Từ Dụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nghi Thiên Chương Hoàng hậu
儀天章皇后
HoangthaihauTuDu.jpg
Hoàng thái hậu nhà Nguyễn
Tại vị 1847 - 1883
Tiền nhiệm Nhân Tuyên Hoàng thái hậu
Kế nhiệm Trang Ý Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu nhà Nguyễn
Tại vị 1885 - 1902
Tiền nhiệm Nhân Tuyên Thái hoàng thái hậu
Kế nhiệm Trang Ý Thái hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Thiệu Trị
Thiệu Trị hoàng đế
Hậu duệ
Tên đầy đủ Phạm Thị Hằng (范氏姮)
Tước hiệu Phủ thiếp
Nhị giai Thành phi
Nhất giai Quý phi
Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thái thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Nghi Thiên Tán Thánh Từ Dụ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương hoàng hậu
儀天贊聖慈裕博惠齋肅慧達壽德仁功章皇后
Hoàng tộc Nhà Nguyễn
Thân phụ Phạm Đăng Hưng
Thân mẫu Phạm Phu nhân
Sinh 20 tháng 6, 1810(1810-06-20)
Tân Hòa (sau là Gò Công), Đại Nam
Mất 12 tháng 5, 1902 (91 tuổi)
Huế, Đại Nam
An táng Xương Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

Nghi Thiên Chương Hoàng hậu (chữ Hán: 儀天章皇后; 20 tháng 6, 1810 - 12 tháng 5, 1902), hay Từ Dụ hoàng thái hậu (慈裕皇太后) hoặc Nghi Thiên thái hoàng thái hậu (儀天太皇太后), là chính thất Quý phi của Thiệu Trị Hoàng đế, thân mẫu của Tự Đức. Bà là tổ mẫu trên danh nghĩa của các Hoàng đế Dục Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và là tằng tổ mẫu trên danh nghĩa của hai vị vua Thành TháiKhải Định

Nghi Thiên hoàng thái hậu nổi tiếng là một người đức hạnh, xuất thân cao quý, biết yêu quý dân chúng và giỏi nuôi dạy con cái. Bà tại vị như một bà hoàng đức cao vọng trọng nhất của triều đình Huế trong vòng 55 năm, từ lúc bà trở thành Hoàng thái hậu dưới thời Tự Đức vào năm 1847, cho đến khi qua đời vào năm 1902 dưới thời Thành Thái.

Danh hiệu của bà được đặt cho bệnh viện phụ sản lớn nhất ở Thành phố Hồ Chí MinhBệnh viện Từ Dũ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu có tên húy là Hằng (姮), tên tự là Nguyệt (月),Thường (嫦) hoặc Hào (浩)[1][2], sinh vào ngày 19 tháng 5 năm Canh Ngọ (tức ngày 20 tháng 6 năm 1810), xuất thân từ dòng họ Phạm Đăng thị (范登氏) tại giồng Sơn Quy (Gò Rùa), huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định, về sau thuộc khu vực ngoại thành thị xã tỉnh lỵ Gò Công thuộc tỉnh Gò Công, ngày nay là thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang. Bà là trưởng nữ của Lễ bộ thượng thư Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, mẹ là Đức Quốc phu nhân Phạm thị.

Theo Đại Nam liệt truyện, các đời trước của bà được truy phong:

  • Cao tổ là Phạm Đăng Tiên (范登僊) truy tặng làm Trung Thuận đại phu Hàn Lâm viện Thị độc Học sĩ, tước Mỹ Khánh tử (美慶子), thụy là Đoan Xác (端慤). Chính thất là Bùi thị làm Đoan Cung Cung nhân (端恭恭人).
  • Tằng tổ là Phạm Đăng Doanh (范登瀛) truy tặng làm Gia Nghị đại phu Hàn Lâm viện Chưởng viện Học sĩ, tước Bình Thạnh bá (平盛伯), thụy là Cẩn Lượng (謹亮). Chính thất là Trương thị làm Đoan Hoà Thục nhân (端和淑人).
  • Tổ phụ là Phạm Đăng Long (范登龍) truy tặng làm Từ Thiện đại phu Lại bộ Thượng thư, tước Phúc An hầu (福安侯), thụy là Trang Nghị (莊毅). Chính thất là Phan thị làm Đoan Khiết phu nhân (端潔夫人).
  • Thân phụ là Phạm Đăng Hưng phong làm Đặc Tiến Vinh Lộc đại phu, Thái bảo, Cần Chính điện Đại học sĩ, tước Đức Quốc công (德國公). Chính thất là Phạm thị được phong Đoan Từ Đức Quốc nhất phẩm phu nhân (端慈德國一品夫人).

Lúc nhỏ bà thích đọc sách, thông kinh sử, có đức hiền. Đến năm 12 tuổi, khi mẹ bà là Phạm Phu nhân lâm bệnh nặng, chỉ thích nằm một mình, tất cả người nhà không ai được gần gũi hầu hạ, bà ngày đêm hầu hạ cơm thuốc, không rời bên cạnh. Đến khi Phu nhân chết, bà ngày đêm kêu khóc không thôi, giữ tang thương xót chẳng nghĩ gì thêm, như người đã trưởng thành, xa gần nghe biết đều tấm tắc khen là lạ. Năm 14 tuổi, Nhân Tuyên Hoàng thái hậu nghe tiếng hiền, tuyển bà làm Phủ thiếp (府妾) cho Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, cháu đích tôn của Gia Long. Bà là người có đức trang kính, giữ nết thuận tòng, được Nhân Tuyên Hoàng thái hậu và Thánh Tổ Hoàng đế yêu mến.

Năm 15 tuổi, bà sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc Công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hảo (延福公主阮福靜好). Năm sau, bà lại sinh Hoàng nữ thứ hai là Nguyễn Phúc Uyên Ý (阮福淵懿)[3]. Công chúa Uyên Ý sinh ra năm Minh Mạng thứ 7, nhưng 3 tuổi lại chết non[4].

Ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (tức 22 tháng 9 năm 1829), bà sinh người con thứ ba là trai, đặt tên là Nguyễn Phúc Thì, sau đổi tên thành Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), tức Tự Đức Hoàng đế sau này.

Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Thiệu Trị Hoàng đế lên ngôi, thứ bậc nội cung chưa định, bà và những thị thiếp khác chỉ được gọi chung là Cung tần (宮嬪). Tới năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), nhân có việc bang giao, Hoàng đế ngự giá Bắc tuần, bà được sung theo hầu. Khi ấy Cung tần theo hầu rất ít, bà ngày đêm hầu hạ bên cạnh, phàm những ấn báu, vật làm tin, đều giao cho giữ cả. Bà là người đoan trang, nhàn nhã, nghiêm túc, cử chỉ độ lượng, lại thường khuyên răn các cung nhân chăm công việc nên được sung chức Thượng nghi (尚服), đồng thời nhiếp quản coi sóc Lục thượng[5].

Tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được phong Nhị giai Thành phi (二階誠妃), đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhị giai[6]. Sách văn rằng:

.

Tháng 1 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), bà được phong làm Nhất giai Quý phi (一階贵妃), đứng đầu các tước Phi thuộc hàng nhất giai[7]. Vua sai các đại thần Vũ Xuân Cẩn, Tạ Quang Cự dâng kim sách đến tuyên phong. Sách văn rằng:

.

Bấy giờ, khi có quan lại gì tâu lên vua Thiệu Trị, bà đều ghi nhớ, đến khi ông hỏi đến bà đều y thế mà thuật lại, không sai một chữ. Bà được Thiệu Trị yêu quý lắm, không gọi tên của bà mà chỉ gọi là Phi. Khi Hoàng đế ngự ở điện Khâm Văn nghe chính sự cùng các cơ mật đại thần, Quý phi được lệnh ở sau rèm nghe những lời tâu của các quan. Khi rảnh rỗi, Thiệu Trị cũng thường hay nghe lời bà khuyên giải mà đưa ra quyết định.

Trong Hậu cung, Quý phi chăm nom yêu mến tất thảy các Hoàng tử, Hoàng nữ của bà và các phi tần khác, không phân biệt, kỳ kèo ai là con ai, tất cả đều xem bà là mẹ đích. Tiếng hiền trong cung đồn xa, ai nấy đều nể phục bà.

Đầu năm 1847, Thiệu Trị ốm nặng, bà ngày đêm hầu thuốc thang không nghỉ. Khi ông gần mất, mọi việc về sau đều bí mật phó thác cho bà, ông lại dụ các quan rằng: "Quý phi là nguyên phối của trẫm, là người phúc đức hiển minh, giúp ta coi công việc trong cung cấm đã 7 năm. Nay ý trẫm muốn lập làm Hoàng hậu chính ngôi trong cung, tiếc vì việc không làm kịp mà thôi". Nói rồi, vào ngày 4 tháng 10 năm đó, Hoàng đế băng hà.

Thái hoàng thái hậu nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1847, Thiệu Trị băng hà, con bà là Thái tử Hồng Nhậm được chọn nối nghiệp, tức Tự Đức. Lên ngôi, Tự Đức nhiều lần ngỏ ý định tấn tôn cho mẹ, nhưng bà nhất định chối từ. Mãi đến ngày 15 tháng 4 năm Tự Đức thứ 2 (tức 7 tháng 5 năm 1849), nhân dịp khánh thành Gia Thọ cung, bà mới thuận nhận Kim bảo (sách vàng & ấn vàng) và tôn hiệu là Hoàng thái hậu, giúp Hoàng đế Tự Đức việc chính sự.

Tháng 6 năm Quý Mùi (1883), Tự Đức qua đời, để di chiếu tôn bà làm Từ Dụ Thái hoàng thái hậu (慈裕太皇太后). Nhưng vì việc nước lắm rối ren, qua các đời Dục Đức, Hiệp HòaKiến Phúc, các vị tự quân đều bị phế truất liên tiếp nên đều không kịp tôn phong.

Năm 1885, Hoàng đế Hàm Nghi kế vị, ông mới có thể làm lễ tấn tôn cho bà theo di chiếu. Cũng ngay năm đó, sau lễ tấn tôn trên, xảy ra Trận Kinh thành Huế 1885, Thái hoàng thái hậu cùng với hai bà Phi của Tự Đức là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu và Học phi Nguyễn Thị Hương, được gọi là Tam cung (三宮), đã nghi giá chạy ra Khiêm cung, rồi lại được Tôn Thất Thuyết mời đến Quảng Trị.

Ngày 3 tháng 6, xe ngựa của Thái hoàng thái hậu dời trở về Khiêm cung, vì cho rằng thành Quảng Trị không hợp làm nơi chốn. Lúc đấy Hàm Nghi Đế vẫn còn chống quân Pháp ở bên ngoài, việc nội chính đều do Thọ Xuân Vương Nguyễn Phúc Miên Định quản lý, gọi là Nhiếp chính vương, nhưng căn bản đều phải thông qua ý chỉ của Tam cung bên trong.

Ngày 27 tháng 6, chính quyền Pháp trao trả kinh thành Huế lại cho triều đình, và mời 3 cung ngự giá về. Bấy giờ, Thọ Xuân Vương cùng Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Độ bàn luận với các quan Pháp đưa Kiên Giang quận công Chánh Mông lên ngôi, tức Đồng Khánh hoàng đế.

Năm 1887, Đồng Khánh năm thứ 2, hoàng đế tấn tôn mỹ hiệu cho bà là Từ Dụ Bác Huệ Thái hoàng Thái hậu (慈裕博惠太皇太后). Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, nhân dịp mừng bà thọ 80 tuổi, bà được Thành Thái Đế dâng tôn hiệu là Từ Dụ Bác Huệ Khang Thọ Thái thái hoàng thái hậu (慈裕博惠康壽太太皇太后).

Năm 1902, mùng 5 tháng 4 (tức 12 tháng 5 năm 1902), Thái Thái hoàng thái hậu băng hà, thọ 92 tuổi, được dâng tên thụy là Nghi Thiên Tán Thánh Từ Dụ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương hoàng hậu (儀天贊聖慈裕博惠齋肅慧達壽德仁功章皇后).

Ngày 20 tháng 5 năm đó, triều đình cử hành đại lễ an táng bà gần phía sau bên trái Xương Lăng, và có tên là Xương Thọ Lăng. Hiện toàn thể khu lăng này tọa lạc tại chân một dãy núi thấp (núi Thuận Đạo), thuộc làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế), cách Kinh thành Huế chừng 8 km [8]

Lễ xong, bài vị của bà được thờ ở Biểu Ðức điện trong Xương Lăng, được thờ ở Thế Miếu trong Hoàng thành Huế.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Đối đãi nhân từ[sửa | sửa mã nguồn]

Nghi Thiên Chương Hoàng hậu vào cung cùng với Lệnh phi Nguyễn Thị Nhiệm, con gái của Kinh Môn quận công Nguyễn Văn Nhơn. Lúc đó địa vị các cung tần đều ảnh hưởng bởi chức tước của cha, khi đó tước của Nguyễn Văn Nhơn cao hơn Phạm Đăng Hưng nên Lệnh phi ở ngôi trên. Nhưng tình cảm như hai chị em, muôn phần yêu mến nhau[4].

Đối với các con và phi tần của Hiến Tổ Chương hoàng đế, bà cũng muôn phần độ lượng, như chuyện của Phục Lễ công chúa phạm tội, sau này Hoàng hậu vẫn cho gỡ tội, chứ không đày đọa dù đó là con của cung nhân họ Hồ, không phải con ruột của bà[4].

Bà dáng điệu khoan thai, nghiêm túc và đoan trang, nếu chưa từng tiếp xúc nhiều người cảm thấy muôn phần đáng sợ[4], có kẻ lại cho là kiêu[4]. Một trong những người đó đêm nằm mộng được thần nhân mách rằng: "Người ở chính giữa nhà trước, tức là Hoàng hậu, bọn ngươi rất ngu, chớ có khinh thường"[4]. Sau này quả là như thế, khi bà dần trở thành Hoàng quý phi cai quảng hậu cung.

Cúc áo chạm phượng[sửa | sửa mã nguồn]

Một hôm được Thánh Tổ Nhân hoàng đế ban cho Nghi Thiên hoàng hậu và Lệnh phi mỗi người 1 cái áo sa cổ thường thêu hoa vàng. Khi yết bái Nhân Tuyên Hoàng thái hậu, mỗi người được Thái hậu một chiếc cúc áo vàng, một cái chạm hình phượng, một cái chạm hình cành hoa, nhưng đều được bọc kín bằng bao đỏ, và bà Thuận Thiên khấn rằng: "Ai được cúc áo chạm hình phượng, thì có con trước".

Rồi Thái hậu sai thị nữ đưa cho Hoàng hậu và Lệnh phi chọn bao, nhưng không được mở ra, để thế mà dâng lên, Hoàng hậu nhường bà Lệnh phi chọn trước. Khi mở ra, bà Lệnh phi được cúc chạm hoa, Hoàng hậu được cúc chạm phượng[4]. Quả nhiên bà sinh con gái đầu lòng là Diên Phúc công chúa vào năm 15 tuổi, một năm sau khi tiến cung.

Bảo vật sinh thiên tử[sửa | sửa mã nguồn]

Một đêm kia, Hoàng hậu mộng thấy một thần nhân áo rộng đai to, đầu tóc bạc, lông mày trắng, mang một tờ giấy vàng viết chữ son có đóng dấu và một chuỗi minh châu trao cho, bảo là: "Xem đây để nghiệm về sau". Bà nhận lấy, rồi có thai.

Ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (tức 22 tháng 9 năm 1829), Hoàng hậu khai hoa nở nhụy, sinh ra hoàng tử Nguyễn Phúc Thì, sau đổi là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, tức Tự Đức. Quả nhiên giống giấc mộng, người ta cho là hoàng đế là thần nhân phái xuống làm con bà vậy [4].

Tài liệu liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trích đoạn cải lương Tự Đức dâng roi Từ Dụ - màn trình diễn cải lương trên chợ nổi tại lễ hội ẩm thực thế giới 2010

Gò Công hiện còn lưu truyền mấy câu thơ ca ngợi đức tính tốt đẹp của bà và nhắc việc bà được tiến cung:

Trời xanh quốc mẫu nết na hiền,
Thuở tuổi mười hai đã tự nhiên.
Giồng lệ thủy tượng trưng thánh chúa,
Gò Sơn Qui triệu ứng thiên duyên [9].

Và:

Lệ thủy trình trường thụy,
Quy khâu trúc phúc cơ.
Tạm dịch:
Nước đẹp dâng điềm lành,
Gò Rùa xây nền phúc.[10]

Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép:

Đức Từ Dụ thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời cũng rộng. Khi Đức Từ Dụ ban câu chi hay, thì ngài biên ngay vào một quyển giấy gọi là "Từ Huấn Lục".
Một hôm rảnh việc nước, ngài ngự bắn tại rừng Thuận Trực, gặp phải khi nước lụt. Còn hai ngày nữa thì có kị đức Hiến Tổ, mà ngài chưa ngự về. Đức Từ Dụ nóng ruột, sai quan đại thần là Nguyễn Tri Phương đi rước. Nguyễn Tri Phương đi được nửa đường, vừa gặp thuyền ngự đương chèo lên, mà nước thì chảy mạnh, thuyền không đi mau được. Gần tối thuyền ngự mới tới bến. Khi ấy trời đang mưa, mà ngài vội vàng lên kiệu trần đi thẳng sang cung, lạy xin chịu tội. Đức Từ Dụ ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói chẳng rằng chi cả. Ngài lấy một cây roi mây, dâng lên để trên ghế trát kỷ rồi ngài nằm xuống xin chịu đòn. Cách một hồi lâu, đức Từ Dụ xoay mặt ra lấy tay hất cái roi mà ban rằng: "Thôi, tha cho! Đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kị".
Ngài lạy tạ lui về, nội đêm đó ngài phê thưởng cho các quan quân đi hầu ngự... [11]

GS. Trịnh Vân Thanh, trong Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, cho biết:

Nhân lễ ngũ tuần, vua Tự Đức cùng đình thần dâng sớ khẩn thỉnh tấn tôn mỹ hiệu, bà dụ rằng:
"Ta đã được thiên hạ phụng sự, thì nên lo những việc thiên hạ đương lo. Năm nay chưa đặng mùa, nhân dân đều chưa được vui sướng, chính lúc Hoàng đế phải chăm lo, lòng ta nào nỡ thản nhiên.
"Vả lại tánh ta vốn kiệm ước chẳng chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay hưởng được tôn vinh, ta thường e sợ, tu tỉnh chẳng rồi, huống chi còn gia thêm cho hư danh để ta còn nặng cái lỗi thất đức hay sao? Vậy thì sớ thỉnh ấy nên bãi đi, chỉ nguyện chư công và quần thần lo giúp chính trị, giáo dục thế nào cho ta được thấy thạnh trị thái bình, thì không chi vui bằng".
Lo lắng đến cuộc sống nhân dân, bà thường hỏi vua Tự Đức về việc đắt thất và dạy bảo những điều thiết thực về chính trị. Năm 1874, khi hay tin Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Kỳ và buộc triều đình Huế ký hòa ước nhượng địa, bà bỏ cả ăn uống, mặt ủ mày chau theo vận nước khuynh nguy...[12]

Trong bài Tượng đài sông Hương: Thái hậu Từ Dũ, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường viết:

Bà là người con gái đất Gò Công, lúc ban đầu vào Huế làm cung nữ hầu vua Thiệu Trị. Nhà vua ngự giá Bắc tuần, nàng theo giúp việc hàn mặc, nổi tiếng thông minh và linh hoạt... Nghe nói bà Từ Dũ còn là người đưa giống cá thát lát từ quê nhà ở Nam Bộ ra gây giống ở thành phố Huế; cá sinh sôi đến ngày nay đầy hồ đầy sông. Ở Huế bà nổi tiếng là một bà thái hậu rất thương dân. Hằng năm đến lễ mừng thăng cấp, mừng thọ của bà, bà đều tìm cách thoái thác hoặc trì hoãn, thực chất là sợ khổ dân...
Hồi ấy người Pháp cho bắc lại cây cầu Trường Tiền bằng sắt và bắt dân phải nộp thêm thuế, nói là lấy kinh phí làm cầu. Bà Từ Dũ tự nguyện thay mặt cho dân viết một lá đơn xin quan Tây miễn thuế...Trước đây, dân Huế có lưu hành bài vè "Bà Từ Dũ xin thuế cho dân". Nhân đức của bà đã đi vào lòng người là vậy...[13]

Và trong bài viết "Hoàng Thái Hậu Từ Dũ: Một tấm gương sáng", đăng trên website tỉnh Tiền Giang:

Tính tình Hoàng Thái hậu Từ Dũ đoan chính, nhàn nhã, cử chỉ khiêm cung lễ độ, ở trong cung ai cũng cảm mến và quý trọng đức độ. Khi vua Thiệu Trị rảnh việc, đọc sách đến nửa đêm chưa ngủ, Bà vẫn thức hầu không biết mỏi mệt. Mỗi lần vua Tự Đức vào hầu, bà thường khuyên dạy và nhà vua ghi lại những lời nói ấy trong sách "Từ Huấn Lục".
Trong cuộc sống hằng ngày, bà rất tiết kiệm tiêu dùng và nghiêm khắc đối với sự lãng phí, xa hoa. Bà thẳng thắn phê phán tệ tham ô chức quyền trong triều chính và các địa hạt. Bà nói: "Từ xưa đến nay, quan lại chỉ một chữ tham mà chưa trừ được. Mọt nước hại dân cũng từ đó mà ra. Làm quan mấy năm vị nào cũng giàu có gấp bội. Của ấy không lấy của dân thì lấy ở đâu? Nên phải quyết trừ.".
Bà khuyên triều thần: "một sợi tơ, một hột gạo cũng đều là máu mỡ của dân, cho nên lãng phí đã không ích gì, mà lại đáng tiếc lắm vậy, chi bằng cất vào kho để dùng vào việc nước". Bà phê phán gắt gao kẻ dựa vào quyền thế gia tộc của bà để cầu vinh, hoặc che chở kẻ phạm pháp. Bà cũng bảo vua Tự Đức rằng: "ngưòi trong dòng họ chớ lo việc không được làm quan, phải chuyên cần học hỏi, thi đậu vẻ vang gia tộc; chỉ lo là bất tài mà thôi. Ngoài ra, kẻ làm điều trái phép, Hoàng đế nên triệu về kinh, nghiêm trị để làm gương cho người ta biết".
Song song đó, bà rất trân trọng các quan trung thần, muốn có nhiều người như Võ Trọng Bình thanh liêm, Phạm Phú Thứ thẳng thắn và Nguyễn Tri Phương công trung cần cán không từ việc mệt nhọc. Bà nói: "nếu được nhiều người như vậy, đặt ra mỗi tỉnh một người thì việc nước, việc dân được bổ ích rất nhiều, mà vua cũng khỏi lo nhọc ngày đêm, ngặt vì còn có những tham quan bóc lột của dân không chán, mà lại không biết hối cải. Những của bất nghĩa không được tồn tại, được vài đời đã khánh tận, sau con cháu cùng khổ, thiên hạ chê cười, chi bằng làm điều nhân nghĩa, lưu truyền phước trạch lâu dài"... [14]

Bởi những đức tính tốt đẹp vừa dẫn trên, người ta đã chọn tên bà để đặt cho một bệnh viện phụ sản, Bệnh viện Từ Dũ, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên đường ở Gò Công[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1975, tại thị xã Gò Công thuộc tỉnh Gò Công cũ, tên bà được đặt cho một đại lộ lớn ở ngay khu vực trung tâm thị xã: đại lộ Từ Dũ. Sau năm 1975, đại lộ này đã bị đổi tên thành đường Lý Tự Trọng cho đến ngày nay. Tuy nhiên, hiện nay tại đây cũng có đường Từ Dũ là một phần quốc lộ 50 chạy qua vùng ngoại ô ở phía bắc thị xã theo hướng về thành phố Hồ Chí Minh.

Sai tên[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam Thực lục Chính biên, trong Thực lục về Tự Đức[15] đã ghi rõ: Con thứ hai vua Hiến Tổ Chương hoàng đế...mẹ là Từ Dụ, Bác huệ Khang thọ Thái hoàng Thái hậu....

Trên website Việt Nam gia phả [16] ghi:

Đúng ra tên hiệu của bà là Từ Dụ, theo nghĩa chữ Hán là "nhân từ" và "độ lượng". Nhưng về sau, không hiểu do một sự lầm lẫn nào đó, người ta viết chữ "Dụ" thành "Dũ" và trở thành thói quen không thay đổi...

Trong Sài Gòn vang bóng cũng đã nói rõ sự lầm lẫn này, cuối cùng tác giả đề nghị: Dù sai một dấu, hai chữ khác nhau cả chữ lẫn nghĩa, vì chữ Hán viết "dụ" và "dũ" khác nhau. Khi phát âm, có thể sao cũng được, nhưng khi viết chúng ta phải viết cho đúng. [17]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Việt Nam gia phả [1]Sài Gòn vang bóng, tr. 180.
  2. ^ Theo Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, tr. 1262
  3. ^ Chi tiết sinh con, căn cứ theo Phan Thứ Lang, Sài Gòn vang bóng, tr. 181.
  4. ^ a ă â b c d đ e Đại Nam liệt truyện, sách đã dẫn
  5. ^ Sài Gòn vang bóng (tr. 181) giải thích: "Lục thượng là 6 công việc hầu hạ Vua trong cung, đó là: Thượng quan (mão), Thượng y (áo), Thượng thực (ăn), Thượng mộc (tắm), Thượng tịch (chiếu), Thượng thư (sách)".
  6. ^ Trong chế độ nhà Nguyễn, Vua không lập Hoàng hậu, chỉ lấy bậc Phi làm ngôi chính quản lý công việc nội cung, Nhị giai phi gồm Thần phi, Tính phi, Thục phi.
  7. ^ Nhất giai phi gồm Quý phi, Đoan phi, Lệ phi.
  8. ^ Thông tin liên quan: Học giả Vương Hồng Sển cho biết khi thật nhiều tuổi, Thái hậu Từ Dụ bị mù lòa...Đến năm 1983, lăng mộ của bà bị bọn gian (6 tên) đào phá, và đã lấy đi 18 (hay 19) báu vật. Đáng tiếc, là sau khi bắt được bọn gian, thu hồi được số báu vật; thì người ta lại đem số các vật vô giá ấy đi "hóa nghiệm" theo quyết định của tòa án ngày 26 tháng 12 năm 1988, để sung vào công quỹ. Xem chi tiết trong bài "Khóc cho tuổi già vô dụng" của Vương Hồng Sển (Nửa đời còn lại. Nhà xuất bản Tổng hợp TP. HCM, 2013), hay trong bài "Đâu rồi những báu vật của Nguyễn Đắc Xuân (báo Lao động số 15/90 đề ngày 29 tháng 4 năm 1990).
  9. ^ Gò Công xưa, tr. 103.
  10. ^ Sài Gòn vang bóng, tr. 179.
  11. ^ Theo Việt Nam sử lược
  12. ^ Theo Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, tr. 126.
  13. ^ Theo website Cố đô Huế
  14. ^ [2]
  15. ^ Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ tứ kỷ, quyển I, tập 27, trang 32, dòng 10. (Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1975)
  16. ^ Xem website Việt Nam gia phả
  17. ^ Sài Gòn vang bóng, tr. 186.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản KHXH, 1992, tr. 762.
  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển, Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, tập 2, tr. 1262.
  • Huỳnh Minh, Gò Công xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001, tr. 102-110.
  • Phan Thứ Lang, Sài Gòn vang bóng, Nhà xuất bản TP. HCM, 2001, tr. 178-186.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]