Từ điển Việt–Bồ–La

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Từ điển Việt-Bồ-La)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trang bìa Tự điển Việt–Bồ–La Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum ấn bản 1651. Lưu ý chữ Annamiticum viết sai vì có 3 chữ "n"
Mục chữ "A".

Từ điển Việt–Bồ–La (tiếng Latinh: Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) là một cuốn từ điển bằng ba ngôn ngữ: La TinhBồ Đào NhaViệt do tu sĩ Công giáo và nhà từ điển học Alexandre de Rhodes biên soạn sau 12 năm hoạt động ở Việt Nam, và được Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide) ấn hành tại Roma năm 1651 lúc ông về lại Châu Âu.[1][2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi cuốn từ điển này ra đời, thì từ điển tiếng Việt chỉ có hai loại chữ viết: chữ Nhochữ Nôm.[1] Vào thế kỷ 1617 khi các giáo sĩ truyền giáo phương Tây sang hai xứ Đàng TrongĐàng Ngoài của người Việt thì họ bắt đầu tạo ra một hệ thống ghi âm tiếng Việt bằng chữ Latinh hầu giúp việc truyền bá đạo Công giáo. Nỗ lực của họ đúc kết bằng cuốn Từ điển Việt–Bồ–La do Alexandre de Rhodes soạn, trong đó có 8.000 từ tiếng Việt dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh.[1]

Trong lời tựa cuốn từ điển của mình, chính giáo sĩ de Rhodes đã tri ân công lao và đóng góp của các giáo sĩ Dòng Tên khác, đặc biệt là Từ điển Việt–Bồ–La (Diccionário anamita-português-latim) của Gaspar do Amaral và Từ điển Bồ–Việt (Diccionário português-anamita) của Antonio Barbosa (hiện cả hai đã thất truyền).[1][3]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn từ điển Việt–Bồ–La phần chính là phần từ vựng liệt kê 8.000 mục bằng chữ Quốc ngữ. Bổ túc thêm là phần phụ lục tóm tắt ngữ pháp tiếng Việt (Brevis Declaratio) và cách thức phát âm đương thời.

Ngoài giá trị lịch sử, cuốn từ điển này là cái mốc quan trọng trong việc định chế chữ Quốc ngữ, tức cách viết tiếng Việt bằng chữ Latinh. Lối chữ này dần được hoàn chỉnh bởi các nhà truyền giáo kế tiếp.[4][5]

Chính tả và cách ghi âm[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt-Bồ-La phản ảnh những âm vực nay đã biến mất trong tiếng Việt như những thí dụ sau đây:[6]

cách viết thế kỷ 17 chính tả ngày nay
khou᷄ không
đào᷄ đòng
dôi blá dối trá
blời trời
blu᷄́ nhúng
bua vua
mlẽ lẽ, nhẽ
plăn lăn
khŏở, thŏở thuở
ꞗai (ȸai) vai

Từ vựng cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ điển Việt-Bồ-La cũng ghi lại nhiều từ ngữ cổ, giúp việc đối chiếu và diễn âm những tác phẩm chữ Nôm đương thời mà nay đã mất hẳn trong tiếng Việt hiện tại. Một số thí dụ là:[6]

từ vựng thế kỷ 17 chữ tương đương ngày nay
là đá đá (sỏi đá)
phen lê phân bì
dượm gượm
khứng chịu, chiều theo
mựa chớ
nghỉ dễ bề
phô những

Từ điển Việt–Bồ–La và chặng đường của chữ Quốc ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ điển Việt–Bồ–La là một thành quả lớn cho việc san định chữ Quốc ngữ. Phải hơn một thế kỷ sau nữa, vào năm 1783 mới có một cuốn tự điển chữ Quốc ngữ thứ nhì. Cuốn này do giám mục Bá Đa Lộc soạn nhưng chưa kịp in. Sau đó, bản thảo được giám mục Jean-Louis Taberd dùng để soạn cuốn từ điển Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị in năm 1838Serampore, Ấn Độ, đưa chữ Quốc ngữ tiến thêm một bước dài.[4]

Mặc dù có chữ Quốc ngữ, việc truyền giáo của các giáo sĩ Tây phương tiếp tục chủ yếu dùng song hành chữ Nômtiếng Latinh trong các ấn phẩm tôn giáo trong thời gian 200 năm từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Chỉ sau khi người Pháp củng cố Liên bang Đông Dương và nền cai trị thành nếp thì chữ Quốc ngữ mới đạt ưu thế làm văn tự chính thức ở Việt Nam.[7]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]