Từ An Thái Hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Từ An Thái hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu
孝貞顯皇后
Hàm Phong Đế Hoàng hậu
East Dowager Empress.JPG
Nhiếp chính Đại Thanh
Tại vị 11 tháng 11 năm 18618 tháng 4 năm 1881
(19 năm, 148 ngày)
đồng nhiếp chính với Từ Hi Thái hậu
Kế nhiệm Từ Hi Thái hậu, nhiếp chính dưới thời Thanh Đức Tông
Hoàng hậu Đại Thanh
Tại vị 24 tháng 7 năm 185222 tháng 8 năm 1861
(9 năm, 29 ngày)
Tiền nhiệm Hiếu Toàn Thành hoàng hậu
Kế nhiệm Hiếu Triết Nghị hoàng hậu
Thông tin chung
Phối ngẫu Thanh Văn Tông
Hàm Phong hoàng đế
Tước vị Từ An Đoan Dụ Khang Khánh Chiêu Hòa Trang Kính Mẫu Hậu hoàng thái hậu
(慈安端裕康庆昭和庄敬母后皇太后)
Thụy hiệu Hiếu Trinh Từ An Dụ Khánh Hòa Kính Thành Tĩnh Nghi Thiên Tộ Thánh Hiển hoàng hậu
(孝貞慈安裕慶和敬誠靖儀天祚聖顯皇后)
Thân phụ Mục Dương A
Thân mẫu Khương Giai thị
Sinh 12 tháng 8, 1837(1837-08-12)
Quảng Tây, Liễu Châu
Mất 8 tháng 4, 1881 (43 tuổi)
Tử Cấm Thành
An táng Phổ Tường Dục Định Đông lăng (普祥峪定東陵), Đông Thanh Mộ

Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu (chữ Hán: 孝貞顯皇后; Mãn Châu: hiyoošungga jekdun iletu hūwangheo; 12 tháng 8 năm 1837 - 8 tháng 4 năm 1881), được biết đến như Từ An Hoàng thái hậu (慈安皇太后) hoặc Đông Thái hậu (東太后), là vị Hoàng hậu của Thanh Văn Tông Hàm Phong hoàng đế và là Hoàng thái hậu dưới thời Thanh Mục Tông Đồng Trị hoàng đế, đồng nhiếp chính với Từ Hi Thái hậu.

Năm 1861, Hàm Phong Đế qua đời, di chiếu cho Cố mệnh Bát đại thần cùng nhiếp chính cho Tân hoàng đế là Đồng Trị hoàng đế còn nhỏ tuổi. Từ An Hoàng thái hậu đã cùng Từ Hi Hoàng thái hậu, dưới sự giúp đỡ của Cung thân vương Dịch Hân (奕訢), đã tạo nên chính biến phế trừ cả tám đại thần. Sau sự kiện này, Từ An Thái hậu và Từ Hi Thái hậu đồng nhiếp chính cho Tân hoàng đế, trở thành 2 vị Hậu cung duy nhất của nhà Thanh thực hiện Thùy liêm thính chánh (垂簾聽政).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiếu Trinh hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị.

Từ An Hoàng thái hậu là người bộ tộc Nữu Hỗ Lộc thị (鈕祜祿氏), thuộc Mãn châu Tương Hoàng kỳ. Dòng dõi của bà chính là thuộc dòng Hoằng Nghị công Nữu Hỗ Lộc thị thế gia, hậu duệ của Ngạch Diệc Đô. Hoằng Nghị công Nữu Hỗ Lộc gia có 16 phòng, thì dòng dõi của bà xuất thân từ phòng thứ 3 trong Hoằng Nghị công phủ.

Thủy tổ của dòng dõi này là Xa Nhĩ Cách (車爾格), đầu đời Thanh làm Thượng thư bộ Hộ, phong Kỵ đô úy kiêm Nhất vân Kỵ úy tước vị, xét ra trong 16 phòng ở Hoằng Nghị công thì tương đối cao. Xa Nhĩ Cách sinh 7 con trai, trong đó con trai cả và con trai thứ 4 thế tập tước vị, Từ An Hoàng thái hậu là hậu duệ người con trai thứ 6 của Xa Nhĩ Cách, tên gọi Ba Khách (巴喀). Tằng tổ 4 đời là Vĩnh Thọ (永壽), con trai Ba Khách, chức quan cũng đã chỉ là Bút thiếp mà thôi, con trai Tuân Trụ (遵住) cũng chỉ là Bút thiếp. Như vậy nhìn qua, đến khoảng thời gian này (khoảng đời Khang HiUng Chính) thì dòng dõi của bà có hơi suy do không làm quan to, tuy nhiên lại vẫn có mối hôn nhân rất tốt. Cao tổ phụ Tuân Trụ của bà thú hôn cháu gái Đại học sĩ Doãn Thái (尹泰), là chất nữ của Đại học sĩ Doãn Thế Thiện (尹繼善).

Tuân Trụ có 3 con trai, trừ con thứ 2 chết non, còn con cả Sách Bặc Thản (策卜坦) làm đến Tổng binh, con trai út Phó Sâm Tắc (傅森則) làm đến Thượng thư bộ Hộ, có thể thấy gia đình của bà lại hưng vinh trở lại. Chưa hết, lúc này 2 con gái của Sách Bặc Thản tham dự Bát Kỳ tuyển tú, được chỉ định thành hôn với tông thất quý thích, con gái cả chỉ hôn cho Phụ Quốc tướng quân Vĩnh Phiền (永蕃), là cháu của Trang thân vương Doãn Lộc; con gái thứ chỉ hôn cho Túc Thuận thân vương Kính Mẫn (敬敏) làm Kế phúc tấn. Sự việc này chính thức khiến gia tộc của bà tham gia vào nhất đẳng thế gia hàng ngũ.

Tổ phụ của bà là Phúc Khắc Kinh A (福克京阿), xuất sĩ làm đến chức Bạn sự Đại thầnTây Ninh, cưới 2 vợ cả đều là Ái Tân Giác La Hồng đái tử (紅帶子) nữ quyến, sinh 1 trai 2 gái, con trai độc nhất chính là cha của Từ An Thái hậu, tên là Mục Dương A (穆楊阿). Hai con gái, lớn gả cho con trai của Tiến sĩ xuất thân Thượng thư Văn Đức (德文) của gia tộc Qua Nhĩ Giai thị, còn con gái thứ gả cho Trịnh thân vương Đoan Hoa (端華) làm Đích phúc tấn ,là ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu của Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu

Mục Dương A xuất sĩ làm đến Đạo viên, về sau được phong tước hiệu Thừa Ân Tam đẳng công (三等承恩公). Ông thú 2 vợ cả, 1 là Ái Tân Giác La Hồng đái tử nữ quyến, thứ chính thất là cháu gái Khắc Cần Lương quận vương Khắc Hằng (慶恆). Mẹ ruột của bà là Khương thị, thiếp thất của cha bà, sau cải đổi thành Khương Giai thị (姜佳氏). Theo cứ liệu, Từ An Thái hậu ít nhất có một vị huynh trưởng cùng hai vị tỷ muội. Huynh trưởng về sau thế tập Thừa Ân công tước vị Quảng Khoa (廣科), còn hai chị gái; một người không biết là con vợ cả hay thứ xuất như bà, gả cho Trang thân vương Dịch Nhân (奕仁) làm Đích phúc tấn; một gả cho Trang vương phủ Phụng Ân tướng quân Miên Lâm (綿林).

Nói ngắn lại, chúng ta chẳng những có thể thấy được Từ An Thái hậu gia thế địa vị quả thực không tồi, cũng có thể phát hiện gia tộc này cùng Túc thân vương, Trịnh thân vương, Trang thân vương các vương phủ đều có liên hôn, đặc biệt là cùng Trang vương phủ ba lần liên hôn, quan hệ không giống bình thường. Xét cho cùng, dòng dõi của bà cũng là danh môn thế gia xuất thân, lại có tôn thất quý thích quan hệ thông gia thân phận, cũng chính là nguyên nhân quan trọng khiến bà được trù bị chọn làm Hoàng hậu về sau.

Nhập cung làm Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hàm Phong thứ 2 (1852), Nữu Hỗ Lộc thị được dự Bát Kỳ tuyển tú, trúng tuyển nhập cung.

Bấy giờ, chánh thất của Hàm Phong Đế là Hiếu Đức Hiển Hoàng hậu đã qua đời được 2 năm, vì vậy, khi vừa nhập cung, bà được phong tước hiệu Trinh tần (貞嬪). Ngoài ra, 3 người cùng nhập cung theo bà là Lan quý nhân Diệp Hách Na Lạp thị, Lệ quý nhân Tha Tha Lạp thị cùng Anh quý nhân Y Nhĩ Căn Giác La thị (sau bị giáng Bình Thường tại).

Trong 4 người, chỉ có bà là được phong Tần, những người khác chỉ là Quý nhân. Theo lệ tuyển tú nhập cung, rất hiếm khi tú nữ có thể phong thẳng lên Tần, đa số phải qua Quý nhân, hơn nữa đợt này tuyển tú nhập cung chia làm hai đợt, Trinh tần và Anh quý nhân cùng nhập cung ngày 27 tháng 4, còn hai vị kia Lan quý nhân và Lệ quý nhân đến ngày 9 tháng 5 mới vào. Nhìn từ chi tiết này, chúng ta liền có thể nhìn ra Từ An Thái hậu từ tham gia tuyển tú đến khi đạt được thân phận liền không giống người thường.

Chỉ 1 tháng sau, Trinh tần sách thăng làm Trinh Quý phi (貞貴妃). Sang ngày 24 tháng 7 năm đó, bà được chính thức sắc phong làm Hoàng hậu. Vì thời gian tấn phong Quý phi và Hoàng hậu cách nhau quá ngắn, triều thần kiến nghị bỏ qua nghi thức tấn phong Quý phi mà trực tiếp dùng đại điển Hoàng hậu tấn phong.

Từ góc độ thân phận phân tích, suy xét ngay lúc đó hậu cung của Hàm Phong Đế cơ bản chưa có ai, cho nên Hàm Phong năm thứ 2 chính là lần đầu tiên tuyển tú dưới thời Hàm Phong triều, theo lý thường hẳn là muốn chọn ra một vị Đích hoàng hậu (không phải phi tần tấn phong). Từ khi Trinh tần Nữu Hỗ Lộc thị vào cung một tháng liền tấn Quý phi, lại một tháng tắc tấn phong Hoàng hậu. Tình huống này cơ hồ Từ An Thái hậu lúc đó hẳn là nhân tuyển thích hợp cho ngôi vị Hoàng hậu, cho nên này lúc ban đầu vị phân mới có vượt lệ.

Tân dậu chánh biến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hàm Phong thứ 11 (1861), ngày 15 tháng 7, ở Tị Thử Sơn trang tẩm cung, Hàm Phong Đế không khỏe.

Sang ngày thứ 16, Hàm Phong Đế triệu Di thân vương Tái Viên, Trịnh thân vương Đoan Hoa (端华), Túc Thuận, Cảnh Thọ (景寿), Mục Ấm (穆荫), Khuông Nguyên (匡源), Đỗ Hàn (杜翰) cùng Tiêu Hữu Doanh (焦祐瀛) thị hầu. Trên giường bệnh, Hoàng đế ra chỉ lập Hoàng trưởng tử Tải Thuần làm Hoàng thái tử, cùng lệnh 8 người bọn họ thị hầu giúp đỡ Tân đế sự vụ, đấy chính là Cố mệnh Bát đại thần (顾命八大臣)[1]. Trước khi bệnh hồ đồ, Hàm Phong Đế trao cho Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị một con dấu Ngự thưởng (御赏), trao cho Thái tử con dấu Đồng Đạo đường (同道堂), do mẹ sinh của Thái tử là Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị giữ do Thái tử mới 5 tuổi.

Sang ngày 17 tháng 7 (tức ngày 22 tháng 8 dương lịch), Hàm Phong hoàng đế băng hà.

Theo di chiếu, Hoàng tử Tái Thuần kế vị, tức Thanh Mục Tông Đồng Trị hoàng đế. Lúc đó, Cố mệnh bát đại thần theo đó cùng nhau xử lý công việc triều chính, vì Đồng Trị Đế mới lên ngôi còn quá nhỏ tuổi. Một vài tài liệu cho thấy, bà danh chính ngôn thuận trở thành Hoàng thái hậu, còn Ý Quý phi ban đầu chỉ là Thái phi (太妃), cách một ngày lại gia tôn Hoàng thái hậu.

Bấy giờ, Bát vị đại thần có quyền lực quá mạnh mẽ, Lưỡng Cung Thái hậu đều e ngại do ảnh hưởng đến vị thế của mình, do vậy họ liên kết với Cung thân vương Dịch Hân, em trai khác mẹ của Hàm Phong Đế, đứng đầu phe hoàng tộc, còn phe kia là của Tám vị đại thần. Người chủ trương đề nghị biện pháp này phần nhiều là Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị, một người phụ nữ có tâm kế và biết rõ vị thế của mình, chỉ là phi tần, xuất thân không cao, phải lôi kéo những người có địa vị cao, trong đó có Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu.

Tháng 8 năm ấy, Lưỡng Cung Thái hậu cùng với Cung thân vương Dịch Hân (奕訢) phát động cuộc đảo chính, bắt giam Tám đại thần, đoạt được quyền triều đình, trong lịch sử Trung Quốc gọi là Tân Dậu chánh biến (辛酉政变).

Mẫu hậu Hoàng thái hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quy định của nhà Thanh, Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị bấy giờ được tôn làm Mẫu hậu Hoàng thái hậu (母后皇太后), ở phía Đông của Noãn các Dưỡng Tâm điện nghe chính, còn được gọi là Đông thái hậu. Còn Ý Quý phi Diệp Hách Na Lạp thị được tấn tôn Thánh mẫu Hoàng thái hậu (圣母皇太后), ở phía Tây của Noãn các Dưỡng Tâm điện thính chính, còn được gọi là Tây Thái hậu. Lưỡng cung Thái hậu chính thức Thùy liêm thính chính, trở thành 2 vị Hậu cung đầu tiên và duy nhất nhiếp chính của nhà Thanh.

Khoảng tháng 4 năm Đồng Trị nguyên niên (1862), triều thần tấn tôn huy hiệu cho bà là Từ An hoàng thái hậu (慈安皇太后), nhưng người ta vẫn gọi quen là Đông Thái hậu hay Mẫu hậu Hoàng thái hậu, tương tự đối với Từ Hi Thái hậu.

《慈竹延清图》.jpg
《璇闱日永图》.jpg

Cứ theo Thanh cung di văn (清宫遗闻): "Đông Cung trội ở Đức, mà thực sự nắm quản việc đại sự; Tây Cung trội ở Tài, mà việc phê duyệt tấu chương, chi tiệu lợi hại chỉ quản được"[2]. Như vậy có thể thấy, Đông thái hậu tuy là người bên ngoài không tham quyền thế, nhưng lại là người nắm những đại quyền. Công việc do Tây Thái hậu xử lý đa phần là những việc lặt vặt, chi tiêu sinh hoạt trong cung, ở những việc trọng đại thì phải thông qua quyết định của Đông Thái hậu. Đông Thái hậu ở vị trí chính cung, bây giờ ở phía Đông Noãn các của Dưỡng Tâm điện, thực lực quá rõ ràng, những việc Đông Thái hậu thấy không cần nhúng tay vào thì đều để cho Tây Thái hậu nhận lãnh, giải quyết ổn thỏa. Bởi cái đánh giá Tây Thái hậu "tài cán" rốt cục là vì bà xử lý ổn thỏa, còn Đông Thái hậu quản xuyến trên dưới nghiêm ngặt, dẫu Tây Thái hậu cũng không tự tiện làm trái, ấy chính là "Đức" vậy. Điều đó cho ta thấy vai trò của Đông Thái hậu vô cùng to lớn trong triều.

Trong suốt thời gian giữ cương vị nhiếp chính thời Đồng Trị, Đông Thái hậu mới thật sự là chân chính quốc mẫu, dẫu Tây Thái hậu cũng chỉ là bà quản gia tài cán trong cung . Thời kỳ này, có những thành quả to lớn cho sự ổn định triều đình lúc bấy giờ như trọng dụng nhân tài không phân biệt Mãn Hán như Tăng Quốc Phiên, Tả Tôn Đường, Lý Hồng Chương. Ngoài ra, bà cũng khuếch trương Dương vụ vận động (洋务运动), sử gọi Đồng Trị trung hưng (同治中興), là hướng tới giao thiệp và học tập người phương Tây, do Đông Thái hậu chủ trương cùng Cung thân vương Dịch Hân và các lãnh đạo khác như Tăng Quốc Phiên, hướng tới trung hưng Đại Thanh.

Nhiều ý kiến cho rằng Tây Thái hậu cũng có công trong vấn đề này, nhưng xét ra, Tây Thái hậu vốn rất ghét người Tây dương đã rất hiển nhiên, còn thì Đông Thái hậu thực tế lại là chân chính quốc mẫu, lại có Cung thân vương Dịch Hân luôn ra sức dùng biện pháp “Đích thứ chi phân”. Đông Thái hậu vốn nể trọng Cung thân vương, nhiều lần đứng về phía ông, trong vấn đề trị vì nhiếp chính này, vô hình trung tạo nên liên minh giữa Đông Thái hậu-Cung thân vương và cả hai dần áp chế Tây Thái hậu khiến hầu như Tây Thái hậu chỉ có thể đứng ngoài những sự vụ quan trọng, phạm vi quản lý chỉ quanh quẩn vấn đề nội trị nhỏ nhặt. Sự mâu thuẫn từ từ vì quyền lợi này, theo nhiều nhận định chính là cơ sở để người đời sau nhận đoán Tây Thái hậu có hiềm khích rất lớn với Đông Thái hậu vậy.

Năm Đồng Trị thứ 8 (1869), tháng 7, Thái giám An Đắc Hải (安德海), một thân tín của Tây Thái hậu đi Nam hạ nhân danh Hoàng đế đại đôn, thu mua long bào. Theo Thanh triều quy chế, Thái giám không thể tùy tiện xuất cung, đằng này An Đắc Hải còn đánh trống khoa chiêng, dương dương tự đắc, thản nhiên nhận hối lộ của quan viên, Thuận Thiên phủ lẫn Trực Lệ tổng đốc đều không dám làm gì. Nhưng đến Sơn Đông, Tuần phủ Đinh Bảo Trinh (丁宝桢) lấy thái giám ra kinh vi phạm tổ chế thỉnh chỉ xử trí. Lấy đấy Tây Thái hậu cáo bệnh, Đông Thái hậu lấy quyền lực tối cao, triệu Cung thân vương Dịch Hân và Quân cơ Đại thần nhất trí cho rằng: “Tổ chế không được ra đều môn, người vi phạm giết không tha, đương ngay tại chỗ tử hình.”. An Đắc Hải ngay lập tức bị xử tử. Hành động của bà gây enn6 tiếng vang lớn, được Đồng Trị Đế cũng như triều thần ủng hộ. Tuy nhiên vô hình trung bà đã tạo hiềm khích đối với Tây Thái hậu.

Khi Đồng Trị Đế trưởng thành, Đông Thái hậu là người chọn Hiếu Triết Nghị hoàng hậu làm Trung cung Hoàng hậu, bất chấp vị này Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị rất không được lòng Tây Thái hậu. Vốn Đồng Trị Đế rất thân với Đông Thái hậu, và cũng rất vừa ý với A Lỗ Đặc thị nên ý tứ Hoàng đế đứng về phía bà, điều này khiến mẹ đẻ như Tây Thái hậu cảm thấy bị phản bội và sỉ nhục. Những vấn đề trên khiến nhiều người cho rằng Tây Thái hậu có đầy đủ căn cơ để ra tay hại Đông Thái hậu.

Những hành động của bà lan truyền tới dân gian, trong dân gian có câu ca dao: “Đông Cung ngẫu nhiên hành một chuyện, thiên hạ đều ngạch tay ca tụng” để tán thưởng tầm ảnh hưởng và tài trị quốc của bà.

Năm Đồng Trị thứ 13 (1875), tháng 11, Đồng Trị Đế băng hà, Thanh Đức Tông Quang Tự hoàng đế kế vị. Hai vị Thái hậu lại tiếp tục Thùy liêm thính chính. Bà được dâng thêm tôn hiệu là Từ An Đoan Dụ Khang Khánh Chiêu Hòa Trang Kính Hoàng thái hậu (慈安端裕康庆昭和庄敬皇太后).

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Từ An hoàng thái hậu vận Long bào.

Năm Quang Tự thứ 7 (1881), ngày 10 tháng 3 (tức ngày 8 tháng 4 dương lịch), Từ An Thái hậu cảm thấy không khỏe nên không đến Dưỡng Tâm điện nghe chính, đêm đó đột nhiên qua đời tại Chung Túy cung (鐘粹宮) trong sự kinh ngạc của triều thần, hưởng thọ 44 tuổi.

Trước đó, Từ Hi Thái hậu đột nhiên bị bệnh, Từ An Thái hậu trong một thời gian dài một mình xử lý chính sự cho đến khi đột ngột qua đời. Theo sử ký, trước đó một ngày (tức ngày 9 tháng 3 âm lịch), Từ An Thái hậu vẫn rất bình thường, triệu Quân cơ Đại thần vào bàn luận, chỉ là hai má ửng đỏ (Nguyên văn: 两颊微赤; từ Thuận Am bí lục 述庵秘录). Sang ngày tiếp theo, theo kí lục của Ông Đồng Hòa, Từ An Thái hậu ngẫu nhiên cảm mạo, không triệu kiến Quân cơ đại thần, đến tối đột nhiên bạo băng. Bệnh tình đột nhiên nghiêm trọng như vậy, dẫn đến triều thần không thể tin được Từ An Thái hậu mất vì bệnh, do đó rất rất nhiều đồn đoán xung quanh cái chết này của bà.

Tháng 5, thượng thụy hiệuHiếu Trinh Từ An Dụ Khánh Hòa Kính Thành Tĩnh Nghi Thiên Tộ Thánh Hiển hoàng hậu (孝貞慈安裕慶和敬誠靖儀天祚聖顯皇后), táng vào Phổ Tường Dục Định Đông lăng (普祥峪定東陵) của Thanh Đông lăng, phụ thờ Thái miếu.

Thanh triều duy nhất Lưỡng Cung thùy liêm bây giờ chỉ còn duy nhất Từ Hi Thái hậu, hơn nữa Từ An Thái hậu so với Từ Hi còn kém 2 tuổi, đến đây đột nhiên bạo vong. Đối với việc Từ An Thái hậu đột nhiên tử vong, ở đương đại dân gian và hậu đại về sau đều có rất nhiều hoài nghi cùng suy đoán, trở thành một trong những nghi án nổi tiếng nhất trong suốt hơn 200 năm tồn tại của nhà Thanh.

Từ Hi hại chết[sửa | sửa mã nguồn]

Do Từ An Thái hậu qua đời quá nhanh, nghi vấn về sự liên quan của Từ Hi Thái hậu trong cái chết của bà là không tránh khỏi. Có lời đồn cho rằng chính Từ Hi Thái hậu đã thủ tiêu bà vì bà có di chiếu bí mật của Hàm Phong Đế để lại trước khi băng hà. Đây cũng chính là lời đồn đoán được lưu truyền phổ biến nhất về cái chết của bà.

Lời đồn nói rằng, ngay trước khi lâm chung, Hàm Phong Đế đã cảm thấy Từ Hi về sau ắt tạo loạn, nên bí mật lập chiếu dụ, dặn dò Từ An Thái hậu nếu Từ Hi cậy tử làm xằng làm bậy thì lấy đạo dụ này ra, căn cứ theo tổ tông gia pháp mà trị tội.

Sau khi Hàm Phong Đế băng hà, Từ An Thái hậu từng gọi Từ Hi Thái hậu đến và đưa ra mật dụ, lấy cảnh báo tỉnh, khiến Từ Hi nơm nớp lo sợ. Vì thế, suốt thời Đồng Trị, Từ Hi Thái hậu an phận thủ thường, đối với Từ An Thái hậu muôn phần cung kính, không hề làm trái. Do thấy Từ Hi Thái hậu như vậy phụng dưỡng mình, Từ An Thái hậu dần tháo bỏ cảnh giác. Một ngày, Từ An Thái hậu bị bệnh, uống thuốc khác không khỏi, nhưng đến khi ăn thứ của Từ Hi Thái hậu thì kỳ diệu khỏi hẳn. Phấn chấn, Từ An đi dạo Di Hòa Viên, thấy cánh tay Từ Hi Thái hậu băng bó mới tra hỏi. Từ Hi thuật lại việc mình cắt cổ tay làm mồi nhử thuốc cho Từ An uống, trần tình rất là thống khổ cảm động. Từ An là người nhân từ, nghe thế rất cảm động, mới hồi cung, trước mặt Từ Hi Thái hậu mà đốt mật dụ năm nào.

Sau đó, Từ Hi Thái hậu không còn kiêng dè gì, câu kết Thái y hại chết Từ An Thái hậu. Từ đó giành quyền độc bá triều chính.

Câu chuyện này thậm chí ghi vào Sùng Lăng truyện tín lục (崇陵传信录), tuy về sau có vài dị bản của câu chuyện nhưng đều thống nhất rằng "Từ Hi đã giết chết Từ An". Tuy nhiên, đó chỉ là một dạng tác phẩm văn học dân gian, bị ảnh hưởng qua rất nhiều đồn đoán, sự thực không thể tham khảo được.

Xuất huyết não[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có sức khỏe tốt, Từ An Thái hậu thực sự đã từng ngã bệnh nhiều lần trước đó. Trong cuốn hồi ký của Ông Đồng Hòa, thầy dạy của Quang Tự Đế một thời gian, Từ An đã từng gặp một số triệu chứng mà y học ngày nay gọi là đột quỵ hay xuất huyết não.

Dựa vào trí nhớ của mình, Ông Đồng Hòa từng ghi rõ mạch chứng của Từ An Thái hậu như sau: "Thần phương: Thiên ma, gan tinh; ( mạch ) ấn vân loại phong giản rất nặng. Ngọ khắc một ( mạch ) ấn vô dược, vân thần thức không rõ, nha khẩn. Chưa khắc hai phương tuy nhưng rót, cứu không ổn vân vân, tắc đã có tiểu són tình hình, đàm ủng khí bế như cũ. Dậu khắc, một phương vân Lục Mạch đem thoát, dược không thể hạ. Tuất khắc ( vãn tám khi trước sau ) đi về cõi tiên."[3]. Căn cứ vào bệnh tình phát triển, các chuyên gia trung y ở Trung Quốc phán đoán hơn phân nửa là do xuất huyết não đột phát, làm Từ An Thái hậu đột nhiên qua đời.

Kì thực, bệnh của Từ An Thái hậu đã có biểu hiện từ rất sớm chứ không phải đột nhiên. Khoảng tháng 3 năm Đồng Trị thứ 2 (1863), lúc chỉ mới 26 tuổi, Từ An Thái hậu từng bất ngờ ngất xỉu và bị á khẩu trong khoảng một tháng sau khi tỉnh lại, đó là một biểu hiện lâm sàng. Sự việc tiếp diễn lần thứ hai vào tháng 1 năm Đồng Trị thứ 8 (1870). Bên cạnh đó, Thuật Am bí lục từng ghi bà hai ám ửng đỏ, này chính là “Gan dương thượng kháng”, khả năng đã huyết áp rất cao, trực tiếp dụ phát não trúng phong, thậm chí não xuất huyết.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sui Lijuan: Carrying out the Coup. CCTV-10 Series on Cixi, Ep. 4
  2. ^ Nguyên văn: 《清宮遺聞》中記載;“東宮優于德,而大誅賞大舉措實主之;西宮優于纔,而判閱奏章,及召對時咨訪利弊”。
  3. ^ Nguyên văn: 晨方:天麻、胆星;(脉)按云类风痫甚重。午刻一(脉)按无药,云神识不清、牙紧。未刻两方虽可灌,究不妥云云,则已有遗尿情形,痰壅气闭如旧。酉刻,一方云六脉将脱,药不能下。戌刻(晚八时前后)仙逝。