Tứ đại La hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tứ đại La hán (chữ Hán: 四大羅漢) là một danh xưng dùng để chỉ 4 vị tăng sĩ Ấn Độ thời Thích-ca Mâu-ni còn tại thế. Tương truyền, 4 vị tăng sĩ này được Thích-ca Mâu-ni giao phó trách nhiệm truyền bá Phật pháp sau khi Thích-ca qua đời.

Theo các sách "Di Lặc hạ sinh kinh" thời Tây TấnXá-lợi-phất vấn kinh thời Đông Tấn thì trước khi Phật nhập Niết-bàn đã phái 4 tỳ-kheoMa-ha-ca-diếp (Mahākāśyapa), Quân-đồ-bát-thán (Kundapadhaịiyaka), Tân-đầu-lư (Piṇḍolabhāradvāja), La-vân (Rāhula) "trụ thế bất niết bàn, lưu thông ngã pháp" (住世不涅槃,流通我法), tức ở lại thế gian để hoằng dương Phật pháp.[1] Do đó, 4 vị tỳ-kheo này được tôn xưng là "Tứ đại La hán" và là những tăng sĩ đầu tiên được xưng tụng bậc A-la-hán. Tuy nhiên hình tượng Tứ đại La hán rất ít khi được họa hình hoặc tạc tượng, nên rất ít người biết.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ M.V. de Visser (1919). The Arhats in China and Japan. Princeton University Press. tr. 62. ISBN 9780691117645. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]