ chính tòa năm 1877.

Giáo phận Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Đức Mẹ Hòa bình và hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà.

Ngày 3 tháng 12 năm 1924, giáo phận tông tòa Tây Ðàng Trong được đổi tên thành giáo phận tông tòa Sài Gòn (không điều chỉnh địa giới), và giám mục cai quản là Isidore Marie Dumortier (tên Việt: Ðượm) thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP). Đến ngày 8 tháng 1 năm 1938, Giáo phận Sài Gòn lại tách một phần đất của mình để thành lập Giáo phận Vĩnh Long (gồm tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Ðéc) và một phần tỉnh Cần Thơ).

Đến năm 1954 xảy ra cuộc di cư vào Nam, phần lớn giáo dân Công giáo di cư tìm đến định cư ở Giáo phận Sài Gòn khiến cho số lượng giáo dân của nó tăng vọt. Năm 1955, Linh mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền được tấn phong làm giám mục cai quản Giáo phận Sài Gòn, thay thế cho Giám mục Cassaige (tên Việt: Sanh).

Tổng giáo phận Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam với ba giáo tỉnh: Hà Nội, HuếSài Gòn. Giáo phận Sài Gòn vì có vị thế quan trọng về tôn giáo lẫn chính trị ở miền Nam Việt Nam nên được nâng cấp thành tổng giáo phận Sài Gòn ngay trong dịp này và trở thành trung tâm của Giáo tỉnh Sài Gòn. Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình nhậm chức tổng giáo mục Sài Gòn vào ngày 2 tháng 4 năm 1961 thay cho Giám mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền. Năm 1963, giáo phận Sài Gòn đã có gần 567.455 giáo dân với 583 linh mục triều, 25 linh mục dòng, 503 nam tu, gần 2000 nữ tu với 263 giáo xứ và 284 giáo họ. Năm 1965, Tòa Thánh tách đất từ tổng giáo phận Sài Gòn để thành lập giáo phận Phú Cườnggiáo phận Xuân Lộc.

Năm 1965, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm làm Giám mục phụ tá cho giáo phận.

Năm 1974, Tòa Thánh chọn linh mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi làm Giám mục phụ tá cho Tổng giám mục Bình, nhưng sau đó lại rời đi năm 1975 làm Giám quản Tân Giáo phận Phan Thiết.

Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, giám mục Giáo phận Nha Trang về làm tổng giám mục phó của tổng giáo phận Sài Gòn (với quyền kế vị). Tuy nhiên, vài ngày sau đó xảy ra Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 khiến ông không thể về Sài Gòn nhậm chức.

Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23 tháng 11 năm 1976, Tòa Thánh đồng ý đổi tên tổng giáo phận Sài Gòn thành Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh như tên hành chính.

Ngày 2 tháng 10 năm 1976, Giám mục Phụ tá Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm qua đời, thọ 74 tuổi, ông đã là Giám mục phụ tá cho giáo phận hơn mười năm.

Năm 1977, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Louis Phạm Văn Nẫm làm Giám mục phụ tá, thay thế Giám mục Khâm qua đời trước đó.

Năm 1993, vì sức khỏe bị hạn chế, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình không thể thực hiện mục vụ nên Tòa Thánh bổ nhiệm Nguyên Giám mục Phụ tá - Giám mục Chánh tòa Giáo phận Phan Thiết Nicôla Huỳnh Văn Nghi làm Tổng giám mục Giám quản Tông tòa. Năm 1995, Giám mục Bình qua đời, Giám mục Nghi đảm nhiệm giám quản giáo phận dù bị chính quyền phản đối kịch liệt và cuối cùng trao lại cho Tân Tổng giám mục là Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đảm trách năm 1998, sau đó năm 1999 Giám mục Nẫm từ chức.

Năm 2001, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Giuse Vũ Duy Thống làm Giám mục Phụ tá cho giáo phận. Năm 2003, Tổng giám mục Mẫn được chọn làm Hồng y Toà Tổng Giám mục Sài Gòn được đặt làm Toà Hồng y đầu tiên ở miền Nam Việt Nam.[12]

Năm 2008, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm làm giám mục Phụ tá, đến năm 2009 thì Giám mục Thống được chuyển làm Giám mục Chánh tòa Giáo phận Phan Thiết. Đến năm 2010, trong vòng 50 năm từ năm thành lập 1960, đã có thêm 101 họ đạo mới thành lập tại Tổng giáo phận:88 họ đạo thời đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, 5 họ đạo thời Giám quản Nicôla Huỳnh Văn Nghi và 8 họ đạo thời Tổng giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.[12]

Năm 2013, sức khỏe của Hồng y Mẫn giảm sút nên tháng 9, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Chánh tòa Giáo phận Mỹ Tho Phaolô Bùi Văn Đọc làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận. Đến tháng 3 năm 2014, thì Hồng y Mẫn về hưu, Tổng giám mục Phó Bùi Văn Đọc đương nhiên lên kế vị Tổng giám mục Chánh tòa từ đây. Tháng 7 cùng năm, Giám mục phụ tá Nguyễn Văn Khảm được chuyển làm Giám mục Chánh toà Giáo phận Mỹ Tho.

Năm 2016, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng làm Giám mục phụ tá mới cho giáo phận, trợ giúp công việc mục vụ cho đương kim Tổng giám mục Bùi Văn Đọc.

Các hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo phận là nơi tổ chức nhiều sự kiện quốc tế, quốc gia lớn có ý nghĩa quan trọng như:

  • Ủy ban Thánh nhạc Hội thảo Thánh nhạc toàn quốc lần thứ 29, 30.[13][14]
  • Đại hội các Giám mục châu Á lần thứ 10 sẽ diễn ra vào tuần lễ thứ ba của tháng 10 năm 2012, tại Trung tâm Mục vụ của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.[15]

Các danh địa trong tổng giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Cha Tam.

Nhà thờ Chánh tòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Tổng giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời giám mục quản nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
1 † Dominique Lefèbvre Ngãi Giám mục phụ tá.png 1844-1864 Giáo phận Tây Đàng Trong
2 † Jean-Claude Miche Mịch Giám mục phụ tá.png 1844-1873
3 † Isidore-François Colombert Mỹ Giám mục phụ tá.png 1872-1894
4 † Jean-Marie Dépierre Để Giám mục phụ tá.png 1895-1898
5 † Lucien-Emile Mossard Mão Giám mục phụ tá.png 1898-1920
6 † Victor-Charles Quinton Tên Giám mục phụ tá.png 1912-1924
7 † Isidore-Marie Dumortier Đượm Giám mục phụ tá.png 1925-1940 Giáo phận Sài Gòn
8 † Jean Cassaigne Sanh Giám mục phụ tá.png 1940-1955
9 † Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền Giám mục phụ tá.png 1955-1960 Giám quản tông tòa
10 † Phaolô Nguyễn Văn Bình Tổng giám mục.png 1960-1995 Tổng giáo phận Sài Gòn
Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
11 † Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm Giám mục phụ tá.png 1965-1976 Giám mục phụ tá
12 † Nicôla Huỳnh Văn Nghi Giám mục phụ tá.png 1974 - 1975 Giám mục phụ tá
14 † Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận Tổng giám mục.png phó 1975-1994 Tổng giám mục phó, hồng y
14 † Louis Phạm Văn Nẫm Giám mục phụ tá.png 1977-1999 Giám mục phụ tá
15 † Nicôla Huỳnh Văn Nghi Giám mục phụ tá.png 1995-1998 Giám quản tông tòa
16 Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn Tổng giám mục.png 1998-2014
Hồng y.png 2003-nay
Tổng giám mục
Hồng y
17 Giuse Vũ Duy Thống Giám mục phụ tá.png 2001-2009 Giám mục phụ tá
18 Phêrô Nguyễn Văn Khảm Giám mục phụ tá.png 2008-2014 Giám mục phụ tá
19 Phaolô Bùi Văn Đọc Tổng giám mục.png phó 2013-2014
Tổng giám mục.png 2014-nay
Tổng giám mục
20 Giuse Đỗ Mạnh Hùng Giám mục phụ tá.png 2016 - nay Giám mục phụ tá

Ghi chú:

  • Hồng y.png: Hồng y
  • Tổng giám mục.png: Tổng giám mục (phó)
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phụ tá hoặc Giám quản Tông Tòa, Đại diện Tông Tòa

Các giáo họ và giáo xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • ROMAN CATHOLIC ARCHDIOCESE OF HO CHI MINH CITY, LAMBERT M. SURHONE, MARIAM T. TENNOE, SUSAN F. HENSSONOW, Betascript Publishing, 2010, ISBN 6133631112, 9786133631113

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]