Tục thờ rắn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tục thờ rắn
Rắn hổ mangtrăn lớn (mãng xà) được con người sùng kính và tôn thờ vì nỗi sợ hãi và những đặc tính tự nhiên của loài rắn
Đền thờ rắn ở Thái Lan

Tục thờ rắn hay tín ngưỡng thờ rắn là các hoạt động thờ phượng loài rắn. Rắn là loài vật được nhiều dân tộc trên thế giới tôn thờ. Hình tượng rắn được thờ phụng ở rất nhiều quốc gia, dưới nhiều hình thức khác nhau, người dân ở khắp các châu lục đều có tôn sùng và thờ phụng rắn. Nhiều nơi trên thế giới, con rắn được thần thánh hóa và tôn thờ và đi vào đời sống tâm linh. Ít có loài vật nào mà ý nghĩa biểu trưng phong phú như loài rắn. Rắn không chỉ là loài động vật sống trên khắp thế giới, nó còn là biểu tượng cho nước, lửa, linh hồn, nhục dục, đa nghi, cái thiện-ác, -thần.

Tục thờ rắn là một hình thái tín ngưỡng nguyên thủy, ra đời trong thời kỳ mà con người chưa tách mình ra khỏi tự nhiên, nhận thức về tự nhiên còn thấp, các ý nghĩa biểu trưng của hình tượng rắn phần lớn chính là sự mô phỏng hiện thực tự nhiên[1]. Hình tượng rắn không chỉ xuất hiện trong hầu hết các nền văn hóa mà còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Rắn là con vật đa diện, tùy theo quan niệm từng dân tộc và tôn giáo mà nó là loài biểu tượng cho cái ác hay cái thiện[2], rắn là một hình tượng vô cùng phức tạp và nhiều vẻ.

Hình tượng rắn không chỉ xuất hiện trong hầu hết các nền văn hóa mà còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Rắn biểu trưng cho cả giới tính nam lẫn nữ, hay là một vị thần sáng thế, biểu trưng cho vũ trụ thời hỗn mang nhưng đôi khi lại là một thành viên hay vị thần bảo hộ của gia đình, là nguồn nước và cũng là lửa, là vị phúc thần và ác thần, điều tốt và cái xấu, tượng trưng cho sự sống bất tử và cái chết, dương thế và âm ty, sự hủy diệt và tái sinh, nhục dục và tội lỗi.

Với các nước phương Đông, trong một số nền văn hóa, hình tượng rắn có vị trí quan trọng trong thế giới biểu tượng. Rắn thường thể hiện hình ảnh khác nhau như thần hiền, thần ác, điều tốt, điều xấu, sự hủy diệt, tái sinh, tình mẫu tử. Rắn bản năng là động vật hoang dã, nhưng khi con người sống thuận hòa với chúng, cảm hóa được chúng thì rắn hay những loài thú dữ khác cũng trở nên hiền lành thân thiện. Tuy nhiên, trong tiềm thức của con người với những nền văn hóa khác nhau, thì sự tín ngưỡng hay tôn trọng rắn cũng có những cách thể hiện khác nhau.

Hình tượng rắn ngóc đầu dậy liên tưởng tới bộ phận sinh dục do đó rắn tượng trưng cho sự sinh sản
Tiếng rít phì phì của rắn hổ mang liên tưởng đến giông bão

Lý do[sửa | sửa mã nguồn]

Con người khắp nơi trên trái đất này thờ cúng loài rắn vì nhiều lẽ khác nhau, trong đó có thể thấy những tín lý đáng chú ý là:

Sự phức tạp[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn, biểu tượng cho tín lý đa nghĩa và phức tạp

Ý nghĩa biểu trưng của rắn xuất phát từ chính sự phức tạp của bản thân loài rắn. Đối với con người thì rắn vừa có hại, vừa có lợi (rắn bắt chuột bảo vệ mùa màng, làm thuốc). Ở một số nước, người dân không sợ rắn, họ coi rắn như những người bạn và có thể sống chung, nuôi rắn trong nhà, một số nơi khác, rắn là con vật hiểm ác, đáng sợ, không thân thiện với con người, vì đặc tính đó mà con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn như một vị thủy thần để cầu thân với rắn, mong muốn không bị rắn làm hại. Việc tôn thờ rắn xuất phát từ các huyền thoại thần rắn lông chim, rắn lông vũ, quái vật nửa người nửa rắn, rắn cầu vồng rất ly kỳ.

Sự có mặt một cách phong phú của rắn từ rất sớm cùng với những đặc tính của nó đã ảnh hưởng đến cuộc sống và nhận thức của người nguyên thủy, nhất là xuất phát từ hình dáng, đặc điểm thực tế của loài vật này. Rắn sống ở hầu hết mọi nơi, có đủ các màu sắc, kích cỡ, có thể sống được ở hầu hết các môi trường tự nhiên, từ trên núi cao đến biển sâu, từ sa mạc đến rừng rậm, trên cây hay dưới đất. Tuy không chân nhưng khả năng di chuyển của rắn rất nhanh mà không gây ra tiếng động, có thể di chuyển nhiều tư thế như bò ngang, thẳng, nửa dưới đất nửa thẳng đứng và có thể thình lình xuất hiện.

Vì rắn là đối tượng rất khó nắm bắt, luôn mang đến cho con người sự ngạc nhiên và bí ẩn, không thể giải thích được, nó trở thành nỗi ám ảnh và kích thích trí tưởng tượng, mong muốn giải thích của người nguyên thủy, nhưng lại không đủ tri thức và sự hiểu biết để giải thích về đối tượng, nên họ thần thánh hóa con vật này và loài rắn thường được thần thánh hóa[1][3]. Rắn là loài vật gây cảm giác sợ hãi và kính nể, rắn vừa có sức cuốn hút đặc biệt, và cũng như cỗ máy giết người. Trong những câu chuyện giải thích lý do con người tôn thờ rắn, thì loài vật này được miêu tả có hình dáng lạ và có uy lực rất khủng khiếp.

Sự liên tưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dáng trườn bò của rắn liên tưởng đến những khúc sông uốn lượn quanh co, do đó rắn trở thành biểu tượng của sông nước
Cái lưỡi chẻ của rắn liên tưởng đến sấm chớp báo hiệu mưa tới
Da rắn sau khi lột xác còn lại trên cành cây, việc lột da của rắn được liên tưởng đến sự tái sinh

Hình dạng và đặc điểm di chuyển của loài rắn là cơ sở để người xưa hình dung và đồng nhất rắn với những con sông hay nguồn nước, nhìn con sông từ trên cao xuống khá giống với hình ảnh một con rắn đang bò. Loài rắn hổ mang khi cáu thường phát ra (rít) tiếng gió phì phì được cho là mang ý nghĩa biểu trưng của bão tố. Rắn có đặc điểm ngủ đông lạnh và xuất hiện lại với mùa mưa, chúng bơi tốt, và nhiều loài được nhìn thấy trong nước, trong các hồ và sông. Hình ảnh tia chớp (dấu hiệu của mưa) có những nét tương đồng với lưỡi rắn. Màu sắc và các sọc của loài rắn (nhiều loài rắn có các sọc chạy dọc theo cơ thể với các màu sắc rất sặc sỡ) được liên hệ rắn với cầu vồng (rắn cầu vồng).

Loài rắn thường đẻ trứng và mắn đẻ, rắn đực thường có dương vật to gấp hai lần bình thường, một số cá thể còn có dạng bán dương vật; cử động của đầu rắn cũng làm cho người ta liên hệ đến cơ quan sinh dục đực (dương vật người trong quá trình cương cứng và ngọ nguậy), khi rắn giao phối chúng trình diễn vũ điệu loài rắn, một số loài có màn kết thành quả cầu rắn, đây là cơ sở của biểu trưng cho sự mắn đẻ, các nghi lễ cầu thai. Huyền thoại về nước của dân tộc cho biết rằng khi trời và đất giao phối với nhau, các tinh khí bắn ra và tạo thành mưa, làm cho vận vật sinh sôi nảy nở.

Loài rắn có đặc tính lột da, do vậy nó biểu trưng cho sự tái sinh, bất tử, các Pharaong Ai Cập đã mang trên mình hình ảnh rắn với mong muốn được bất tử như loài rắn. Trên thực tế loài rắn không hề bất tử như người cổ xưa tưởng tượng. Trong quá trình phát triển, lớp da bao bọc bên ngoài không còn phù hợp với kích cỡ mới nên rắn lột da, và chúng cũng có tuổi thọ như bao nhiêu động vật khác. Nhưng dù sao, việc rắn thường lột da để lớn và để loại bỏ các ký sinh trùng trên da nên rắn cũng là biểu trưng của sự tái sinh, hồi phục, tuần hoàn luân hồi và bất tử[1].

Người nguyên thủy chưa có tri thức để giải thích các hiện tượng tự nhiên xung quanh mình, đó là những nhận thức và lý giải chủ yếu bằng tưởng tượng, nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên. Các hiện tượng tự nhiên như vòi rồng ở biển, các cơn lốc xoáy với hình thù uốn lượn đã được nhân cách hóa thành hình tượng rắn. Cột nước thường xuất hiện ở bờ biển Nhật Bản được dân địa phương coi là những con rồng đuôi dài bay lên trời rất êm đềm nhưng cũng rất nhanh. Người Trung Quốc cho rằng cột do rồng bay lên và xuống nước tạo ra[1].

Hình tượng rắn trong tín ngưỡng dân gian được đồng nhất với hiện tượng tự nhiên là nước. Hình tượng con rắn đã được phóng đại cho phù hợp với sức mạnh dữ dội, hủy diệt của lũ lụt. Trong tín ngưỡng người Việt không phải bao giờ thủy thần cũng là thần rắn mà có thể là thuồng luồng, rồng, cá. Kể cả khi như vậy thì những hình tượng trên cũng liên quan đến rắn. Hoặc là biến thể về mặt tên gọi, hoặc là cùng một tính chất thủy quái. Việc thờ rắn là một hình tượng cơ bản tiêu biểu nhất của tục thờ thủy thần là tín ngưỡng tự nhiên của người Việt cổ[4].

Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, hình tượng rắn đã được đồng hóa với thủy thần, đi vào tâm thức dân gian từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên. Trong văn hóa của người Việt cổ, tín ngưỡng phổ biến và quan trọng bậc nhất, phản ánh quan niệm, ứng xử của họ với nước là tục thờ thủy thần. Đó không chỉ là nguồn nước uống cho con người và vạn vật mà nước còn gây ra những tai họa khủng khiếp (lũ lụt). Nước có thể hủy diệt mọi thứ nhưng đồng thời đánh thức sự hồi sinh. Sự tàn phá kinh khủng của hiểm họa thiên nhiên này làm cho con người vừa muốn chế ngự vừa muốn sùng bái và tục thờ rắn ra đời trên cơ sở tâm lý ấy.

Các ý nghĩa biểu trưng của rắn chủ yếu được hình thành bằng tư duy huyền thoại chủ yếu tập trung vào những vấn đề siêu hình, bí ẩn, của sự sống và cái chết, qua huyền thoại và tục thờ loài rắn, các biểu trưng của rắn thường theo đối lập và cặp đôi. Từ biểu trưng cho nhận thận thức đơn giản cho đến các cặp đôi mang tính phức tạp hơn và để ẩn dụ, biểu trưng cho các vấn đề của giới tự nhiên, xã hội và các trạng thái phức tạp của tình cảm con người trong xã hội và trình độ nhận thức thì rắn là một sự lựa chọn hàng đầu[1]. Giữa hình tượng rắn với các hiện tượng tự nhiên (mặt trời, chớp, gió bão, mưa) và đời sống (sinh sản) có một mối liên hệ, việc nhận thức và tôn thờ rắn đã thể hiện nhận thức về thế giới tự nhiên và đời sống của người thời cổ[1].

Nỗi sợ rắn[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi mắt long sòng sọc nhìn chằm chằm như thôi miên gợi lên cho con người nỗi sợ nguyên thủy về loài mãng xà

Con người nhìn chung là sợ rắn, và vì sợ nên con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn để mong rắn bảo vệ cho mình. Trong quan niệm dân gian, rắn là con vật hiểm ác, tinh quái và có phần gian xảo, độc địa. Nhưng cũng chính vì những đặc tính đó mà con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn như một vị thủy thần để cầu thân với rắn, mong rắn không làm hại người. Từ nỗi sợ mang tính nguyên thủy này, con người đã thần thánh hóa loài rắn với tục thờ rắn từ thời cổ đại xuất phát từ nhiều chuyện hoang đường về rắn.

Chẳng hạn như những lời lưu truyền về những con mãng xà, ác xà, độc xà, những con rắn hổ mây khổng lồ hay những quan niệm cho rằng loài rắn có khả năng thôi miên bằng ánh mắt long sòng sọc của con mãng xà, hay những con trăn lớn một khi nó đã nhìn thấy người nào thì kẻ xấu số chỉ có nắm phần chết vì chúng sẽ lần theo dấu vết con mồi một cách âm thầm lặng lẽ, ngày ngày qua ngày khác. Đây là nỗi sợ mang tính bản năng xuất phát từ tổ tiên linh trưởng của loài người vốn là con mồi của các loài rắn lớn. Vì vậy khi vào rừng rú hang đá mà gặp trăn lớn, mọi người chạy thật nhanh vì loài trăn sống trong hang rất dễ có đôi, nếu chậm trễ con còn lại mà nhìn thấy người thì chỉ có nắm phần chết[5].

Các châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn được thờ cúng ở nhiều châu lục khác nhau trên thế giới, dưới đây mô tả một số biểu hiện thờ cúng rắn ở các dân tộc trên khắp năm châu.

Châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

châu Phi, hình tượng rắn được thờ phụng ở rất nhiều quốc gia, dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau[3], nhiều nền văn hóa ở châu Phi cũng xem rắn là thủy tổ của mình va cùng ở châu Phi, rắn ở mỗi quốc gia lại mang một ý nghĩa khác nhau:

Ai Cập[sửa | sửa mã nguồn]

Hình vẽ Ai Cập về rắn thần Apep

Ở một trong những quốc gia cổ xưa nhất được ghi nhận về sự hiện diện của tín ngưỡng thờ rắn là Ai Cập. Dấu vết của tín ngưỡng này còn được tìm thấy qua các hình vòng tròn, quả cầu được chạm khắc trên hầu hết các cổng đền ở Ai Cập (người Ai Cập quan niệm thế giới như một vòng tròn, con rắn đi xuyên qua tâm theo chiều ngang biểu trưng cho sự giao nhau bởi vũ trụ và đất liền). Nó biểu trưng cho sự khôn ngoan, thiêng liêng, cho nguồn năng lượng và sự sáng tạo, sự tái sinh, bất tử, vĩnh cửu.

Nhìn chung, người Ai Cập cổ xem rắn là một con vật linh thiêng, một vị thần tối linh. Thời cổ xưa, người Ai Cập cho rằng rắn là thần hộ mạng cho các vị vua chúa, cho nên, mấy nghìn năm về trước, trên các vương miện của các pharaoh Ai Cập đa số đều có chạm trổ hình rắn bằng vàng, đá quý hay bằng ngọc. Điều này được lý giải là tượng trưng cho nữ thần hiền lành, có khả năng phù hộ cho nhà vua. Truyền thuyết Ai Cập thường xem rắn như là một vị thần linh tối cao, vị thần hộ mạng cho các nhà vua.

Ở Ai Cập, rắn là biểu tượng của thánh thần, sự thông thái và khả năng tiên tri về tương lai. Người Ai Cập cũng có những huyền thoại về thời kỳ hỗn mang, sáng thế, trong đó rắn Apep đóng vai trò như một vị thần cội nguồn của sự sống. Nó cuộn mình trong vũng nước nguyên thủy và thụ tinh cho quả trứng vũ trụ. Những con rắn đã nhập vào các tôn giáo Ai Cập như một biểu tượng của thánh thần, của sự mê hoặc, đôi khi nó được tin như một lời sấm, lời tiên tri, thậm chí là một đấng tối cao, trong đó Atum là một vị thần nguyên thủy đã được biểu trưng dưới hình thức người rắn.

Thổ dân[sửa | sửa mã nguồn]

Hình tượng thờ con rắn Mami Watachâu Phi

Tại WhydahDahomey, người ta đã tìm thấy những ngôi đền thờ rắn, được mô tả chỉ là một túp lều đất sét hình trụ có mái che bằng tranh, dài, hẹp, lối vào cửa phải đối diện với nhau. Căn nhà được quét vôi trắng bên trong và ngoài. Cửa ra vào được cắm các cờ trang trí nhỏ vải bông màu đỏ, trắng, xanh. Ngoài trăn thì cá sấu là đối tượng được giám sát việc thờ cúng ở các địa phương. Người ta xem mãng xà như những vị thần linh thiêng. Nếu ai vô tình giết chúng thì sẽ bị trừng phạt, thậm chí nếu đó là người ngoại quốc sẽ bị chặt đầu.

Biểu tượng của rắn thần Aido Hwedo

Người FonDahomey nói rằng, rắn đã có từ rất lâu đời, trước cả khi đất được tạo ra. Dưới dạng rắn thần Aido Hwedo, rắn đã phục vụ cho vị thần sáng tạo Mawu. Rắn ngậm đuôi tạo nên vòng tròn kín (Ouboros) biểu tượng cho sự vĩnh cửu của người châu Phi. Trong thế giới tượng của người Nairobi của Kenya, motip các vị thần, những con quỷ rất phổ biến. Một trong những nét đặc sắc của tượng Makonđe là "nhiều tượng mang hình rắn. Ở tượng này rắn ngóc lên từ một thân người. Ở tượng khác, rắn vươn cao trước mặt người như để thôi miên nạn nhân của nó. Ở tượng khác nữa, rắn nằm nhũn trong tay người bắt nó.

Trong nhiều huyện ở miền nam Nigeria, mãng xà là đối tượng đứng đầu của niềm tin về tiên tổ, dưới cái tên Ogidia, nó đại diện cho cuộc chiến tranh bộ lạc. Người dân quan niệm, mỗi con mãng xà có một linh hồn con người bên trong nó, linh hồn được giải phóng bằng nghi lễ sau cái chết của loài bò sát và ất cứ hành vi phạm tội nào chống lại con rắn là một tội phạm đối với tổ tiên. Bộ tộc da đen ở Nigeria tin rằng, nếu một đứa trẻ bị tâm thần hoặc bị liệt, sau khoảng thời gian bốn năm cho phép mà không có dấu hiệu phục hồi thì bị coi là rắn và bị ném xuống sông.

Tại Congo, rắn tượng trưng cho quyền lực của trời vì thế không ai có thể ngồi lên lưng nó được. Theo người dân Congo, uy lực tối cao của trời là con rắn Điămbô, không ai có thể ngồi lên lưng nó được. Ai trèo lên là lại tụt xuống thấp ngay. Người Ngbandi phía bắc Congo cũng tin rằng rắn là con vật lâu đời nhất, là tổ tiên sáng tạo. Họ thờ rắn như thờ vị thần tối cao của dân tộc. Trong khi đó, các bộ lạc Kouyou (Nam Sudan) lại dành cho Viper (rắn viper) một sự kính trọng đặc biệt vì họ cho rằng đây là tổ tiên của các tù trưởng.

Tại Liberia, người dân quan niệm mỗi con mãng xà mang trong mình linh hồn của con người vì vậy, hành vi tội phạm nào chống lại rắn bị coi là phạm tội với tổ tiên. Một số địa phương của Liberia lại gắn rắn với niềm tin về bói toán, tiên tri. Loài bò sát này được giám hộ và không ai dám làm hại nó. Người VendaNam Phi kể rằng bộ lạc họ được tạo ra từ xác một con rắn. Con rắn Tharu tự chia làm hai phần: đầu (tholo) và đuôi (tshamutshila), mỗi phần bò về một hướng. Cả hai phần đều hóa thành người, trở thành những thủ lĩnh của bộ tộc. Về sau họ gặp nhau và trở lại trạng thái nguyên thủy ban đầu là rắn.

Trong trí tưởng tượng của cư dân nhiều bộ tộcTây Phi thời cổ, giới tự nhiên đều có linh hồn. Đối với họ, rắn tượng trưng cho sự sung túc. Trời mưa vừa tạnh, trên không trung cầu vồng hiện ra và trở thành thần rắn trong trí tưởng tượng của nhân dân. Trong quan niệm của người dân Katsina, DauraHausa (vùng cao nguyên ở phía bắc của núi Elgon của Uganda), rắn liên quan đến chữa bệnh, cầu thai. Đặc biệt, họ xem rắn như vật tổ, nếu ăn thịt con vật thì sẽ bị chết. Rắn có thể tự do vào nhà người dân mà không hề bị giết vì họ tin rằng, giết rắn là giết tổ tiên của mình.

Tín ngưỡng thờ rắn ở nam Uganda còn liên quan đến tục hiến tế. Người ta tìm thấy một ngôi đền thờ rắn nằm bên bờ hồ Victoria Nyanza, trên bờ của sông Muzini. Ngôi đền hình nón lớn được lợp bằng tranh và cỏ, tầng dưới được trải thảm bằng cỏ ngọt có mùi, tầng trên là nơi thiêng liêng của rắn và người giám hộ nó. Đó phải là một phụ nữ còn trinh tiết. Người ta còn tạo ra một lỗ tròn trên mái nhà để rắn có thể dễ dàng đi đến bờ sông. Phụ nữ Uganda và Tây Phi còn đến bên các đền thờ rắn để cầu nguyện. Khi trẻ em được sinh ra, một số họ thừa nhận đã được thực hiện bởi những con rắn. Hình tượng rắn không chỉ liên quan đến nguồn nước mà còn là biểu tượng cho sự thịnh vượng, niềm tin liên quan đến nghề cá, nông nghiệp và cả sự mắn đẻ.

Châu Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Mỹ là vùng đất được ghi nhận có tập tục thờ rắn, chủ yếu là ở Trung MỹNam Mỹ nơi người thổ dân da đỏ sống trong các khu rừng nhiệt đới và thường xuyên tiếp xúc với rắn

Ở Mexico[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn thần của người Aztec

Rắn trở thành một đối tượng thờ cúng và biểu trưng ý niệm về thời gian của người Mexico cổ. Không chỉ là biểu tượng của vị thần sáng thế, người Mexico cổ xem rắn như vị thần bảo hộ của gia đình. Người ta có thể để nó sống như những thành viên trong nhà[3]. Huyền thoại Mexico cổ đại (người Toli, người Asti và một phần của người Maya) cũng nói đến một vị thần trung tâm là con rắn lông vũ, thần Kesalkoatl. Ở vị thần này nổi lên hàng đầu là đặc tính của đấng sáng tạo và một phần anh hùng văn hóa.

Rắn lông Quetzalcoátl cũng thường được đồng hóa với một trong những vị thần rất xưa: Một con rồng trên trời thường trừng phạt con người bằng cuồng phong và lụt lội, và thưởng cho con người bằng cách giúp họ được mùa. Mặc dù có nhiều hóa thân, nhưng vị thần Quetzalcoátl chủ yếu được mô tả dưới hai hình dạng: có khi là một con rắn phủ lông chim, có khi lại là một chiến binh cao lớn, mang mũ làm bằng da mèo rừng (ocelot).

Con rắn thần Quetzalcoátl (hay rắn lông chim) chiếm một vị trí quan trọng trong các thần điện của người Aztec. Thần rắn lông chim xuất hiện trên các cấu trúc trong thành phố cổ Teotihuacan tại Mexico. Ở Trung Mỹ, huyền thoại thần rắn lông chim Quetzalcoátl rất được ca ngợi. Thần Quetzalcoátl có nhiều hóa thân và tính chất của thần cũng có nhiều mặt. Quetzal có nghĩa là lông chim vừa có nghĩa là quý giá; coátl vừa có nghĩa là con rắn vừa có nghĩa là song sinh.

Nói chung, ở Mexico, rắn được thiêng hóa, và là biểu tượng của vị thần mang nhiều tính năng. Đối với các thổ dân, con rắn trở thành một biểu tượng của thần nội bộ chứ không dành cho những người khác bên ngoài mà cũng không đơn thuần là đại diện cho các thuộc tính chỉ riêng về một vị thần nào đó. Về sau, rắn này đã nhập vào trong tôn giáo của những người Mexico bằng những hình thức uyển chuyển khác nhau. Ở Mexico cũng có một di chỉ về ngôi đền dành riêng cho thần của không khí và cửa đền giống như miệng một con rắn.

Thổ dân[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn đuôi chuông được người da đỏ thờ kính

châu Mỹ, một số bộ lạc thổ dân tôn kính loài rắn đuôi chuông (rattlesnake) như ông vua của loài rắn, những người có khả năng cung cấp nguồn năng lượng gió hoặc gây ra cơn bão lớn. Người ta tìm thấy rất nhiều hình rắn lớn được trang trí trong các đền thờ, trong đó tiêu biểu là rắn chuông. Rắn chuông được thờ trong đền Natchez thờ thần mặt trời và các vị thần của Aztec. Người ta tìm thấy các mô đất được xây dựng hình rắn thuộc dấu vết của tín ngưỡng này.

Sự ám ảnh của loài rắn đối với con người không chỉ được thể hiện bằng các nghi lễ hàng ngày trên trần thế mà người ta còn tin rằng nó hiện hữu cả trong thế giới âm ty. Người da đỏ Pueblo gắn nguồn gốc bài hát với âm phủ và loài rắn cõi âm Khton (khi con rắn bị đốt cháy, các mảnh thân xác của nó biến thành bài hát). Con rắn còn được coi như là cửa ngõ giao thoa giữa hai thế giới với người dân nhiều nền văn hóa Trung Mỹ. Là sự kết nối tâm linh giữa các cư dân sống trên bán đảo Yucatan này và ảnh hưởng một phần đến hai nền văn minh lớn.

Châu Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Bức họa trên hang đá của thổ dân châu Úc về con rắn cầu vồng

châu Úc, các thổ dân tôn sùng và thờ rắn cầu vồng khổng lồ. Với họ, rắn cầu vồng tượng trưng cho nước, là thực thể tâm linh lâu đời nhất, con rắn này được gọi bằng nhiều tên, song phổ biến hơn cả là serpent rainbow tức rắn cầu vồng. Con rắn cầu vồng tượng trưng cho nước, là thực thể tâm linh lâu đời nhất của người dân bản địa. Là nhân vật cổ xưa được hoan nghênh nhất, thần rắn với sự hiện diện mơ hồ của mình được cảm thấy tất cả các hồ nước và dòng sông, mà ông vừa là nhà sáng tạo vừa là nhà giám hộ.

Sự đồng nhất hình tượng cầu vồng với rắn xuất phát từ quan niệm liên quan đến nước và đời sống nông nghiệp, các thổ dân tôn sùng rắn vì rắn tượng trưng cho tính âm, nguồn nước, có liên hệ mật thiết với nông nghiệp. Với họ rắn cầu vồng là một lực lượng thiêng liêng, gắn với các nghi lễ tôn giáo nguyên thủ, huyền thoại về con rắn cầu vồng là một phần của chủ đề tôn giáo cổ xưa nhất được tiếp tục dẫn chứng bằng tư liệu qua những hình ảnh được ghi chép lại trong những bức tranh hang động từ hơn 20.000 năm trước.

Một huyền thoại cổ ở vùng Arnhemland kể rằng, tổ tiên vĩ đại Ngaljod trước hết tạo ra chính mình như Ulbar, một khúc gỗ có lỗ hổng dài. Ulbar tạo ra âm thanh, đã được dùng như một cái cồng trong các nghi lễ thần thánh, được xem như một vật hết sức thiêng liêng. Lỗ hổng của Ulbar hay con rắn cầu vồng, thỉnh thoảng được đề cập đến như là tử cung của người mẹ vĩ đại và hình dáng bên ngoài được xem như là cơ quan sinh dục nam hay hình thể giống đực của con rắn cầu vồng

Vùng lãnh thổ phía bắc của nước Úc, hình tượng rắn ngũ sắc lại được gắn với các nghi lễ trưởng thành, trong nghi lễ trưởng thành, người ta dựng lại hình thức chị em Vauvaluk (tổ tiên của bộ tộc Dua) với một người bị rắn ngũ sắc nuốt, sau đó rắn khạc ra đứa trẻ tức tượng trưng cho cái chết tạm thời của người lên bậc trưởng thành. Tính chất của rắn ngũ sắc không chỉ là quái vật nuốt người, mà rắn ngũ sắc này là tập hợp trong mình những biểu tượng về thủy thần, về quái vật rắn (mầm mống của biểu tượng về con rồng).

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

châu Âu, tín ngưỡng thờ rắn cũng được ghi nhận, đặc biệt là xuất hiện ở vùng các dân cư sống quanh những con sông. Sau này, do ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo, tục thờ này đã bị phủ định do Thiên chúa giáo chỉ thờ phượng Thiên chúa, đồng thời trong Kinh Thánh, rắn là loài vật tượng trưng cho điều xấu xa, hiểm độc của thế gian.

Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn thần Acupe trong biểu tượng y học

Ở châu Âu, tục thờ rắn phổ biến trong các cư dân sống quanh lưu vực những con sông ở Hy Lạp. Tuy nhiên hình tượng rắn có nhiều sự biến đổi, được khoác thêm những dáng vẻ mới: rắn được mang thêm sức mạnh của con bò đực, dạng bò tót, rắn đầu cừu đực. Dấu vết thờ rắn ở Hy Lạp chứa nhiều bí ẩn, đôi khi nó là hóa thân, là hình ảnh đại diện của các vị thần. Người ta cho rằng, thần Apollo lần đầu tiên được thờ ở Delphi dưới biểu tượng rắn và tín ngưỡng nguyên thủy đã bắt đầu được tôn giáo hóa.

Trong tôn giáo của người Hy Lạp, rắn luôn được xem là một biểu tượng thiêng liêng. Rắn không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan mà còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực về khả năng sinh sản. Ở Epirus, tại khu rừng nhỏ của Apollo, hàng năm diễn ra các lễ hội lớn, những tu nữ trinh tiết khỏa thân mang thực phẩm hiến tế rắn thiêng. Nếu chúng lấy nó một cách dễ dàng, đó được coi là dấu hiệu của một vụ thu hoạch hiệu quả, và khỏe mạnh trong năm, bằng không, các điềm báo ngược lại sẽ dẫn đến những lo âu. Niềm tin này có lẽ bắt nguồn từ các con mãng xà được thờ cúng Delphi.

Trong thần thoại Hy Lạp, hình tượng rắn cũng được miêu tả với tư cách là các vị thần. Theo huyền thoại, Python là con của Gaia được nặn bằng bùn và đất đọng lại sau trận lụt lớn Deucalion. Vì Pythong quá hung dữ không ai dám lại gần nên dân chúng xin thần Appolo trợ giúp. Thần Appolo từ núi Olympus hiện xuống, dùng cây cung bạc, bắn mũi tên vàng giết chết Python, do đó thần Appolo còn được gọi là Pythian Appolo. Một quái vật nửa người nửa rắn khác là Echidna. Đây là quái vật đã kết hôn với Tiphông là thần bị Dớt đánh bại và tống giam xuống địa ngục.

Ở Hy Lạp, y học dùng biểu tượng con rắn quấn quanh cây gậy tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh tật. Theo truyền thuyết cổ Hy Lạp, con trai của thần Apollo được xem là ông tổ của ngành y dược. Esculape đi thăm bạn gặp một con rắn, ông đã đưa cây gậy ra và con rắn liền bám lấy rồi bò lên quấn quanh cây gậy. Esculape thấy vậy nên cầm cây gậy đập xuống đất để giết chết con rắn. Sau đó, ông lại thấy một con rắn khác bò tới, miệng ngậm một loại thảo dược để cứu con rắn đã chết. Người ta thường để thần cầm một chiếc gậy làm bằng gỗ cây nguyệt quế và một con rắn quấn chung quanh.

Các nước[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn được tôn thờ ở một số nước châu Âu như vị thần bảo hộ

Rắn cũng được một số nơi ở châu Âu tôn thờ. Trước công nguyên, các sứ giả của các quốc gia ở châu Âu đều tay cầm cây trượng, trên đầu trượng có điêu khắc hình rắn, điều đó có tác dụng như là dấu ấn trong quốc thư của các sứ giả ngoại quốc. Tại Bắc Âu, tín ngưỡng thờ rắn liên quan đến việc thờ thần mặt trời, hình thức ngưỡng này là kết quả của sự giao thoa giữa những nền văn hóa, trong đó có sự chi phối quan trọng của tín ngưỡng đa thần giáo Hy Lạp và Ai Cập là những nơi thờ rắn.

Ở châu Âu, một số nơi như là Ba Lan, rắn được giữ trong nhà như một vị thần bảo hộ, rắn được thần thánh hóa, được sùng kính và thờ cúng. Mỗi hộ gia đình thường giữ một con rắn trong nhà như là một thần bảo hộ. Ở Đan Mạch và một số hòn đảo thuộc nước Anh, tín ngưỡng thờ rắn gắn với các nghi lễ hiến tế. Người ta thường tổ chức các nghi lễ này tại các gò đất, gần hồ. Các ngôi đền vào dịp này thường được che chắn để tạo không gian thiêng liêng. Người ta sẽ hiến tế các vật cúng cho rắn. Những con rắn đã trở thành biểu tượng của thần thánh, và họ gọi chúng là vua rồng[3].

Châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn thần Naga ở Đông Nam Á

Tại châu Á, hình tượng con rắn thiêng được thể hiện qua các hình vẽ, vòng tròn được chạm khắc trên vách đá hang động, như hình tượng rắn qua các tục thờ Đền Tranh (huyện Ninh Giang). Ở Trung Quốc hay các nước Đông Nam Á, tục thờ rắn cũng rất phổ biến. Trong tín ngưỡng dân gian của người Campuchia, thần rắn Naga là một vị thần tối thiêng[6]. Trong huyền thoại của người Nhật, rắn là một con vật thần thánh, đầu rồng có nhiều phép thuật và có hình thể vũ trụ (Orochi). Quái vật này chuyên hại người bằng cách bắt cóc các trinh nữ để ăn thịt.

Ngoài ra, có thể kể đến một số huyền thoại về rắn như sau: truyện Động đất của người Indonesia, huyền thoại Nguồn gốc của thế giới chúng ta, Nguyệt thực của người Myanma; huyền thoại về Sự tích núi Ganlaon của người Philippines; truyền thuyết Preng Thong của Campuchia. Rắn được xem như là một biểu tượng của sự bất tử ở Ấn Độ, tín ngưỡng thờ rắn đã ăn sâu trong đời sống văn hóa của cư dân nhiều vùng lãnh thổ của đất nước này[3]. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, rắn cũng là một hình tượng có sức ám ảnh mạnh mẽ. Nhiều câu chuyện dân gian ở Việt Nam có sự xuất hiện rất nhiều của rắn.

Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Di chỉ thờ thần rắn ở vùng Lưỡng Hà

Ở châu Á, tại Iran hay trước đây gồm cả vùng Ba Tư cũ đã tìm thấy dấu vết của tín ngưỡng thờ con rắn thiêng qua các hình vẽ, vòng tròn được chạm khắc trên vách các hang động. Trong đền thờ thần Bel (hoặc Belus, thần ánh sáng) có hình ảnh của nữ thần Rhea (nữ thần màu mỡ, sinh sản, được xem là mẹ của các vị thần), ngồi trên ngai vàng, đầu gối quỳ trên hai sư tử, và gần một con rắn màu bạc lớn. Cũng có một hình ảnh của nữ thần Juno tay phải đang cầm đầu một con rắn. Trong truyền thống lịch sử, người ta vẫn đồng nhất rồng (với nghĩa là một con rắn lớn) và rắn.

Sự sống của những con rắn ở Babylon được gìn giữ một cách tôn kính. Người Ba Tư cổ thờ rắn rất thành tâm trước các đền thờ, nơi diễn ra các lễ hiến tế và lễ hội bằng sự kính trọng đối với những vị thần vĩ đại nhất của họ. Tín ngưỡng thờ rắn ở Ba Tư không chỉ có mối quan hệ với các vị thần sáng tạo mà còn với nước và lửa. Tục thờ rắn còn được tìm thấy trong dấu ấn của chữ tượng hình. Hình ảnh rắn có cánh cuộn vòng tròn dường như có mối liên hệ với thế giới và mặt trời, rắn được xem là vị thần đầu tiên, là trí tuệ và là cội nguồn của sự sống thế giới.

Trong thần thoại của người Ba Tư, sự đấu tranh giữa hai vị thần thiện - ác, Ormuzd (hay Ahura Mazda) và Ahriman, được hình dung là hai con rắn đang tranh nhau quả trứng vũ trụ. Trong các truyện ngụ ngôn và truyền thuyết, các vị thần ác được coi là có đặc điểm của rắn. Ở Ba Tư, trong một hang động cổ, người ta tìm thấy một ngôi đền giữa hồ nước, trong đó thờ thần mặt trời, vị thần này đứng trên một đám mây và có rắn quấn quanh mình. Tín ngưỡng thờ rắn ở Ba Tư không chỉ có mối quan hệ với các vị thần sáng tạo mà còn với nước và lửa.

Tục thờ rắn còn được tìm thấy trong dấu ấn của chữ tượng hình. Hình ảnh con số 2 () với đôi cánh như một vòng tròn khép kín đôi khi cũng biểu trưng cho rắn có cánh và cũng ẩn dụ cho thần mặt trời, nguồn gốc của biểu tượng này được bắt nguồn từ sự sùng bái con rắn thiên đường và liên quan đến những bí ẩn trong quan niệm về thế giới của người bản địa. Hình ảnh rắn có cánh cuộn vòng tròn dường như có mối liên hệ với thế giới và mặt trời, rắn được xem là vị thần đầu tiên, là trí tuệ và là cội nguồn của sự sống thế giới.

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang ở Ấn Độ

Rắn là một hình ảnh quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ, tiêu biểu cho những huyền thoại đó phải kể đến rắn Naga. Vị thần rắn trong Ấn Độ giáo có tên gọi là Naga. Rắn được xem như biểu tượng của sự bất tử, được kính trọng như con vật linh thiêng. Người Ấn còn dành riêng cho rắn ngày tết vào tháng 8 hàng năm. Đối với người Hindu, rắn như một biểu tượng của thần thánh và đi sâu vào tôn giáo của người Balamon với lễ hội của rắn. Rắn Naga là biểu tượng của linh vật bảo vệ tôn giáo, cội nguồn của sự sống và cái chết[2].

Rất nhiều địa danh được lấy tên từ âm hưởng của rắn Naga. Đối với người Hindu, rắn được coi như thần thánh. Tín ngưỡng thờ rắn của người Hindu còn được thể hiện trong điêu khắc, với hình ảnh các vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn ngang mình. Hình ảnh thường thấy ở các đền đài Ấn Độ là vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn quanh mình. Trên các mái, vách của các ngôi đền, hang động cổ, người ta cũng tìm thấy những hình ảnh rắn được chạm khắc tương tự. Không chỉ những hình ảnh, tượng trong đền đài, rắn còn hiện hữu trên cả những trang sức của người dân.

Trong lễ hội, người Hindu chia phần gạo của mình cho các con rắn với hy vọng điều này sẽ giảm bớt những rủi ro và mang lại những điều tốt đẹp. Ở một số nơi thuộc Bengal, người ta tổ chức lễ hội rắn bằng nhiều cách khác nhau, nhưng thờ rắn được tổ chức hàng năm vào ngày cuối cùng của tháng Sravana Bengal (tháng 7 đến tháng 8). Các gia đình đều nặn một mô hình nữ thần đất sét hình đôi rắn có vành mũ trùm trên vai, thờ trong nhà, và một con hay lợn sẽ làm vật hiến tế. Trước khi nữ thần đất sét ngập trong nước ở phần cuối của lễ hội, rắn đất sét được gỡ bỏ khỏi vai nữ thần. Người dân tin rằng việc làm này sẽ giúp họ chữa khỏi bệnh tật, đặc biệt là bệnh trẻ em.

Trong thần thoại, những con rắn thần được coi là Naga, đôi khi có biểu tượng là đầu người mình rắn. Những con rắn thần nổi tiếng là rắn Sêsa (hay Ananta) đã cuộn mình nổi trên biển vũ trụ để đỡ cho thần Visnu khi tạo dựng vũ trụ, rắn Vasuky dùng mình làm dây kéo quanh cột núi Mêru trong huyền thoại khuấy biển sữa. Hình tượng thần Visnu được miêu tả thông thường nhất là Visnu nằm nghỉ trên mình con rắn thần Sesa bồng bềnh trên mặt biển Ananta (vô biên). Trong kinh Vêđa, hình tượng rắn thần Vritra con rồng xưa nay uống sạch các nguồn nước được miêu tả như một vị thần canh giữ những dòng sông. Nó chiếm và uống sạch các nguồn nước, làm cho mặt đất khô cạn. Cho đến khi nó bị thần Inđra tiêu diệt thì các dòng sông lại được khơi thông.

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một con bạch xà

Tại Trung Quốc, tín ngưỡng thờ rắn được biết đến khá sớm và còn lưu lại trên các vách đá, chẳng hạn như tranh thần Phục Hy đầu người đuôi rắn, thần Nữ Oa đầu người mình rắn. Các đền miếu thờ rắn ở Trung Quốc từ miền bắc tới miền nam nhiều. Đặc biệt là ở các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông thuộc miền duyên hải Hoa Đông và vùng Lĩnh Nam, Trung Quốc. Ngay ở thành phố Tô Châu tỉnh Triết Giang cũng có miếu thờ xà vương, trong có tạc tượng xà vương bằng hình một vị tướng quân. Tương truyền, ngày 12 tháng 4 âm lịch là ngày sinh của xà vương, người dân đi cúng tế tấp nập, nhộn nhịp. Dân gian thường cúng thần rắn bằng các loài ếch nhái, vì họ cho rằng lúc còn sống, rắn thích ăn thịt ếch nhái.

Hình tượng rắn xuất hiện trong huyền thoại khai thiên lập địa của Trung Quốc và tồn tại với rất nhiều biến thể, vị thần khai sáng là Bàn Cổ được miêu tả có đầu rồng, mình rắn, thở ra thành gió mưa, rít lên thành sấm chớp. Một số thần khác liên quan đến hình tượng rắn là thần Cộng Công (Cung Công) và Tướng Liễu. Thần Cộng Công là một vị thần ác khét tiếng, có mặt người mình rắn, tóc đỏ, ngu xuẩn nhưng lại hung bạo. Thần Cộng Công có một kẻ bộ hạ là thần Tướng Liễu, cũng mặt người mình rắn, có chín cái đầu, tính tình độc ác tham lam, nhìn chung phe của Cung Công đều tham lam.

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng thờ thần rắn ở Wat Kham Chanot

Đông Nam Á, tục thờ rắn cũng rất phổ biến. Trong nghệ thuật kiến trúc cũng như đời sống tâm linh của dân tộc Khơ-me hay các bộ tộc Lào thì rắn lại được tôn vinh như những đấng Thần linh. Rắn Thần Naga một đầu hoặc bảy đầu thường thấy ở các công trình kiến trúc chùa chiềng. Ở Thái Lan, có những ngôi làng rắn ngày càng trở nên thân thiện với con người. Với người Thái Lan, rắn là hồn của âm vật, là thần mẹ. Trong văn hóa tâm linh, rắn là vật linh thiêng, mang lại may mắn cho con người, vì thế ở đền thờ Thái Lan có rất nhiều đền thờ rắn. Rắn trong đền thờ ở Thái Lan với hình ảnh rắn trên bậc thang cũng thường thấy.

Trong tín ngưỡng dân gian của người Campuchia, họ thờ cúng thần rắn Naga, Naga có vai trò rất quan trọng, phổ biến trong tín ngưỡng ở Campuchia. Naga không đơn thuần là một vị thần tối thiêng mà còn đồng nghĩa với tính liên tục của lịch sử đất nước này. Họ thờ cúng một cách phổ biến thần đất và thần nước. Biểu tượng của những sức mạnh thiên nhiên, những sức mạnh có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trên đất nước này là một con rắn chín đầu gọi là Naga[7].

Người Khmer vốn có tín ngưỡng thờ rắn Naga chín đầu. Rắn chín đầu là biểu tượng cho thần đất và thần nước. Sau này, do ảnh hưởng của đạo Bà la môn, rắn còn mang biểu tượng nguồn gốc các vị vua lập quốc.Vì thế, các vị vua Khmer thường cho xây dựng các cung điện và đền thờ lớn bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ, chúng xuất hiện trên cầu thang, các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp để xua đuổi tà ma.Trong kiến trúc nhiều ngôi đền cổ của người Khmer, hình ảnh cầu vồng và rắn Naga tượng trưng cho cầu nối giữa trần gian và cõi Niết bàn.

Co đền thờ rắn thuộc tỉnh Sungai Kluang trên đảo Penang của Mã Lai, là ngôi đền thờ được xây dựng là nơi tập trung của rất nhiều loài rắn độc, từ hổ mang cho đến rắn lục với những con rắn đủ loại bám trên các xà nhà, đậu trên cây hay trong các bàn thờ, tượng, các bậu cửa, bình hoa. Theo truyền thuyết, ban đầu đền thờ này chỉ là một am nhỏ do một nhà sư xây dựng. Sau đó nơi đây có rất nhiều loài rắn lục về cư ngụ bởi không khí ẩm ướt và cũng có rất nhiều đồ ăn được dâng cúng. Người Malaysia tin rằng, loài rắn có mặt ở đền là để bảo vệ, giữ gìn sự tôn nghiêm. Các loài rắn ở đây đều có độc nhưng chưa ghi nhận một trường hợp nào bị rắn cắn, dù có người đã mạo hiểm sờ vào rắn[8].

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới cũng như Việt Nam, rắn là con vật có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đối với phong tục, tín ngưỡng của con người. Rắn là hình tượng khá quen thuộc trong đời sống văn hóa, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ, phổ biến nhất của người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Tục thờ rắn là một tín ngưỡng nguyên thuỷ của người Việt cổ với hai ý nghĩa chính là tục thờ thủy thần. Tục thờ này mang ý niệm về sông nước của cư dân làm nông nghiệp. Trong văn hoá dân gian Việt Nam, rắn không được xem là biểu tượng gắn với tôn giáo, trừ trường hợp Phật giáo của người Khmer sống ở Nam Bộ[7] và người Champa cổ.

Quan niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Một con trăn lớn (mãng xà) ở Sài Gòn
Loài rắn có mào duy nhất ở Việt Nam hiện nay là Rắn lục sừng, loài đặc hữu, chúng gắn với lời đồn thổi về rắn có mào
Rắn cạp nong ở vườn quốc gia Cát Tiên

Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, đầm lầy, hình tượng rắn đã được đồng hóa với sông nước thủy thần, đi vào tâm thức dân gian Việt Nam từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên. Tục thờ rắn là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ. Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng thờ Rắn đã được khoác thêm nhiều lớp văn hóa muộn hơn và ít nhiều có biến đổi cho phù hợp với từng điều kiện mới[9]. Trong văn hóa Việt, rắn không chỉ là loài động vật bình thường mà còn trở thành một biểu tượng tâm linh.

Hình ảnh của rắn thực sự mang màu sắc phong kiến, đồng nhất với hình ảnh của vương quyền khi nó gắn liền với hình ảnh của rồng. Rắn là con vật có thật trong tự nhiên song nó là hình mẫu khởi thủy của rồng (vì rồng chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng), có mối liên hệ đặc biệt này giữa rắn và rồng. Ở lĩnh vực mỹ thuật, tạo hình, rồng bắt nguồn từ rắn, trong đó Rồng Lý Trần là một con rắn dài, quấn làm nhiều khúc, đầu không sừng, không râu. Rồng Thăng Long Ðại Việt là loại Rồng lai Rắn, mình tròn trịa và thanh tú, với nhiều khúc uốn lượn nhịp nhàng, là loài có vẩy, ở nước và cũng tượng trưng cho nước, cho mây mưa, vốn là cái nhân tố bận tâm hàng đầu của người dân trồng lúa nước.

Do mê tín dị đoan nên người dân Việt Nam cũng tôn Rắn thần xuất hiện ở nhiều nơi. Khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam như Bắc Giang, Nam Định, Thanh Hóa, An Giang đều xuất hiện “rắn thần” hay "linh xà", thần rắn, thần xà. Người dân thấy một con rắn lạ ở đâu là tôn ngay thành thần thánh rồi mang lễ vật tới cúng bái. Khó thống kê hết những địa phương có “rắn thần” xuất hiện[10]. Với mỗi người Việt thì con rắn có mào, như mào gà trên đầu, rất ấn tượng, đi vào tâm trí. Ở đền nọ, miếu kia có con Rắn Thần có mào canh giữ, dù không cắn người, nhưng ai cũng khiếp sợ, coi là thần thánh, nhưng chứng cứ rõ ràng nào về loài rắn có mào đỏ chót như mào gà trên đầu ngoài những lời kể kiểu dọa nạt con nít[11].

Ngoài ra, ở một khía cạnh khác, người Việt nhìn chung thì rắn không có được hình ảnh tốt trong tiềm thức. Trong quan niệm dân gian, rắn là con vật hiểm ác, tinh quái và có phần gian xảo. Rắn không có được hình ảnh tốt trong tâm thức của người Việt, cứ nhắc tới rắn, bao giờ người ta cũng kèm theo những điều xấu[7]. Người Việt có câu chuyện truyền thuyết về loài rắn như câu chuyện Thạch Sanh, Lý Thông, một huyền thoại khác là rắn báo oán mà Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc. Trong hầu hết các câu chuyện ở Việt Nam, rắn thường gắn với cái ác vì thế, người Việt quan niệm rắn là loài đáng sợ nên không nhiều người thích chúng, vì nọc độc của một óố loài rắn có thể giết người ngay tức khắc.

Đối với rất nhiều người Việt Nam nói chung, rắn không phải là loài vật thân thiện với con người và thường ghê sợ, ám ảnh. Nhắc tới rắn, người ta muốn chỉ tính cách, hành động của con người, tục ngữ Việt còn có câu nói lên tính xấu của con người với hình ảnh con rắn như: “Khẩu Phật tâm xà” hay “Khẩu xà tâm Phật”, "sư hổ mang", hay câu mắng mỏ: "đồ rắn độc", rồi: "Đánh rắn là phải đánh dập đầu", "Cõng rắn cắn gà nhà", "ngóc đầu dậy", "đánh rắn động cỏ", "Đả thảo kinh xà", rồi xếp chúng vào nhóm “rắn rết” là những con vật có hại, tởm tuốc, người ta cũng hay đập chết những con rắn đi lạc, những người tính cách không tốt, thường được ví như người ác, gian manh hay thích nhục dục, lươn lẹo, xảo xá hiểm độc[2].

Ghi nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Hang Rắn tại An Giang, là địa danh đặt theo tên loài rắn

Các đền thờ rắn xuất hiện dọc theo các con sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống và qua các di tích, lễ hội. Tục thờ rắn với tư cách là thủy thần không chỉ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ mà còn có ở miền Trung, Tây Nguyên và cả miền Tây Nam Bộ. Từ người Kinh cho đến người Thượng. Người M’nông thờ rắn như một vị thủy thần có sức mạnh và sự ảnh hưởng to lớn đối với cộng đồng. Người Mường ở Thanh Hóa cũng có tục thờ rắn. Các dân tộc tiêu biểu như dân tộc Thái, Tày, Mường từ lâu vẫn duy trì một số tục thờ các con vật trong đó có hai loài hổrắn với một niềm tin thiêng liêng về sự phù trợ tốt lành cho đời sống con người[12].

Hội làng Linh Đàm thờ vị thủy thần Bảo Ninh là thần Rồng, hóa thành người học trò để học đạo. Trong lúc trời hạn hán, thiên đình ngưng việc làm mưa, vâng lời thầy, thần đã làm mưa chống hạn và bị thiên đình phạt, nhân dân nhớ ơn nên phụng thờ. Hội làng Thủ Lệ, nơi đây thì Linh Lang Đại Vương vốn là một rắn thần, sau khi lập công giúp nước, ngài hoá thành giao long trườn xuống Hồ Tây. Hội làng Nhật Tânthờ Uy Linh Đại Vương, vốn là anh cả của bảy anh em rắn thần, sau đó đầu thai làm hoàng tử Uy Đô Linh Lang. Ngoài ra, có thể kể đến một số lễ hội khác như hội làng Yên Nội ở Từ Liêm, Hà Nội thờ Thổ Lệnh Bạch Hạc Tam Giang.

Rắn là con vật trung tâm trong truyện kể dân gian một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam là con Hổ và con Rắn và tín ngưỡng thờ con vật của các dân tộc, với tần số xuất hiện phổ biến trong nhiều thể loại, tiểu loại và thể loại truyện kể dân gian, hình ảnh con hổ và con rắn đã tạo ra những dấu ấn riêng có trong truyện kể các dân tộc. Hình ảnh con rắn xuất hiện phổ biến trong thể loại truyền thuyết và trong một số truyện cổ tích như truyện về người mồ côi, người con riêng, truyện về người em gái út[12]. Điều này phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa các con vật với đời sống thực tế, đồng thời cũng góp phần minh chứng cho tín ngưỡng coi trọng và thờ cúng các con vật ở một số dân tộc[12].

Vật tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ thờ rắn với tư cách là thủy thần, người Việt còn xem rắn là vật tổ. Dấu vết về tục thờ vật tổ rắn của người Việt cổ cũng được ghi lại trong các văn bản xưa. Người Mân Việt ở miền đông nam cùng với người Man hay Nam Man đều thuộc dòng giống rắn tức coi rắn như vật tổ của mình, có miêu tả cảnh tế thần rắn của người Việt cổ ở vùng Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông với motip con rắn xanh cũng được kể ở khá nhiều nơi. Rắn xanh được thờ ở nhiều nơi và được đưa thành một motip trong truyện kể, bởi rắn được tượng trưng cho thần nước trước khi là rồng. Cũng chính rắn đã trở thành vật tổ của họ Ngân ở vùng núi Nghệ An khi giúp họ Ngân tìm ra nước giải hạn trong lúc họ chạy nạn[9].

Giữa rắn và người có mối quan hệ thân thiết ruột thịt, thậm chí cùng chung một dòng máu, biểu tượng rắn trong quan hệ với người thành ba dạng: rắn là con nuôi của người, mẹ người và các yếu tố khác đẻ ra rắn; hôn nhân người và rắn; mẹ người và bố rắn đẻ ra trứng, kết hợp giữa huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng. Việc thờ vật tổ của thị tộc người Việt cổ là rất phổ biến, trong đó, thị tộc thờ rắn là một trong những thị tộc mạnh thời bấy giờ. Cùng với thời gian và sự phát triển về ý thức, tín ngưỡng thờ vật tổ là cơ sở quan trọng của việc hình thành biểu tượng quốc gia sau này[9].

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang ở trại rắn Đồng Tâm

Trong hình tượng rắn của người Việt Nam là xuất hiện rất đa dạng với những biến thể khác nhau, như rắn, trăn, chằn tinh, giao long, thuồng luồng, thậm chí là rồng được cho là một biến thể của rắn. Ở mỗi một hình thức thể hiện của rắn, hoặc với mỗi một biến thể, hình tượng rắn đều mang những ý nghĩa nhất định. Có thể tìm thấy điều này trong các câu truyện cổ tích, huyền thoại, truyền miệng, lời đồn, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, mỹ thuật, tạo hình.

Hình tượng rắn trong các huyền thoại Việt Nam có thể kể đến các truyện như câu chuyện mở đầu của người Mông, cũng có một huyền thoại, Truyện rồng và người của người Lô Lô; truyện Nguồn nước khổng lồ của người Cơ ho; huyền thoại về Linh Lang; Ông dài ông cộc; truyện Thần nước, Sự tích núi Ngũ hành, huyền thoại Con rồng cháu tiên, là huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu-bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng, nở ra trăm con[9] và các câu chuyện truyền miệng ỏ Nam Bộ.

Ngoài ra còn có những biến thể khác nữa của rắn. Đó là truyền thuyết về Ông cộc, Ông dài gắn liền với tín ngưỡng thờ rắn ở một số vùng Bắc Giang, Hà Nam. Hoặc trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, rắn xuất hiện với hình ảnh của đôi Thanh xà và Bạch xà nằm vắt ngang trên chính điện (Phủ Dầy), được gọi là Ông lốt. Trong đồ mã cúng Mẫu bao giờ cũng có rắn ba đầu hoặc rắn Tam đầu cửu vĩ, rắn ba đầu chính là mô phỏng rắn thần Naga do những ảnh hưởng giao thoa văn hóa giữa người Việt với người Chăm. Trong bộ Kho tàng cổ tích Việt Nam tổng số 200 chuyện thì đã có 11 chuyện đề cập đến hình tượng rắn hoặc các biến thể của rắn như giao long, thuồng luồng, chằn tinh, có những chuyện ca ngợi sự giúp đỡ của rắn đối với con người, một số truyện khác lại nói đến việc rắn hại người[13].

Rắn với biến thể là trăn có thể tìm thấy khá nhiều trong các câu chuyện cổ tích. Trong truyện cổ tích Thạch Sanh kể về một con trăn tinh (hay chằn tinh) tu luyện lâu năm chuyên đi hại người. Mỗi năm, dân làng phải nộp cho chằn tinh một mạng người, song cuối cùng nó bị tiêu diệt bởi Thạch Sanh. Dưới hình dạng của trăn hay chằn tinh, rắn thường biểu trưng cho thế lực cái ác, phản ánh ước nguyện của dân chúng trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Câu chuyện "Rể trăn", lại xuất hiện hai con trăn hoàn toàn đối lập nhau một con là hiện thân của chàng trai có diện mạo đẹp đẽ, hiền lành, tốt bụng, con còn lại có hình hài gớm giếc chuyên đi hại người. Con trăn hiền lành biết giúp đỡ người khác dễ dàng nhận được tình cảm yêu mến của con người, trong khi con trăn chuyên đi hại người bị nhận kết cục tồi tệ là cái chết.

Một số hình ảnh về loài trăn ở Việt Nam:

Trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh, rắn lại xuất hiện dưới hình hài là những con thủy quái hay còn gọi là thuồng luồng là đại diện cho thế lực siêu nhiên mang theo những hiểm họa đe dọa mùa màng và sự sinh tồn của con người. Trong huyền thoại Thần Tản Viên, rắn xuất hiện trong vai trò là con trai vua thủy tề bị trẻ trăn trâu đánh chết vứt bên bờ sông được một chàng trai tốt bụng cứu sống sau rắn quay lại hậu tạ. Rắn trong huyền thoại Thần Tản Viên là mô tuýp phổ biến phản ánh tâm thức tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp. Rắn ở đây được đồng nghĩa với các vị thần nước, thần sông, thần suối.

Rắn xuất hiện với biến thể là giao long có thể tìm thấy trong truyền thuyết Lạc Long Quân, huyền thoại Linh Lang Vương. Trong hình hài là giao long (có thể là cá sấu), rắn dường như được phủ lên một lớp văn hóa muộn, bởi nó đã bước đầu nhuốm màu sắc phong kiến. Mặc dầu những biểu hiện bề ngoài của giao long chưa có cái uy nghiêm, oai phong của rồng, song nó đang từng bước tiến tới những ý nghĩa biểu trưng của sức mạnh thần quyền và vương quyền, giao long mang nhiều ý nghĩa với tục thờ cúng tổ tiên, liên quan đến tục người Việt cổ thường xăm mình khi xuống nước để không bị giao long ăn thịt, lâu dần coi đó là tổ tiên.

Các vùng miền[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng miền ở Việt Nam có ghi nhận tục thờ rắn (từ Bắc chí Nam)

Tuyên Quang[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Đền Cấm ở thuộc xóm 16, xã Tràng Đà, Tuyên Quang có hiện tượng thờ một con rắn sọc khoanh vì tin loài rắn linh thiêng, nên dân trong vùng lập đền thờ rắn và kính cẩn gọi rắn là “ngựa ngài”, “thần xà”. Tượng rắn ở hòn nòn bộ ngay trước đền với con rắn khổng lồ, thân to bằng cái phích, bành mang với vẩy tua tủa sau đầu, mắt mở thao láo nhìn xuống phía chân núi. Con rắn bằng bê tông ấy được đắp giống hệt rắn thật, chui từ trong hõm núi ra, thân quấn quanh mấy khối đá, rồi dựng đầu lên.

Nhiều người nhìn thấy “ông rắn” ấy, thì chắp tay, khom người, cúi đầu vái lia lịa, để cầu khẩn rồi khói hương nghi ngút dưới chân rắn. Chuyện “ngài” xuất hiện ở đền Cấm, nhiều người được chứng kiến trực tiếp. Người dân ở đây bảo rằng, không chỉ “báo oán” những khách vãng lai qua đền xúc phạm “rắn thần”, mà ngay cả những người trong xóm 16, thuộc xã Tràng Đà cũng không ít lần mạo phạm bị “thần rắn” hành cho khổ sở. Còn rất nhiều những lời đồn rợn người liên quan đến loài rắn ở núi Cấm này.

Lời đồn kinh dị nhất là cái chết của người đã tóm được con rắn lạ có đầu đỏ, đuôi đỏ ở núi Cấm, liền cho vào bao xách ra chợ bán, con rắn ông chuyển màu đỏ lòm như máu từ đầu đến đuôi, đôi mắt như hòn than tóe lửa và cái mào mọc lên đỏ lòm như mào gà chọi. Mọi người đều tin con rắn đã hóa “thần xà”. Chuyện khác về một người đã bắt mọt con rắn lạ ở đền Cấm, to bằng cổ tay, treo lên dây thép phơi quần áo ở ngoài sân, để hôm sau làm thịt mời bạn bè trong xóm đến nhậu, khi mở túi vải, thì điều kinh dị: Con rắn không thấy đâu, mà chỉ có con lươn đen sì, to bằng cổ tay[14].

Ngôi đền Cấm thờ rắn ở xã Tràng Đà, Tuyên Quang, có vô số lời đồn kinh dị liên quan đến loài rắn lạ. Vì là đền thờ rắn, nên tượng rắn khổng lồ được trang trí khắp nơi. Cùng với tượng rắn ở “hòn giả sơn” trước đền, thì những tượng rắn trong chánh điện cũng thực sự kiến những người đến đền lần đầu phải dựng tóc gáy. Trên xà chánh điện, có tới bốn con rắn khâu bằng vải, màu xanh đỏ lòe loẹt, bạnh mang, có mào đỏ chót, há miệng nhe nanh nhìn xuống trông phát khiếp. Hai cặp rắn trong đền được mô phỏng là loài hổ mang, có mào, chứ không phải rắn đỏ ở đền.

Từ khi xuất hiện ngôi miếu nhỏ, thì rắn ở khắp nơi tìm về quả núi này. Rất nhiều loài rắn mò về ngôi miếu trú ngụ, gồm hổ mang bành, hổ chúa, hổ đất rồi những loài rắn lạ như rắn đỏ, rắn trắng, rắn sọc, rắn xanh, rồi rắn có mào đỏ chót như mào gà. Từ loài rắn nhỏ, chỉ to bằng cái đũa, đến những con rắn to bằng cái phích ngổm ngổm bò dưới đất, vắt vẻo treo trên cây đều xuất hiện ở núi Cấm, phổ biến nhất ở núi Cấm là rắn có đầu, đuôi và sống lưng màu đỏ và loài rắn có thân hình trong suốt, nhìn rõ xương sống nhưng không phải là loài trăn đá đúng là có đầu, đuôi đỏ, chuyên ăn chuột, nhưng loài rắn đầu đỏ ở đây lại không ăn chuột bao giờ và có nhiều điểm khác biệt hoàn toàn với trăn đá, đặc biệt là cái mõm không giống nhau[15]

Nhìn chung, ngươi dân xã Tràng Đà, thành phố Tuyên Quang đã phong một loài rắn lạ thường xuyên xuất hiện tại địa phương là “rắn thần”. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại khẳng định đây chỉ là một loài rắn nước vô hại có tên là rắn sọc khoanh. Đó là một loài rắn có đầu và đuôi đỏ chót, hay xuất hiện quanh đền Cấm. Người dân cho rằng đây là một ngôi đền rất thiêng, và những con rắn đỏ, còn gọi là "ngựa ngài", chính là phương tiện đi lại của các bậc thần linh ở nơi đây. Xung quanh những con rắn này đã xuất hiện nhiều câu chuyện mang đậm màu sắc huyền bí, kì dị mà không một ai có thể kiểm chứng.

Điều này khiến chẳng ai dám "mạo phạm" vào loài "rắn thần". Tuy nhiên, danh tính thật sự của "rắn thần" đã được công bố, nó chỉ là một loài rắn nước vô hại có tên là rắn sọc khoanh, sinh sống tại nhiều địa phương trải dài từ miền núi phía Bắc cho đến khu vực Bắc Trung Bộ. Do có hoa văn giống trăn nên chúng còn được gọi bằng nhiều tên khác như trăn lèn, trăn đá, trăn lạt. tùy theo từng địa phương. Trái ngược với những tin đồn đáng sợ, "rắn thần" thực sự là một loài rắn không có nọc độc và rất hiền lành đối với con người. Việc "thần thánh hóa" rắn sọc khoanh dường như lại là điều tích cực, vì nó bảo vệ cho loài rắn này không bị con người xâm hại[16].

Lạng Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tục thờ rắn và tín ngưỡng thờ thần sông của người Xứ Lạng thì rắn là vật linh được thờ với ý nghĩa là biểu tượng của vị thần sông nước. Thần sông được thờ dưới nhiều hình thức khác nhau như thờ cá chép, rồng, rắn, giao long, thuồng luồng nhưng phổ biến nhất vẫn là thờ rắn và người Việt cổ xem rắn như là vật tổ của mình. Đối với Lạng Sơn, tục thờ rắn và tín ngưỡng thờ thần Sông có ở cộng đồng cư dân nông nghiệp sinh sống dọc theo các con sông lớn: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang. Ở đây, vật linh được thờ đều là rắn.

Đây là loại hình tín ngưỡng rất tiêu biểu, độc đáo và đặc sắc của người Xứ Lạng thể hiện qua các truyền thuyết, di tích và lễ hội liên quan đến tục thờ rắn, ở các địa phương có sông lớn chảy qua, nơi nào cũng có một vài truyền thuyết, di tích, lễ hội nổi tiếng liên quan đến tục thờ rắn: thành phố Lạng Sơnđền Kỳ Cùng, đền Cửa Đông (đền Bạch Đế), ở huyện Lộc Bình có di tích đình Vằng Khắc (đền Khác Uyên), thần tích xã Vân Mộng, huyện Bình Gia, Tràng Định có lễ hội "phài lừa" Văn Mịch, Nà Lình; huyện Cao Lộc có gia phả họ Đinh ở bản Mòng. Đền Kỳ Cùng Tỉnh Lạng Sơn có một số di tích thờ rắn.

Đền Kỳ Cùng, đền Khác Uyên (đình Vằng Khắc), đền Bạch Đế (đền Cửa Đông), nội dung thờ tự tại di tích thường được chép là thờ thuỷ thần, hoặc thờ giao long. Sách Sại Nam nhất thống chí chép về đền Kỳ Cùng như sau: ở bên tả sông Kỳ Cùng thuộc xã Vĩnh Trại, châu Thoát Lãng có con giao long thành thần đào hang ở đây, đền rất thiêng. Đền Khác Uyên cũng được nhắc đến tương tự như vậy. Riêng đền Bạch Đế thì được chép là thờ Thuỷ thần đền Bạch Đế ở phía đông tỉnh thành, thuộc địa phận xã Mai Pha, Châu Ôn, thờ thuỷ thần.

Trong truyền thuyết, thần tích về các di tích này thì đây đều là những di tích thờ rắn với tư cách là vị thần sông nước. Liên quan đến tục thờ rắn có rất nhiều truyền thuyết, dị bản về nguồn gốc các di tích và lễ hội, nội dung của các truyền thuyết khá thống nhất với môtíp truyện ông Dài, ông Cụt là người dân vùng ven sông đi đánh cá vớt được một quả trứng lạ, cứ vứt xuống sông lại vớt đựơc đúng quả trứng đó. Đến lần thứ ba thì họ đem về nhà cho gà ấp hoặc ủ trong thúng trấu, trứng nở ra rắn, rắn sống với người và được nuôi dưỡng, chăm sóc như con, trong nhiều tình huống khác nhau (theo người đi kiếm ăn, bị nghi kỵ là ác thú vì hình dáng khác thường), rắn bị chém cụt đuôi nên có tên là Cộc, Cụt.

Sau đó rắn trở thành vị thần cai quản khúc sông và được nhân dân lập đền, miếu thờ. Mang ơn người nuôi dưỡng, mỗi khi nước lên cao, rắn lại hiện lên cứu giúp theo tiếng gọi của dân làng. Rắn trở thành vị thần bảo hộ cho xóm làng, được thờ cúng như vị thành hoàng của làng. Hằng năm dân làng mở hội tế lễ, cầu cúng, tổ chức đua thuyền, đua bè mảng. Tuy nhiên, các truyền thuyết này cũng mang đậm màu sắc địa phương với nhiều tình tiết khác nhau. Trong đó hình ảnh con sông Kỳ Cùng, cuộc sống của cư dân miền sông nước Xứ Lạng với những phong tục tập quán đặc thù hiện lên rất rõ nét.

Rắn là vị thần sông thường được nhân dân Lạng Sơn thờ cúng trong các ngôi đền, miếu được dựng lên ở nơi có địa thế đẹp, phong cảnh hữu tình sát bờ sông, thường có mặt hướng ra sông. Cũng như nhiều nơi, tục thờ rắn, thờ thần sông luôn gắn liền với hội đua thuyền, bơi chải, hội rước nước. Ở Lạng Sơn, tính địa phương của lễ hội thể hiện ở lễ hội đua bè mảng, thường được gọi theo tiếng Tày "phài lừa". Đây là loại hình lễ hội rất đặc sắc của người Lạng Sơn. Trong các lễ hội này, tín ngưỡng thờ rắn thể hiện rõ nét nhất là ở nghi thức cúng lễ hoặc trò diễn dân gian. Hội đình Vằng Khắc có nghi thức bơi thuyền là trò diễn tái hiện (tưởng nhớ) cảnh rắn thần đánh nhau với thuỷ quái để cứu giúp dân làng.

Thông qua hình ảnh lực lượng đua thuyền, trò lật thuyền giữa sông, trò chơi có ý nghĩa biểu dương sức mạnh vô song, oai hùng của thần rắn, diễn tả cuộc chiến cam go quyết liệt của rắn thần để diệt trừ thuỷ quái, đem lại sự bình an cho sông nước, cho dân làng. Có thể thấy, tục thờ rắn gắn với tín ngưỡng thờ thần sông của Lạng Sơn vừa mang những nét chung của tín ngưỡng thờ thuỷ thần của Việt Nam, vừa mang những nét đặc trưng riêng của vùng sông nước của miền núi Lạng Sơn, đây lại là loại hình tín ngưỡng rất độc đáo, chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc, những giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc tỉnh Lạng Sơn[17].

Sơn La[sửa | sửa mã nguồn]

Một con rắn hổ mang chúa ở Việt Nam, chúng được người dân vùng Tây Bắc đồn thổi và thờ cúng

Người dân vùng Tây Bắc truyền tai nhau câu chuyện mang đầy màu sắc thần bí về một con rắn hổ chúa dài tới hơn 4m, đen sì bỗng dưng tìm đến ở tại nhà dân ở xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, Sơn La do hoảng sơ, gia chủ đã lập miếu cho rắn ở và ngày ngày chăm bẵm, phụng thờ hết sức tôn nghiêm, thành kính. Nhiều người từ rất nhiều nơi tìm về Tông Lạnh mong được “diện kiến bà chúa rắn” để thỏa chí tò mò và xì xụp hương khói “mong bà phù hộ”. Sự mê muội, hiếu kỳ của cả ngàn người ấy không những khiến đời sống của người dân ở xã miền núi này xáo động, miếu nơi “bà chúa” đang “ngự” nằm ngay trong sân nhà. Người dân tự đặt bát nhang, hương hoa la liệt, khói hương nghi ngút cả một góc sân.

Nhân chứng kể lại con rắn hổ mang to cỡ cổ chân người, nặng 4,2 kg xuất hiện tại nhà nhưng không gây hại, sau khi được thả, thì đúng một năm sau nó lại xuất hiện Mọi người cho rằn nó là rắn thiêng, “rắn thần”. So với năm ngoái, mãng xà đó nặng hơn gần 1 kg (5 kg) và dài hơn 4m. Đầu có hình chữ thập màu vàng, thân đen, cách 7 cm lại có một vòng nhỏ màu trắng. Gia đình liên xây miếu cho mãng xà trú chân, ai cũng tôn kính gọi ngài là “bà rắn” hay “bà chúa rắn”. Tuy vậy nhiều người dân địa phương cũng biết đó là một con rắn chúa bình thường, chính quyền cũng khẳng định, đó chỉ là một con rắn bình thường, không có chuyện gì to tát, thần bí như nhiều người đồn thổi, người dân nghe theo những ma mị nên mới hiếu kỳ kéo đến xem[18].

Thái Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Nguyên có câu chuyện thần bí về “Hang máng lợn” có nhiều rắn nên không ai dám vào và chuyện về bầy rắn trong kho tiền “Hang máng lợn” nằm ở xã Trung Lương, huyện Định Hóa. Trước đây hang chính là nơi cất giấu của Kho bạc Nhà nước. Người dân cho rằng có bầy rắn ngự luôn canh giữ kho tiền Kể từ khi kho bạc được rời đi, người dân nơi đây đã vào bên trong để khám phá những điều mà họ vẫn cho là rất bí hiểm của nơi cất giữ tiền. Có câu chuyện về ái chết bí ẩn của 5 mẹ con đã chết trong hang nhưng chắc chắn là không phải do rắn cắn. Còn chuyện những nơi có người chết, theo tâm linh của người dân thì đó thường là nơi thiêng liêng, ở trong hang có nhiều rắn vì đó là khu rừng rậm rạp, có nước nên thường ẩm ướt là nơi cư trú của nhiều loài rắn, có cả những loại rắn độc. Chính vì thế mà ít người dám vào trong hang[19].

Quảng Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có ngôi miếu thờ Thần Rắn gắn với các truyền thuyết. Tại Hoành Bồ, với người dân Hoành Bồ, rắn không phải là một loài vật thông thường. Rắn đã có trong truyền thuyết và nhẹ nhàng đi vào mọi ngõ ngách đời sống của người dân. Thậm chí người Hoành Bồ còn lập ba ngôi miếu thờ loài vật linh thiêng này. Nơi sơn thủy hữu tình, ngôi miếu nhỏ tựa lưng vào núi, mặt quay ra con suối nước chảy rì rào. Bóng cây si già ngả xuống mặt hồ yên ả. Gọi là ngôi miếu nhưng thực chất nơi thờ cúng ông rắn lại là một cái hang nhỏ.

Trong hang, hương vẫn nghi ngút. Đây không phải miếu thờ ba ông rắn. Chính xác đây là miếu ông Cộc, một trong ba ông rắn được người dân tôn lập đền thờ. Vì có công giúp nhiều người dân trong vùng nên được sắc phong Đệ Nhị Long Vương Thượng Đẳng Thần. Và Vị thần núi Mằn, cha đẻ của ba ông Rắn, nguồn cơn của những câu chuyện liêu trai, kì bí. Sở dĩ có ngôi miếu này là bởi ẩn chứa sau nó là một truyền thuyết về mối tình của người con gái đẹp nhất Hoành Bồ với vị thần của núi Mằn[20].

Miếu ông Dài là một trong 3 vị Thần Rắn ở Hoành Bồ và gắn với truyền thuyết người gái họ Hoàng ướm phải đã mang thai bọc trứng nở ra ba con rắn khổng lồ nhìn rất hung dữ, ba ông Rắn thiêng được người dân lập đền thờ chính là 3 vị Thủy thần. Cách miếu ông Cộc, miếu ông Dài cũng nằm ngay cạnh dòng sông xã Thống Nhất. Ông Dài được phân chia cai quản một đoạn sông dài, mênh mông sóng nước. Sự tích miếu ông Cộc, ông Loang, ông Dài cũng giải thích một quy luật tự nhiên của dòng sông ngầm, xuyên qua các dãy núi, giải thích về quy luật dòng sông chảy ngược, quy luật về dòng thủy lưu[21].

Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Giang có tin đồn về việc rắn thần xuất hiện tại thôn Tân Sơn, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang khiến người dân ở đây xáo trộn cuộc sống. Một con rắn màu vàng xuất hiện, dâng làng lập bàn thờ. Khoảng 10 ngày sau, con rắn chết, họ còn dành hẳn một khu để thờ cúng. Nhiều người khẳng định đây là con rắn nước. Vì quá mê tín, một số người ở huyện Tân Sơn đã tự tôn con rắn lạ thành “thần” và kéo theo hàng loạt xáo trộn, thậm chí là mất trật tự trị an ở địa phương. Nhiều người vượt 50–70 km tới để tận mắt xem rắn thần. Rất nhiều người dân và khách thập phương nghe tin đồn đến xem rắn đều khẳng định đó là rắn nước, không có gì đặc biệt nhưng con rắn chết được thờ cúng như "thần thánh"[10].

Về sắc vàng của rắn thần, hiện nay tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn nuôi cá thể trăn đột biến có màu sắc vàng:

Bắc Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân khắp nơi kéo đến ngôi đền thờ Thái sư Lê Văn ThịnhBắc Ninh để chiêm bái pho tượng đá tạc hình rắn khổng lồ trong miếu Xà Thần, bảo vật quốc gia này không phải rồng mà là rắn. Đây là pho tượng rồng độc đáo, hình dáng tượng nửa mình rắn, nửa mang tư thế và móng vuốt như rồng, bức tượng này được ghi song song hai tên: rồng đá và xà thần, có quan điểm tượng mô tả một con rắn. Điều này cũng tương đồng với một số ý kiến cho rằng tại đền thờ một vị quan thì không thể có rồng, nó là rắn thần, là xà thần thời Lý, có hình dáng là rắn rất rõ nét[22][23].

Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn lục sừng Phan xin phan là loài rắn duy nhất ở Việt Nam cho đến nay có sừng trên đầu

Ở làng Kính Nỗ, xã Uy Nỗ huyện Đông Anh, Hà Nội, người dân còn xây một ngôi miếu thờ Rắn Thần có mào. Người dân nơi đây đều sợ hãi, cung kính thờ Thần Rắn rất trang trọng. Do người làng Kính Nỗ bắt được con rắn màu xám to bằng bắp tay, trên đầu có cái mào đỏ chót như mào gà, khâu miệng rắn lại rồi đem ra chợ bán, nhưng thợ rắn chẳng dám mua. Nhìn cái mào đỏ chót trên đầu, họ đều bỏ chạy, theo họ, rắn có mào là rắn đã thành tinh, rất linh thiêng, nên không dám mua.

Người dân đã xây miếu thờ Rắn Thần ở ngay gốc cây đa Trong miếu thờ Rắn Thần có mào ở Đông Anh luôn có trứng gà. Hàng ngày nhân dân thờ cúng, đặt trứng gà, món ăn yêu thích của Thần Rắn vào trong miếu. Hiện ở Việt Nam, có một loài rắn duy nhất có sừng đó là rắn lục sừng Fansipan (Trimeresurus cornutus) thuộc họ Viperidae. Tuy nhiên, chiếc sừng của nó không phải nhú từ trong đầu ra mà hình thành từ lớp vẩy dầy trên hai mí mắt của chúng[11]. Ngoài ra dân làng Vạn Phúc, huyện Hà Đông, Hà Nội xôn xao tin đồn “thần xà” nhập vào người dân, họ tin vào chuyện “nhập thần” tới mức tổ chức cúng trứng sống, con rất linh đình[10].

Nam Định[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn lục Pit Viper ở vườn quốc gia Bạch Mã được ghi nhận là loài rắn có sắc xanh

Còn có sự kiện cặp vợ chồng rắn thần xuất hiện ở Nam Định. Gia đình một người ở xóm Phố, xã Trung Thành, huyện Vụ Bản thấy đôi rắn ở cây đa. Sự việc thu hút rất đông người dân đến khấn vái, tạ lễ. Họ còn tự xưng hai con rắn lạ này là “vợ chồng”, cứ mỗi buổi trưa, hai con rắn lạ trên lại lên ngọn cây đa cổ thụ trong ngôi miếu thờ Đức Khổng Tử để hóng mát[10]. Nam Định còn có câu chuyện Bạch xà xuất hiện trên ngai vua Trần. “Ông rắn” dài khoảng 1,8m, màu trắng, đường kính chỗ to nhất khoảng 3 cm, thân màu trắng, có một vạch màu sẫm xanh và sọc màu nâu mờ chạy dọc cơ thể, trên đầu có mào màu xanh đỏ.

Rất nhiều người đã chụp được ảnh rắn trắng. Từ khi có tin “thần Bạch xà” xuất hiện, ngôi đền vốn đã có tiếng linh thiêng lại càng thu hút nhiều du khách đổ về với sự tò mò và tấm lòng thành kính. Ngày “ông rắn” xuất hiện chính là ngày diễn ra chợ Viềng hàng năm. Thấy chuyện lạ, người dân đến lễ càng đông, ai cũng kính cẩn dâng hương. Rắn trắng xuất hiện và chỉ bò xung quanh bốn ngai thờ của bốn vị vua đầu tiên của triều Trần nhưng chủ yếu là ngự trên ngai của Trần Nhân Tông.

Hiện tượng rắn trắng xuất hiện tại đền Trần là một điều hi hữu, gây xôn xao dư luận trong suốt nhiều năm. Nhiều người cho rằng, rắn trắng cũng chỉ là do bị biến đổi gen. Rắn trắng xuất hiện ở đền Trần cũng chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên, do xung quanh đền có nhiều rắn. Những năm gần đây đền xây dựng nhiều hạng mục, nên rắn không có chỗ ở, chúng có thể chui vào sống trong đền Trần. Rắn trắng xuất hiện trên ngai vua Trần có thể là sự tình cờ[24]

Thanh Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Suối cá tại Cẩm Lương, nơi đây có miếu thờ Thần Rắn (Ngao Vương)

Ngôi đền thờ thần rắn được biết đến hiện nay ở thôn Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy. Tại đây có một dòng suối rất nhiều cá. Tương truyền, cá ở đây do một thần rắn bảo hộ, che chở. Người dân tin rằng, ai làm hại tới những con cá sống ở đây thì sẽ chuốc lấy những hậu quả khôn lường. Suối cá thần Thanh Hóa gắn với sự tích thần rắn là những vị thần được dân lập miếu thờ bên bờ suối. Về sự tích thần rắn, người trong thôn kể rằng đã xưa lắm, cứ vào tiết thanh minh các “ông rắn” cỡ bằng ngón tay lại bò ra nhiều đến hàng nghìn hàng vạn. Thi thoảng còn xuất hiện đôi rắn trắng đen bơi qua bơi lại trên mặt suối. Người dân tin rằng thần rắn sẽ phù hộ cuộc sống ấm no, trở thành một phần đời sống tâm linh của người dân nơi này[25].

Đền thờ Thần Rắn là đền thờ đại tướng Ngao Vương, và suối cá Cẩm Lương và Cẩm Liên (huyện Cẩm Thủy) trong miền đất người Mường hiện nay chính là những vũng cá cấm của người Thái, nơi đàn cá được cả cộng đồng bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ cùng nhau đánh bắt một lần trong dịp lễ tết hàng năm. Trước đây, rất nhiều dòng tộc lớn của người Thái đã cai quản các vùng đất này và tạo nên các vũng cá cấm (một phong tục lâu đời của người Thái). Cơ sở để đặt nghi vấn này chính là từ đền thờ thần rắn, loài linh vật thiêng liêng của người Thái vốn tự coi mình là Ngu Hống (thuồng luồng, rắn hổ mang có mào đỏ)[26][27]

Người dân ở đây vẫn truyền miệng về nguồn gốc của loài cá thần bắt đầu từ một truyền tích về thần rắn, về một người vợ vô tình xúc được một quả trứng lạ mang về cho gà ấp thử, trứng nở được một con rắn, hai vợ nuôi rắn. Từ khi có rắn trong nhà, ruộng đồng có đủ nước cấy cày, cảnh hạn hán kéo dài trong vùng không còn. Rắn sống với gia đình và bản làng người Mường trong cảnh thanh bình, no ấm. Nhưng một đêm trời mưa to, sấm chớ, sáng ra dân làng thấy xác Rắn nằm chết dạt vào chân núi Trường Sinh, dân làng chôn ngay dưới chân núi và lập đền thờ ngay trên mộ vì chính Rắn đã đánh nhau với thủy quái về phá hoại bản làng và được Thượng đế phong thần hiệu Tứ phủ Long Vương[28].

Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Có chuyện kỳ bí trong vùng còn xuất hiện không ít đồn thổi về “thần rắn” cụt đuôi giúp Nam Thôn được bình yên, an cư lạc nghiệp. Cho đến nay, ở làng Nam Thôn, xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An vẫn lưu truyền tập tục kì lạ mang tên Cầu đảo hàng năm nhằm “mượn” nước trời. Đây là nơi có nhiều huyền tích lạ quanh tục Cầu đảo và “thần rắn”, mỗi khi “thần rắn” xuất hiện là thời điểm ấy mùa màng thuận lợi “Thần rắn cụt đuôi” án ngữ cửa đền và dân gian quanh vùng luôn truyền tụng câu chuyện kỳ lạ về “thần rắn” quẩn quanh trên đền Hạ. Trước đây có người đi chăn bò thấy dấu của con rắn nằm như một đôi trai gái làm tình ngay giữa đền”, phát hiện ra một con rắn to, đuôi bị cụt, nặng không dưới 30 kg. Trên đầu nó màu đen có hình chữ thọ, miệng nó lại không có lưỡi.

Bà cứ nghĩ con rắn như linh hồn của thần linh hiện về nên bà Thường đã làm lễ cúng tế. Và chuyện rắn “khủng” xuất hiện ở đền Hạ đã nhanh chóng lan ra khắp vùng chỉ sau chưa đầy một ngày. Nghe kể, từ sau khi biết có chuyện “thần rắn” về làng, số lượng người đến cúng tế ở đền ngày càng đông. Người ta truyền tai nhau rằng đền thiêng là nhờ “rắn thần” linh ứng xuất hiện, mỗi khi có “cụ rắn” xuất hiện là bà con nơi đây làm ăn được mùa.Nếu nhìn nhận “rắn thần” ở đền Hạ trên khía cạnh tích cực thì đây là một trong những minh chứng sống động cho thấy rắn là một linh vật có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần[29].

Hà Tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Loài rắn Oligodon cattienensis ở Cát Tiên có màu sắc đa dạng

Một con rắn kỳ lạ ở bãi kho thôn Tân Quang, xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh đã nhanh chóng được người dân "suy tôn" là "xà linh" và được người dân canh phòng bảo vệ nghiêm ngặt, hàng nghìn người dân đã đổ về để xem một con rắn không lưỡi đẻ trứng và biến đổi màu sắc. Một ngôi miếu vừa được dựng nên từ số tiền công đức của khách thập phương khi đến chiêm ngưỡng "xà linh". "Xà linh" khi mang ra sân kho được "ngự" dưới chân thiên đài (một ngôi miếu nhỏ thờ ngoài trời để thờ các vong hồn "không nơi nương tựa").

Đặc biệt, "xà linh" rất hiền, ai đến gần cũng có thể sờ mó hoặc cầm nắm mà không phản ứng gì, "xà linh" có thể biến đổi nhiều màu sắc trong ngày, lúc là màu đen, lúc màu hồng phớt trắng, lúc màu vàng, lúc màu nguyên thủy của rắn nước, dù không có lưỡi nhưng "xà linh" rất nhạy cảm, "xà linh" luôn nằm hoặc quấn quanh con hổ phía Đông dưới chân thiên đài chứ không bao giờ nằm quanh con hổ phía Tây, mỗi ngày lại xuất hiện một con cóc vui chơi cùng "xà linh".

Nhìn chung con rắn trên thuộc loại rắn nước bình thường. Về chuyện con rắn trên không có lưỡi là người dân nhìn nhầm. Chuyện rắn có thể biến đổi nhiều màu sắc trong ngày cũng là chuyện khó tin vì ở Việt Nam rất ít loài rắn có thể biến đổi màu sắc, chỉ chuyển từ thể đậm sang thể nhạt. Rắn là một loài rất hiền, chỉ khi giẫm đạp lên chúng hoặc làm chúng đau thì mới cắn lại người, nếu vuốt ve hoặc thậm chí chơi với chúng như một cách thuần từ thì chúng sẽ để yêng[30]

Quảng Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Tại xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình có hang Tổ Mộ, thuộc vùng rừng xã Tân Hóa, xưa kia, đây vốn là nơi giao tranh ác liệt của những thế lực phong kiến cát cứ, một bên là Chiêm Thành, một bên là Vạn Tượng (tên nước Lào cũ), thay nhau chiếm đóng. Mãi cho đến thời chúa Nguyễn thì tình hình mới ổn định trở lại. Tuy nhiên, rất nhiều của cải cướp bóc, những binh khí, đồ gia dụng đã được chôn dấu một cách bí ẩn. Đã có rất nhiều lời đồn thổi về những kho báu cổ được chôn giấu ở mảnh đất này, mà cụ thể hơn là trong những hang động ngầm bí ẩn của đại ngàn Trường Sơn.

Một câu chuyện vào thời điểm 50 năm trước, có thông tin lan truyền về một người đàn ông trong một lần đi rừng tìm thấy một cái hang có rất nhiều đồ đồng cổ, lẫn trong đó là một thanh kiếm lệnh bằng vàng được chạm khắc tinh xảo sau đó mò ra khỏi hang. Tuy nhiên, ra đến cửa hang thấy hai đốm sáng đỏ rực, đó là ánh mắt của một con hổ mang chúa cực lớn đang cuộn tròn ngay trước cửa. Mãnh thú nhấc cái đầu lên nhìn, thở phì phì tiến lại, nạn nhân chắp tai vái, rồi chạy tuốt vào sâu bên trong hang, trả lại tất cả những đồ vật mình đã lấy về chỗ cũ thì lại mò ra cửa hang, nhưng không thấy bóng dáng của con rắn hổ mang chúa. Một thời gian ngắn sau, người sơn tràng này mắc bệnh và chết một cách bí hiểm[31].

Ở Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Đình làng Phú Bài, xã Thủy Phù, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế cũng lập bài vị thờ ông Dài, ông Cụt. Theo truyền thuyết, đây là hai con rắn, một dài một cụt vốn là con của thần gió từng hiển linh giúp đỡ dân làng, đem lại mưa thuận gió hòa, nên được dân làng tưởng nhớ, tôn xưng là thủy thần. Ở Huế có câu chuyện rắn báo thù và giết đi đứa con trẻ mới đầy 6 tháng tuổi con của người đàn ông chuyên bắt và ăn thịt rắn được người dân làng An Truyền bàn tán xôn xao. Câu chuyện được người dân thêu dệt hết sức li kì, mang đầy tính liêu trai, nhưng đằng sau cái chết con của người ăn thịt rắn vẫn có rất nhiều điều kì bí, không lý giải được.

Câu chuyện này về người hấy cặp rắn to như “thanh xà, bạch xà xuất” hiện trước cổng nhà và bị xua đuổi cả đôi rắn đi, đôi rắn tự nhiên biến mất. Nhưng kể từ ngày đôi “thanh xà, bạch xà” ngự trị chễm chệ trước cổng báo hiệu điềm dữ đến, vào chập choạng tối, lại thấy con rắn học trò xuất hiện. Cứ đến nửa đêm thì nhiều loài rắn khác nhau lại bò về, khi làm lễ cúng cô hồn thì thấy con rắn đen, to bằng cổ chân, dài bằng khoảng 1m, con rắn này lại cụt đuôi nằm khoanh tròn chễm chệ dưới chân tượng Phật. Cứ 3 ngày, rắn cụt đuôi lại ghé nhà một lần. Nhiều sự việc trùng khớp kể từ ngày “xà nhập trạch”, Sau khi nhập trạch được 4 tuần, thì vào một đêm tối đó, mọi người không thấy “thần” rắn cụt đuôi, đôi “thanh xà, bạch xà”.

Câu chuyện xà nhập trạch xuất hiện cả ba năm nay, bất kể người dân nào trong làng đều biết. Tung tích của ba con rắn “thần” được người dân lí giải hết sức kì bí, có thể các “ngài” đã di chuyển sang các đồi núi lân cận ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa. Sự biến mất đầy bí ẩn của ba con rắn khiến gia đình quyết định lập bàn thờ để hàng đêm khấn vái, quỳ lạy van xin tha thứ tội lỗi đã gây ra, còn có chuyện chuyện “có một cặp rắn hổ mang” sau khi bị một người dân trong làng giết chết, con rắn còn lại đêm nào cũng về báo thù, dân làng An Truyền sợ đến nỗi hễ mỗi lần ở trong nhà hay ra đường trên đầu đều phải trết bùn, đội nón vì sợ bị rắn cắn trúng đầu[32].

Bình Định[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định là vùng đất thuộc Vương quốc Champa cổ xưa, cư dân ở đây do ảnh hưởng của Ấn Độ giáo cũng có tục thờ rắn Naga. Trong số di tích kiến trúc tháp cổ Chăm-pa còn lại trên đất Bình Định, tại Dương Long thuộc xã Tây Bình, huyện Tây Sơn là cụm tháp chịu ảnh hưởng nghệ thuật Khơme rõ nét, đó chính là hình tượng rắn Naga. Rắn Naga ở tháp Dương Long được chạm khắc chi li, cầu kỳ, đa dạng, trang trí khá đậm đặc từ xung quanh chân tháp lên đến các cửa giả, cửa chính, các ô khám và viền xung quanh. Hình tượng rắn Naga trang trí nhiều ở tháp Dương Long đã nói lên quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa người Chăm, người Ấn Độ và người Khơme.

Hinh ảnh rắn thần Naga trong kiến trúc Champa cổ còn được lưu giữ lại

Ở sân chùa Hoa Tiên có một cây cốc đại cổ thụ, thân cây phải 3-4 người ôm. Người ta đồn rằng, dưới gốc cây có một kho vàng khổng lồ được người Hời (người Chăm) chôn giấu từ hàng trăm năm trước, nhiều nhân chứng còn khẳng định có một cặp bạch xà ngày đêm canh giữ kho báu không cho bất kỳ kẻ nào mạo phạm. Người dân cho rằng, ban đêm họ thường thấy ánh vàng sáng rực di chuyển xung quanh “thần mộc”. Họ đồn rằng, “vàng từ dưới đất chui lên hóa dạng con gà đi ăn” nhưng khi nghe tiếng động hoặc thấy bóng dáng con người là “đàn gà vàng” biến mất trong nháy mắt, người dân tin rằng những đàn gà vàng đi ăn trong đêm chính là vong hồn của những trinh nữ bị chôn sống theo kho vàng hóa thân mà thành.

Trong văn hóa người Chăm trước kia có rất nhiều giai thoại về việc sử dụng bùa ngải để trấn giữ những thứ quý giá của riêng mình hoặc của dòng tộc. Và hình thức “yểm bùa” bằng trinh nữ cũng đã từng được sử dụng. Linh hồn sẽ không được đầu thai nên sẽ phải làm “thần giữ của” mãi mãi cho đến khi lời nguyền được hóa giải, người dân còn tin rằng kho vàng linh thiêng được một cặp rắn thần canh giữ suốt đêm ngày, không có người nào dám làm bậy. Truyền rằng, một hôm tại gốc cây đại thụ bỗng xuất hiện hai tượng Phật kì dị, nhiều người trong chùa nhìn thấy một cặp rắn khổng lồ thoắt ẩn thoắt hiện xung quanh “linh thụ”. Cặp bạch xà dài tới 4 thước và trên đỉnh đầu có mào đỏ rực như lửa.

Miền Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Hang mãng xà bên trong chùa Phước Điền, ở đây người ta thờ hai đôi rắn lớn dữ tợn, tương tuyền là đã xuất hiện ở đây

Với người dân miền Tây Nam Bộ, cùng với hổ, cá sấu thì rắn cũng là đối tượng phải dè chừng, đối phó và chinh phục. Ngày nay vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện, giai thoại về rắn. Người ta sợ rắn, muốn cầu thân với rắn và do thế, thờ rắn. Hình tượng con rắn trong văn hóa dân gian Tây Nam Bộ được thể hiện qua những câu ca lưu truyền từ rất lâu. Theo bước chân người mở cõi ở miệt đất này, hình tượng con rắn đã in đậm trong tâm thức của họ. Rắn đã trở thành một nét văn hoá trong đời sống của người bình dân Miền Tây[33].

Ở đồng bằng sông Cửu Long ngày nay vẫn lưu truyền nhiều giai thoại về rắn. Người ta sợ rắn, muốn cầu thân với rắn và thờ rắn do đó kể chuyện về rắn. Tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, Bến Tre có một ngôi đình gọi là Đình Rắn, tại đây vẫn lưu truyền về đôi rắn thần khổng lồ, hiền lành. Người dân Rạch Giá, Kiên Giang vẫn kể về đôi rắn thần ở đền Vĩnh Hòa bằng một niềm tin và thái độ tôn kính. Ngoài ra ở vùng U Minh hạ đến nay vẫn lưu truyền hững huyền kỳ về con rắn hổ mây khổng lồ.

Trong tâm thức của người dân Rạch Giá, khi đôi rắn thần xuất hiện cũng là lúc Ngài báo cho bà con trúng mùa. Hay trong truyền thuyết về Thiên Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười cũng nói đến đạo binh rắn giúp vị anh hùng đánh giặc Pháp. Cũng như nhiều làng ở tỉnh Long An thờ trăn rắn, một đối tượng gây hiểm hoạ cho con người khi khai phá, rừng cây đầm lầy, tục thờ cá đao cũng có ở nhiều nơi Nam Bộ, loại cá có ngạnh sắc như dao, gây thương tích cho con người, nếu nhiễm trùng cũng có thể dẫn đến tử vong

Văn hóa của khu vực Tây Nam Bộ khi các câu chuyện của nhân dân địa liên quan đến hai lớp tín ngưỡng là Tín ngưỡng thờ Hổ và tín ngưỡng thờ Rắn. Cơ sở của tín ngưỡng này gắn với buổi ban đầu đi mở đất, mở cõi của những cư dân người Việt đầu tiên trên vùng đất này điều này phản ánh cụ thể ở Đình Rắn, xuất hiện lớp tín ngưỡng đầu tiên là thờ thần tự nhiên (Cọp và Rắn) do các cư dân đến khai phá tạo nên. Hổ, rắn, cá sấu trở thành những đối tượng mà họ vừa cầu thân, thờ cúng vừa đấu tranh, chinh phục để tồn tại.

Nếu như hổ gợi nhắc về vị thần núi, chúa sơn lâm thì hình tượng rắn lại gợi nhắc về vị thủy thần là hai vị thần quan trọng bậc nhất trong thần điện của người Việt. Cặp biểu tượng Núi-Nước (Sơn-Thủy), Âm-Dương lại được tái hiện qua hai hình tượng Hổ-Rắn. Việc thờ hổ phản ánh ký ức kinh hoàng về sự tác oai tác quái của hổ đối với đời sống thì tính chất hiền của đôi rắn thần không hại ai bao giờ là sự khúc xạ của hình ảnh những con sông ngòi, kênh rạch Nam bộ vốn hiền hòa, thường xuyên bồi đắp phù sa cho những cánh đồng thẳng cánh cò bay, mang lại nguồn lợi thủy sản cho cuộc sống ấm no của người dân (khác với hình ảnh những con sông và mùa lũ hung hãn như ở miền Bắc và miền Trung)[34].

Người Miên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trưng bày ở Chùa Hang, Trà Vinh, phía trước cột thờ có hình một con rắn lớn

Trong tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Nam Bộ, huyền thoại rắn thần Naga chiếm một vai trò rất quan trọng. Tín ngưỡng này được giải thích bởi truyền thuyết lập quốc của người Khmer. Người Khmer thờ thần rắn với niềm tin thần là người làm chủ nguồn nước, tạo ra mưa thuận gió hòa cho các cư dân nông nghiệp lúa nước. Người Khmer thờ thần rắn với niềm tin thần là người làm chủ nguồn nước, đối với người Khmer, họ thờ con rắn Naga. Đối với đồng bào dân tộc Khmer, rắn Nagar được gọi là Niệk, biểu trưng cho nghệ thuật điêu khắc và văn hóa tín ngưỡng bản địa thờ rắn.

Trước đây, người Khmer vào khai hoang vùng đất Nam bộ, họ sống trên vùng đất ẩm thấp, nhiều rừng rậm, nước ngập quanh năm do chưa có hệ thống trị thủy. Đây cũng chính là điều kiện môi trường thích hợp với các loài bò sát: rắn, cá sấu, chim, cò quy tụ về sinh sống. Rắn Nagar là hình tượng cực kỳ phổ biến trong văn hóa Khmer, biểu hiện ý nghĩa đức Phật đã cảm hóa được rắn độc và thần rắn đã phát nguyện tùng phục, theo hầu đức Phật khi mưa to gió lớn. Nét đẹp văn hóa tôn thờ rắn Nagar xuất phát từ sự giao thoa gịữa tín ngưỡng Phật giáo và điều kiện môi trường sống của người Khmer.

Riêng về loài rắn, vốn có tính chất nguy hiểm nhất là rắn hổ mang. Rắn hổ mang tuy độc nhưng người Khmer đã sớm biết cách thuần hóa. Bởi từ lâu, đạo Phật luôn thể hiện rõ sự nhân đạo và rắn Nagar đã được đức Phật cảm hóa và từ đó đưa vào kiến trúc điêu khắc tại các ngôi chùa với ý nghĩa giáo lý, đức Phật đã cảm hóa được cái ác. Con rắn vốn có nọc độc gây chết người, nhưng vẫn được cảm hóa trở nên hiền từ và có ích vì nó biết tu theo Phật. Đây được xem là tư tưởng mang đậm truyền thống văn hóa tốt đẹp, có giá trị nhân văn sâu sắc của người Khmer.

Đối với người Khmer, thần rắn Naga có một vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh. Ngày nay, trong kiến trúc nhiều ngôi chùa của người Khmer thường có hình ảnh cầu vồng và rắn Naga tượng trưng cho cầu nối giữa trần gian và cõi Niết bàn. Các phù điêu Naga nơi mái cuốn của ngôi chùa người Khmer có ý nghĩa trong việc trừ tà, tránh hỏa hoạn và bảo vệ Đức Phật. Thường thấy là những chân cột cờ với 4 hình tượng rắn Naga trong chùa Khmer.

Chùa Xà Tón, xung quanh trang trí có hình viền rắn thần Naga

Hình tượng rắn Naga xuất hiện ở khắp nơi, từ nóc chùa, chân cầu thang chánh điện, chân cầu thang phòng đọc sách, chân cột cờ, trên những chiếc xe tang đưa người chết đến nơi hỏa thiêu tượng trưng cho vị thần đưa linh hồn người tốt lên cõi Niết Bàn. Khi xuất hiện, rắn Naga thường có phần đuôi uốn cong, phần đầu là hình ảnh của con rắn phồng mang với 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu hoặc 9 đầu. Mỗi dạng có một ý nghĩa biểu tượng khác nhau, không cái nào giống cái nào.

Rắn 3 đầu tượng trưng cho tam tài (Thiên-Địa-Nhân); 5 đầu tượng trưng cho ngũ hành (Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ); 7 đầu tượng trưng cho sự đắc đạo trong tu hành và 9 đầu chính là con đường dẫn lên thiên đàng. Tuy nhiên, phổ biến nhất trong các chùa Khmer ở Nam Bộ là rắn Naga 5 đầu. Sự xuất hiện của hình tượng rắn Naga trong các kiến trúc chùa là nét văn hóa đặc trưng của người Khmer Nam Bộ, góp phần tạo nên một không gian linh thiêng, huyền bí của các ngôi chùa Khmer Nam Bộ[35].

Rắn Nagar cũng là mô típ trang trí quan trọng trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Khmer Nam bộ. Tại các ngôi chùa Khmer, hình tượng rắn Nagar ngự trị trên các mái chùa, các đầu đao, cổng rào với ý nghĩa để xua đuổi tà ma và bảo vệ đức Phật. Ngoài ra cũng có hình tượng rắn Nagar được chạm trổ bằng xà cừ uốn lượn quấn quanh những cánh cửa chùa, trên những chiếc tủ đựng kinh sách, trên những chiếc xe tang đưa người chết đến nơi hỏa thiêu, tượng trưng cho vị thần đưa linh hồn người tốt lên cõi Niết Bàn[33].

Trong những ngôi chùa Khmer Nam bộ, rắn Naga xuất hiện khắp nơi, từ cổng chùa đến nóc chùa, đầu đao, thậm chí trên những cánh cửa tủ đựng kinh sách được các nghệ nhân điêu khắc rất công phu, phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thức, mang một nét hoa văn rất đặc trưng của kiến trúc Phật giáo Khmer[36]. Mỗi ngôi chùa Khmer là một bảo tàng về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc tượng pháp bích họa trang trí trên trần, trên cửa, cột, hàng hiên, bệ tượng, thân tượng, bất cứ ngôi chùa Khmer nào đều có thể nhìn thấy biểu tượng con rắn nhiều đầu được trang trí ở các góc mái, cổng rào, lan can, cột cờ. Với hình thể độc đáo gần giống với hình tượng rắn hổ mang với cái mang phình ra rất to, che phủ nhiều cái đầu, thường là số lẻ 5, 7, 9 đầu nhưng phổ biến nhất là 7 đầu[33]

Chùa Sóc Xoài, trang trí có hình rắn Naga ở dạng Hổ mang

Trong các ngôi chùa Khmer, rắn Naga ngự trên các mái chùa, các đầu đao để xua đuổi tà ma và bảo vệ đạo Phật. Ngoài ra cũng có hình tượng rắn Naga được chạm trổ bằng xà cừ uốn lượn quấn quanh những cánh cửa chùa, trên những chiếc tủ đựng kinh sách, trên những chiếc xe tang đưa người chết đến nơi hỏa thiêu tượng trưng cho vị thần đưa linh hồn người tốt lên cõi Niết Bàn Tavatimsa (Đâu Suất).[37]

Theo quan niệm của người Khmer, mỗi hình ảnh điêu khắc về rắn Naga có kết cấu, họa tiết số lượng đầu, cũng có ý nghĩa khác nhau theo những nội dung cụ thể mà các vị trụ trì muốn làm thông điệp gửi đến phật tử của mình thuận tiện trong viện tu hành và rèn luyện đạo đức theo giáo lý của đức phật. Xuất phát từ những sử tích và nhận thức, hình tượng rắn Naga đã trở thành một giá trị của biểu tượng có ý nghĩa, vừa mang giá trị tinh thần, mang lại sự bình an trong cuộc sống của người Khmer, vừa có vai trò như một họa tiết hoa văn được thể hiện trong điêu khắc kiến trúc chùa chiền, trên các phù điêu đền tháp, với ý nghĩa được xem là niềm tin và sự may mắn[37].

Trong tất cả ngôi chùa của người Khmer ở tỉnh Bạc Liêu nói riêng ta thường thấy hình ảnh rắn Naga xuất hiệu hầu hết ở các công trình tôn giáo như Chánh Điện, Giảng Đường, cổng chùa, ngôi Bảo tháp được các nghệ nhân điêu khắc rất công phu, phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thức, mang một nét hoa văn rất đặc trưng của nền kiến trúc phật giáo Khmer[37]. Du khách lần đầu đến các ngôi chùa của người Khmer ở miền Tây, hoặc Campuchia, đều thích thú, thậm chí sợ hãi khi chiêm ngưỡng hai con rắn khổng lồ 9 đầu chầu vào cổng. Chùa Mahatup, còn gọi là chùa Dơi, hay chùa Mã Tộc, Sóc Trăng, những tượng rắn đó được gọi là Nagat[38].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-the-gioi/vh-phuong-dong-nhung-van-de-chung/2010-tran-minh-huong-hinh-tuong-ran-qua-tuc-tho-va-huyen-thoai.html
  2. ^ a ă â Quan niệm về rắn ở các nước phương Đông
  3. ^ a ă â b c Vì sao loài người tôn thờ rắn
  4. ^ Rắn và tục thờ thủy thần của người Việt
  5. ^ Ly kỳ chuyện săn sơn dương giáp mặt với trăn đá và cướp mồi từ miệng hổ
  6. ^ Vì sao loài người tôn thờ rắn?
  7. ^ a ă â Thú vị hình tượng rắn trong các nền văn hóa
  8. ^ Những đền thờ động vật độc đáo
  9. ^ a ă â b Hình tượng rắn qua các tục thờ
  10. ^ a ă â b “Kì bí” chuyện các con vật biến thành "thánh thần"
  11. ^ a ă Dựng tóc gáy với những loài rắn có mào
  12. ^ a ă â Con vật trong truyện kể dân gian và tín ngưỡng thờ con vật của một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
  13. ^ Tản mạn về hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam
  14. ^ Những chuyện dựng tóc gáy quanh ngôi đền thờ rắn ở Tuyên Quang
  15. ^ Giải mã rắn lạ được coi là xà thần ở Tuyên Quang
  16. ^ Sự thật về loài rất thần cực thiên ở Tuyên Quang
  17. ^ Tục thờ rắn và tín ngưỡng thờ thần sông của người Xứ Lạng
  18. ^ Lạ lùng rắn hổ chúa vào nhà dân ở khiến cả xóm vái lạy
  19. ^ Bí ẩn bầy rắn độc canh khi giữ tiền khiến không ai dám đến gần
  20. ^ Bí ẩn rắn khổng lồ ở Quảng Ninh: Bà lão già trong ngôi miếu thờ Rắn
  21. ^ Đi tìm "cha đẻ" của ba con rắn khổng lồ trên đỉnh núi Mằn ở Quảng Ninh
  22. ^ Chiêm bái rắn khổng lồ tự cắn thân, xé mình ở Bắc Ninh
  23. ^ Rồng đá lạ: “miệng cắn thân, chân xé mình“
  24. ^ Chuyện ly kỳ về rắn trắng ở Đền Trần
  25. ^ Trong hang động ngàn năm
  26. ^ Chuyện chưa biết về suối cá thần ở Thanh Hóa
  27. ^ Giải mã chuyện chưa biết về suối 'cá thần' ở Thanh Hóa
  28. ^ Suối cá thần ở Thanh Hoá:Bí ẩn chờ giải mã
  29. ^ Tục thờ “thần rắn cụt đuôi” và chuyện cầu mưa kỳ lạ
  30. ^ Chuyện lạ rắn không lưỡi đổi màu
  31. ^ Rắn khổng lồ giữ kho báu trong hang Tố Mộ?
  32. ^ Thực hư rắn thần báo oán tại Thừa Thiên Huế
  33. ^ a ă â TRUYỀN THUYẾT VÀ HÌNH TƯỢNG RẮN THẦN NAGAR TRONG VĂN HÓA NGƯỜI KHMER
  34. ^ TÍN NGƯỠNG THỜ HỔ VÀ THỜ RẮN Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
  35. ^ Tục thờ rắn Naga của người Khmer Nam Bộ
  36. ^ Hình tượng thần rắn Naga trong chùa Khmer Nam bộ
  37. ^ a ă â Biểu tượng rắn Naga trong ngôi chùa Khmer
  38. ^ Bí ẩn ít biết về rắn thần 9 đầu khổng lồ ở chùa Khmer

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Leah Gordon (1985), page 50-1 The Book of Vodou, Barron's Educational Series ISBN 978-0-7641-5249-8.
  • Shannon R. Turlington (2002), page 84 The Complete Idiot's Guide to Voodoo, Pearson Education, Inc ISBN 978-0-02-864236-9.
  • Neil Philip (1999), page 6, Myths and Legends Explained, Dorling Kindersley ISBN 978-0-7566-2871-0.
  • Faulkner, Raymond O. (2010). Ancient Egyptian Book of the Dead. New York, NY: Fall River Press. pp. 67–68.
  • Mary Miller, Maya Art and Architecture (London: Thames and Hudson, 1999).
  • Sharer, Robert J. and Loa P. Traxler, The Ancient Maya (6th ed.). (Stanford: Stanford University Press, 2006).
  • Ringle, William M., Tomás Gallareta Negrón, and George J. Bey (1998) "The Return of Quetzalcoatl". In Ancient Mesoamerica 9(2): 183–232.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]