T-ara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ T-Ara)
Bước tới: menu, tìm kiếm
T-ara
티아라
130810T-ara(treefong).jpg
T-ara biểu diễn Roly Poly tại buổi hòa nhạc ở Hồng Kông, Trung Quốc vào năm 2013 với 8000 fans tham gia.
(Từ trái sang phải: Soyeon, Hyomin, Jiyeon, Eunjung, BoramQri)
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh Tiara
Nguyên quán Hàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-pop, Dance-pop, Electropop, R&B, J-pop, EDM, Ballad, Nu-disco, C-pop
Năm hoạt động 2009–nay
Hãng đĩa
  • Hàn Quốc
MBK Entertainment
Inter Park
  • Nhật Bản
EMI Music Japan
  • Trung Quốc
Longzhen Culture Development
Banana Project
Hợp tác với T-ara N4
QBS
Website mbk-ent.com/main_tara
Thành viên hiện tại
Boram
Qri
Soyeon
Eunjung
Hyomin
Jiyeon
Thành viên cũ
Jiae
Jiwon
Hwayoung
Areum
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Nihongo.svg
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì kanjikana.

T-ara hay Tiara (phát âm: /tiˈɑːrə/; tiếng Hàn: 티아라; tiếng Nhật: ティアラ; có thể viết thành T-ARA, T♔ARA hoặc TΛRΛ) là một nhóm nhạc nữ thần tượng của Hàn Quốc ra mắt vào 29 tháng 7 năm 2009 bởi Core Contents Media, nay là MBK Entertainment.[1][2][3] Trước khi đứng trên sân khấu, nhóm đã được đào tạo chuyên nghiệp trong vòng ba năm.[4] Ban đầu, T-ara có 5 thành viên là Jiae, Jiwon, Eunjung, Hyomin và Jiyeon. Họ cho ra mắt bài hát đầu tiên "Joheun Saram" (tiếng Hàn: 좋은 사람, "Good Person") trong bộ phim Cinderella Man vào tháng 4 năm 2009. Hai tháng sau, hai thành viên Jiwon và Jiae rời nhóm. Tháng 7 năm 2009, ba thành viên mới là Boram, Qri và Soyeon gia nhập vào đội hình.[5] Nhóm bắt đầu sự nghiệp chính thức với đội hình gồm sáu thành viên và phát hành đĩa đơn đầu tay "Geojitmal" (tiếng Hàn: 거짓말, "Lies") vào ngày 27 tháng 7 năm 2009.[6][7]

Năm 2011, T-ara ký một hợp đồng 4.700.000 $ với công ty quản lý J-Rock cho việc ra mắt tại Nhật, đây là số tiền cao nhất trong tất cả các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc ra mắt tại Nhật Bản.[8] Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên của nhóm là ca khúc làm lại từ bản hit "Bo Peep Bo Peep" năm 2009. Bài hát giành vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Oricon hàng tuần.[9]

Trong thời gian hoạt động, nhóm đã bổ sung thêm hai thành viên là Hwayoung vào tháng 7 năm 2010 và Areum vào tháng 6 năm 2012. Thành viên thứ chín Dani đã được lên kế hoạch gia nhập nhóm, tuy nhiên vấn đề này đã bị trì hoãn vô thời hạn do cô chưa "sẳn sàng" để ra mắt và rồi cô được gán vào nhóm nhỏ T-ara N4.[10] Sau đó, Hwayoung rời nhóm vào tháng 7 năm 2012 do scandal giữa cô và T-ara, còn Areum rời nhóm vào tháng 7 năm 2013 (chỉ sau một năm gia nhập) để theo đuổi sự nghiệp hát đơn.[11] T-ara không có nhóm trưởng cụ thể mà các thành viên sẽ luân phiên thay đổi theo thời gian, nhóm trưởng hiện tại của T-ara là Qri.[12][13]

Ngày 11 tháng 4 năm 2015, T-ara xuất hiện trong lễ trao giải YinYueTai của Trung Quốc, là một trang web chia sẽ MV hàng đầu của nước này. Tại đây, T-ara giành 3 cúp là Nghệ sĩ Hàn Quốc được yêu thích nhất, Nghệ sĩ Hàn Quốc của năm và Nghệ sĩ Hàn Quốc xuất sắc nhất (cho ca khúc chủ đề "1 Min 1 Sec" của Jiyeon).[14] T-ara được xem là nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Trung Quốc.[15][16]

Ý nghĩa tên gọi, Fanclub

Tên gọi T-ara bắt nguồn từ "tiara" (có nghĩa là vương miện) xuất phát từ ý tưởng rằng nhóm nhạc sẽ trở thành "nữ hoàng của ngành âm nhạc".[17][18] Biểu tượng của nhóm là chiếc vương miện và hoa hướng dương. Tên câu lạc bộ người hâm mộ (FC) chính thức của nhóm là Queen's (tiếng Hàn: 여왕이) được Core Contents Media công bố vào 14 tháng 7 năm 2012.[19] Màu bóng bay của nhóm là màu ngà ("pearl ivory") ở Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác, riêng xanh dương là màu chủ đạo của nhóm ở Nhật Bản.[19]

Sự nghiệp

Trước lần ra mắt đầu tiên

Trước khi ra mắt, năm thành viên ban đầu đều đã được đào tạo chuyên nghiệp trong ba năm ở Mnet Media[4] với tên nhóm đầu tiên là "Super Rookies" nhưng khi ra mắt thì lại đổi tên thành "T-ara"[20] và họ cho ra mắt bài hát đầu tiên "Good Person" (Ver. 1) trong bộ phim Cinderella Man vào tháng tư năm 2009. Đến tháng 5, Jiyeon (T-ara) hợp tác cùng DavichiSeeYa cho ra mắt bài hát "Women's Generation" (tiếng Hàn: 여성시대) được thực hiện trong phòng thu ở Namyangju-Gyeonggi.[21] Tháng 6 cùng năm, hãng Core Contents Media thông báo rằng hai thành viên Jiae và Jiwon rời khỏi nhóm do có sự khác biệt về phong cách âm nhạc.[22] Cùng thời điểm này, Boram, Qri và Soyeon gia nhập nhóm. Soyeon từng là thực tập sinh[23] và cũng dự định tham gia nhóm nhạc nữ Girls' Generation nhưng đã xin rút lui vì lý do cá nhân,[22] Qri từng là người mẫu ảnh và Boram có ba là Jeon Young-rok và mẹ là Lee Mi-young, cả hai đều là ca sĩ nổi tiếng.[5] Đầu tháng 7 năm 2009, nhóm chuyển sang nằm dưới sự quản lý của công ty con Core Contents Media.[24]

2009: Ra mắt và album đầu tay

T-ara biểu diễn tại Xbox 360 Invitational năm 2009.

T-ara xuất hiện lần đầu trên truyền hình trong chương trình đối thoại Radio Star của đài MBC vào ngày 29 tháng 7 năm 2009.[25] Nhóm biểu diễn lần đầu trên sân khấu tại M! Countdown với bài hát là "Norabollae?" (tiếng Hàn: 놀아볼래?, "Wanna Play?") và "Geojitmal" (tiếng Hàn: 거짓말, "Lies"). Tuy nhiên, phần biểu diễn bị cư dân mạng cho là giống như của học sinh tiểu học biểu diễn vì nhóm đã hát nhép toàn bộ các ca khúc.[26] Sau đó, T-ara đã lên tiếng hát live trong những lần diễn sau.[26] Một số thành viên của T-ara (Soyeon, Eunjung, Hyomin và Jiyeon) cùng nhóm nhạc nam Supernova cho ra mắt đĩa đơn "TTL (Time To Love)" dưới dạng kỹ thuật số vào ngày 15 tháng 9.[27] Ca khúc này ngay sau đó đã leo lên đứng đầu nhiều bảng xếp hạng trực tuyến.[28] Họ ra mắt tiếp đĩa đơn "T.T.L Listen 2" vào ngày 9 tháng 10, bao gồm tất cả thành viên của hai nhóm.[28]

Album phòng thu đầu tay của nhóm Absolute First Album được phát hành vào ngày 27 tháng 11 năm 2009, có 14 bài hát và 6 đĩa đơn.[29][30] Album đạt vị trí thứ 2 trên Gaon Chart.[31] Để xác định ca khúc chủ đề cho album, Core Contents Media đã tổ chức một cuộc khảo sát mà công chúng phải lựa chọn giữa "Bo Peep Bo Peep" hoặc "Cheoeum Cheoreom" (tiếng Hàn: 처음처럼, "Like The First Time"). 9.000 người đã tham gia cuộc khảo sát trên nhiều cổng thông tin âm nhạc khác nhau, trong đó 53% (4.770 người) chọn "Like The First Time" thay vì "Bo Peep Bo Peep".[32][33] Tuy nhiên, "Bo Peep Bo Peep" lại được quảng bá trên các chương trình âm nhạc vì những lý do nào đó. "Bo Peep Bo Peep" đạt vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Gaon trong khi "Like The First Time" đạt vị trí thứ 10. Nhóm cũng trở lại trên Music Bank vào ngày 4 tháng 12 năm 2009. Tại Golden Disk Awards lần thứ 24, T-ara và nhóm nhạc nữ 4minute cùng được tặng thưởng giải Tân binh của năm.[34]

2010: Breaking Heart và Temptastic

T-ara biểu diễn "I Go Crazy Because of You" tại Mnet 20's Choice Awards vào ngày 26 tháng 8 năm 2010.

T-ara lần đầu tiên giành giải thưởng trong một chương trình biểu diễn nhạc với tiết mục "Bo Peep Bo Peep" trên Music Bank.[35] Bài hát mang về cho nhóm năm giải thưởng: hai giải trên Music Bank và ba giải trên Inkigayo (giúp nhóm đạt "Triple Crown").[36] Cũng trong tháng này, hãng đĩa Mnet Media đã thông báo rằng Eunjung và Hyomin hợp tác cùng DavichiSeeYa trong ca khúc "Wonder Woman".[37] Tháng 1 năm 2010, nhóm công bố chương trình quảng bá cho đĩa đơn tiếp theo "Like The First Time" nhưng sớm phải tạm dừng vì Soyeon bị nhiễm cúm H1N1.[38] Cũng trong tháng này, T-ara xuất hiện với vai trò khách mời trong tập phim thứ bảy và thứ tám của bộ phim Cao thủ học đường, do Jiyeon thủ vai chính.[39]

Tháng 2 năm 2010, T-ara tái phát hành album đầu tay của mình. Bản kỹ thuật số của hai đĩa đơn chủ lực là "Neo Ttaemune Michyeo" (너 때문에 미쳐; "I Go Crazy Because Of You") và "Naega Neomu Apa" (내가 너무 아파, "I'm Really Hurt") đã lên mạng vào ngày 3 tháng 2 năm 2010, lần lượt giành vị trí thứ 1 và thứ 31 trên bảng xếp hạng Gaon.[40] Cùng ngày, T-ara có màn trình diễn trở lại trên sân khấu M! Countdown và giành ba giải thưởng âm nhạc với ca khúc "Neo Ttaemune Michyeo": một cúp trên M! Countdown và hai cúp trên Inkigayo.[41] Ngày 3 tháng 3 năm 2010, nhóm ra mắt bản repackage Breaking Heart[42], giành vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Gaon theo tuần và vị trí thứ 35 trên bảng xếp hạng theo năm với tổng cộng có 40.695 đĩa được bán ra.[43] Sau khi kết thúc các chương trình quảng bá cho "I Go Crazy Because Of You", T-ara biểu diễn "I'm Really Hurt" trên các sân khấu ca nhạc cho đến đầu tháng 4 năm 2010. Tháng 6 cùng năm, T-ara ra mắt ca khúc "We Are The One" nhằm mục đích cổ vũ cho mùa World Cup năm 2010 diễn ra ở Nam Phi[44] và nhóm cũng quyên góp toàn bộ lợi nhuận của cửa hàng quần áo trực tuyến T-ara Dot Com nhân mùa cho World Cup để chuyển đến trẻ em châu Phi.[44]

Tháng 11 năm 2010, T-ara tham dự mùa thứ ba của chương trình truyền hình thực tế Hello Baby, trong đó nhóm nhận nhiệm vụ chăm sóc bé Moon Mason và hai anh em trai của bé.[45] Ngày 23 tháng 11 năm 2010, T-ara phát hành bản kỹ thuật số cho bài hát "Wae Ireoni?" (왜 이러니, "Why Are You Being Like This") - ca khúc chủ đạo cho đĩa mở rộng mới của nhóm.[46] Ngày 1 tháng 12 năm 2010, T-ara phát hành mini-album Temptastic cùng với đĩa đơn thứ hai là "Yayaya".[46] Thời gian album lên kệ bị trì hoãn đến ngày 3 tháng 12 do xảy ra sự kiện Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên pháo kích đảo Yeonpyeong của Hàn Quốc trong tháng 11.[47] Ngày 3 tháng 12, T-ara biểu diễn trở lại trên Music Bank và bắt đầu các hoạt động quảng bá cho album mới cùng với thành viên thứ bảy là Hwayoung và trưởng nhóm mới Boram.[48] Nhóm giành hai chiến thắng tại M! Countdown cho hai bài hát "Wae Ireoni?" ("Why Are You Being Like This") và "Yayaya", lần lượt vào các ngày 9 tháng 12 và 16 tháng 12.[48]

2011: John Travolta Wannabe, kế hoạch Nhật tiến và Black Eyes

T-ara biểu diễn "Roly-Poly" tại MTV Cyworld Music Festival vào ngày 23 tháng 7 năm 2011.

John Travolta Wannabe - đĩa mở rộng thứ hai[49] của nhóm ra mắt vào ngày 29 tháng 6 năm 2011[50] và leo lên vị trí thứ ba với 30.116 bản được bán ra[51][52] trên bảng xếp hạng Gaon Chart. Đĩa đơn duy nhất của album là "Roly Poly" cũng được phát hành cùng ngày và vươn tới vị trí thứ 2 trên Gaon và vị trí thứ nhất trên Korea K-Pop Hot 100[53][54]. Đĩa đơn đã gặt hái thành công vang dội, trở thành bài hát được tải xuống nhiều nhất trong năm 2011 ở Hàn Quốc (theo Gaon)[55] với 2 triệu đô la doanh thu[56] và 4.680.253 lượt tải.[57] "Roly Poly" giành giải Video ca nhạc xuất sắc nhất trong lễ trao giải Melon Music Awards lần thứ 3,[58] được đề cử giải Màn trình diễn vũ đạo xuất sắc nhất của nhóm nhạc nữ và giải Bài hát của năm trong Mnet Asian Music Awards lần thứ 13.[59][60]

T-ara tại liên hoan âm nhạc MTV Daum trong năm 2011.

Nhóm đã phát hành lại một phiên bản giới hạn của đĩa mở rộng thứ hai với nhan đề Roly Poly in Copacabana vào ngày 2 tháng 8 năm 2011.[61] Ca khúc chủ đề "Roly Poly in Copacabana" được đặt tên theo tên của bài hát "Copacabana" phổ biến rộng rãi trong thập niên 1980 ở các câu lạc bộ disco tại Jongno.[61] Album đạt vị trí thứ 3 trong khi đĩa đơn đạt vị trí số thứ 40 và 45 trên Gaon và bảng xếp hạng Billboard Korea K-Pop Hot 100.[62]

T-ara phát hành đĩa đơn tiếng Nhật đầu tay "Bo Peep Bo Peep" vào ngày 28 tháng 9 năm 2011[63] và đạt vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng đĩa đơn hàng tuần của Oricon với 49.712 bản được bán ra,[63] biến T-ara trở thành nhóm nhạc nữ nước ngoài đầu tiên giành hạng nhất cho đĩa đơn đầu tay trong lịch sử của bảng xếp hạng Oricon. Đĩa đơn cũng xếp đầu trên bảng xếp hạng Billboard Japan Hot 100 và được RIAJ trao chứng nhận Vàng cho cả hai phiên bản tải xuống trên điện thoại di động và trên máy tính cá nhân.[64][65]

Tháng 11 năm 2011, T-ara phát hành đĩa mở rộng thứ 3 với nhan đề Black Eyes.[66] Album giành vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Gaon. Trước đó, nhóm đã phát hành đĩa đơn "Cry Cry" giành vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng Billboard Korea K-Pop Hot 100 cùng hai giải hạng nhất liên tiếp trên M! Countdown.[67] Một video nhạc dài dài 30 phút có kinh phí sản xuất là 1 triệu won ở Hàn Quốc được đầu tư cho "Cry Cry".[68][69][70] Ngày 30 tháng 11 năm 2011, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ hai tức phiên bản làm lại của bài hát "Yayaya".[71] Đĩa đơn vươn lên vị trí thứ 7 trên Oricon và vị trí thứ 6 trên Billboard Japan Hot 100.[72]

Tháng 12 năm 2011, Core Contents Media thông báo về việc chuyển quyền lãnh đạo nhóm từ Hyomin sang Soyeon.[73] Nhóm thực hiện một chuyến lưu diễn mini kéo dài ba ngày với tên gọi X-mas Premium Live, tổ chức tại Shinagawa Stella Hall ở Tokyo, ZeppNagoya, và Zepp ở Osaka.[71] T-ara trở thành nhóm nhạc nữ lớn thứ hai của Hàn Quốc vào năm 2011, xếp thứ 8 trong cuộc bình chọn Gallup ở Hàn Quốc.[74] Ngày 23 tháng 12 năm 2011, T-ara và Davichi cùng ra mắt bản ballad "Uri Saranghaetjanha" (우리 사랑했잖아, "We Were In Love")[75] mà về sau đã được đưa vào album Funky Town tái bản. Ca khúc giành hạng nhất trên bảng xếp hạng Gaon và hạng nhì trên Billboard Korea K-Pop Hot 100.[76] Cả T-ara lẫn Davichi cùng biểu diễn ca khúc này trên sân khấu Inkigayo hàng tuần của đài SBS giữa lúc T-ara bận rộn chuẩn bị cho các lễ mừng kết thúc năm.[75]

2012: Funky Town, Jewelry Box, Day By Day và Hwa Young rời nhóm

T-ara làm đại sứ SNS cho AINSE trong lễ Beautiful Internet World vào năm 2012.

Ngày 3 tháng 1 năm 2012, T-ara phát hành lại đĩa mở rộng Black Eyes dưới nhan đề Funky Town.[77] Album đạt vị trí số 1[78] trên bảng xếp hạng Gaon hàng tuần và số 2[79] trên bảng xếp hạng Gaon hàng tháng, bán được tổng cộng 76.749 bản.[80] Đĩa đơn thứ hai từ album là "Lovey Dovey" đạt vị trí thứ 1 trên cả hai bảng xếp hạng Billboard Hàn Quốc và Gaon[67][81][82] và vị trí thứ 11 trên Billboard Nhật Bản,[83] nhận được cúp "Triple Crown" lần thứ 2 trên Inkigayo.[84] Ca khúc được sáng tác và sản xuất bởi Shinsadong Tiger và Choi Kyu-sung, mang âm hưởng của dòng nhạc ở châu Âu và Mỹ.[85][86] Hơn 3.3 triệu bản kỹ thuật số đã được tiêu thụ chỉ tính riêng tại Hàn Quốc[77] và 3.7 triệu bản tính đến cuối năm.[87] Trước đó, Core Contents Media đã phát hành phiên bản drama cho "Lovey Dovey" vào ngày 2 tháng 1 là phần tiếp theo của drama "Cry Cry" năm 2011 với sự góp mặt của Qri và Eunjung. Video nhạc dài hơn 20 phút, kể về bi kịch mà "Cry Cry" còn dang dở. Cha Seung-won còn sống và trở nên trầm lặng hơn. Còn Jiyeon, cô bị bọn đàn em cũ của cha vứt ở một góc đường sau khi bị đánh trọng thương và vô tình được Eunjung cứu sống. Jiyeon được đưa đi cấp cứu và phẫu thuật thành gương mặt mới là Qri. Đến phần hai này, vai trò của Ji-yeon kết thúc và chuyển giao cho Qri phụ trách. Qri sống cùng Eunjung nhưng lúc nào cũng đau buồn về chuyện quá khứ. Cô trong một lần đi ăn với Eunjung đã vô tình gặp lại Seung-won. Một lần vào hộp đêm, Eunjung và Qri đã lấy trộm một túi thuốc mà cứ tưởng là hàng lắc. Trùm hộp đêm đó là Lee Min-ho chính là kẻ đã đánh trọng thương Jiyeon và Seung-won. Sau đó, Eunjung bị bắt. Qri nhớ lại tình nghĩa ngày xưa đã được Eunjung cứu sống nên đã đến cứu bạn về. Cha Seung-won một lần nữa vì cứu Qri đã trọng thương. Đoạn cuối video nhạc, Cha Seung-won chết khi đang ngồi trên xe của Qri, phía trước là biển Hàn Quốc trong xanh nổi sóng đầy ám ảnh.[88] Hai phiên bản khác là zombie và Tokyo cũng được ra mắt.[89]

Tháng 2 năm 2012, nhân kỷ niệm chín năm thành lập, Forbes Korea đã lập một danh sách của năm gồm "40 nhân vật nổi tiếng quyền lực hàng đầu". Trong danh sách này, nhóm T-ara đứng thứ 17, trở thành nhóm nhạc nữ quyền lực thứ ba Hàn Quốc.[90] Đến ngày 3 tháng 6, T-ara tổ chức một buổi hòa nhạc nhỏ đầu tiên tại Băng Cốc, Thái Lan.[91]

Vào tháng 4, Core Contents Media thông báo từ tháng 7 T-ara sẽ bổ sung hai thành viên nữa cho nhóm.[92][93] Ngày 30 tháng 5 năm 2012, thành viên Dain gia nhập nhóm khi mới 14 tuổi. Tuy nhiên, cô chưa chính thức ra mắt cùng T-ara cho đến khi nào cô cảm thấy "sẵn sàng" và vẫn đang trong giai đoạn được đào tạo.[10] Đến tháng 1 năm 2015, Dani vẫn là thực tập sinh của T-ara. Về sau Dani có tham gia phiên bản drama của video nhạc "Day By Day".[94] Ngày 14 tháng 6 năm 2012, Core Contents Media giới thiệu thêm thành viên Areum 18 tuổi.[95]

T-ara biểu diễn ở Hà Nội, Việt Nam vào tháng 11 năm 2012.

T-ara phát hành album tiếng Nhật đầu tiên mang tên Jewelry Box vào ngày 6 tháng 6 năm 2012.[96] Album này xếp ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon với doanh số 57.102 bản ở tuần đầu[97] và 14.276 bản ở tuần thứ hai, làm album xuống vị trí thứ 7.[98] Sau một tháng bán hàng, Jewelry Box đã được chứng nhận vàng của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản với doanh số hơn 100.000 bản.[99] Nhóm cũng bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn Nhật Bản đầu tiên với tên gọi T-ara Japan Tour 2012: Jewelry Box tại Nagoya vào ngày 19 tháng 6 và kết thức ở Tokyo vào 26 tháng 7.[100][101] Lượng người tham dự được dự tính trên 40.000 người.[102] Trước khi ra mắt album, nhóm đã phát hành bốn đĩa đơn là "Bo Peep Bo Peep", "Yayaya", "Roly Poly" và "Lovey Dovey" được phát hành lần lượt vào 28 tháng 9 năm 2011,[103] 14 tháng 10 năm 2011,[104] 29 tháng 2 năm 2012[103] và 23 tháng 5 năm 2012.[104]

Ngày 3 tháng 7 năm 2012, T-ara phát hành đĩa mở rộng thứ tư Day By Day[105] đạt vị trí thứ 5 trên Gaon tuần[106] và thứ 4 trên Gaon tháng[107] với doanh số 40.928 bản.[108] Ca khúc chủ đề cùng tên "Day By Day"[109] phát hành cùng ngày leo lên vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng đĩa đơn kỹ thuật số hàng tuần (Gaon Weekly Digital Singles Chart)[110] và Billboard Hàn Quốc (Billboard Korea K-Pop Hot 100).[111] Đĩa mở rộng này được Core Contente Media thông ra mắt vào 13 tháng 6. "Day By Day" được Kim Tae-hyun viết lời nhạc và do Cho Young-soo và Ahn Young-min sản xuất, họ đã từng làm việc với T-ara qua "Cry Cry" và "I Go Crazy Because Of You". Trước khi phát hành chính thức, một clip vũ đạo của bài hát bị rò rỉ trên YouTube vào cuối tháng 5 năm 2012.[112] Màn biểu diễn trở lại đầu tiên cho "Day By Day" diễn ra vào ngày 7 tháng 7 trên sân khấu Music Core với sự hỗ trợ của dàn nhạc 70 người.[113] Dịp này ghi dấu sự ra mắt của thành viên thứ tám của nhóm là Areum và đây là đĩa đơn duy nhất của T-ara có sự tham gia giữa tám thành viên.[114] T-ara cũng ra mắt drama dài 20 phút vào ngày 12 tháng 6 với thể loại khoa học viễn tưởng về các anh hùng trong tương lai năm 2330,[115] được Cha Eun-taek làm đạo diễn tại Seoul, Hàn Quốc.[116] Drama lấy cảm hứng từ bộ phim hành động Úc Mad Max của đạo diễn George Miller.[117] Do số lượng lớn công việc cần hoàn thành nên đã ra mắt muộn đến 13 giờ so với dự kiến,[118] phần thứ hai cũng được phát hành vào tháng 8. Ngay đầu drama, người xem được nghe một đoạn dẫn truyện với nội dung: Loài người đã từng có tham vọng được khoác lên mình bộ áo của Chúa, họ muốn được phán xét và trị vì như những vị Chúa. Tuy nhiên, Chúa tối cao không thể chấp nhận những suy nghĩ đó của con người. Trong thế giới đã lụi tàn, loài người càng trở nên giống thú vật, hơn cả chính những loài thú đó. Họ cố gắng không ngừng nhằm thống trị kẻ khác và bắt đầu giết chóc lẫn nhau. Nhưng rồi một ngày, những lời đồn về một cô gái mang sức mạnh đặc biệt được lan truyền. Đó là cô gái mù tên Dani. Một ngày, nhóm người tàn ác do Jiyeon đứng đầu đến bắt cóc Dani trước sự che chở của Hyomin, Hyomin cũng bị thương rất nặng nhưng được cứu sống. Gạt được Dani, Jiyeon bắt đầu tiêu diệt loài người dưới sự giúp đỡ của cô. Hiểu ra mình bị lừa, Dani (phần hai do Eunjung thủ vai) cố gắng chống trả và tìm lại người chị Hyomin bị thất lạc. Rồi họ cũng gặp được nhau. Cuối cùng, Hyomin thiệt mạng do bảo vệ Dani, Jiyeon cũng mất mạng. Dani đã khóc rất nhiều cho chị của mình.[119][120]

Vào ngày 25 và 26, T-ara tổ chức một buổi hòa nhạc tại Nhật Bản, trong đó Hwayoung chỉ biểu diễn một bài hát do một chân bị chấn thương.[121] Sau buổi biểu diễn, một thành viên của T-ara đã viết "bóng gió" trên twitter.[122] Sau đó, Hwayoung và chị gái Hyoyoung viết lên tweet để ám chỉ một người xấu nào đó mà cuối cùng đã làm cho cư dân mạng Hàn Quốc cho rằng có một cuộc xung đột trong nhóm.[123] Cư dân mạng gửi nhiều thông điệp và bắt đầu lan truyền tin đồn rằng Hwayoung bị bắt nạt.[124] Ngày 30 tháng 7 năm 2012, Core Contents Media bất ngờ thông báo về việc thành viên Hwayoung rời nhóm.[125] Tổng giám đốc Kim Kwang-Soo tuyên bố rằng công ty đã chấm dứt hợp đồng với Hwayoung "chiểu theo ý kiến phàn nàn của 19 người trong đội ngũ 'những người liên quan' với T-ara".[122][123][126] Ông cũng phát biểu rằng vấn đề bắt nạt không phải là nguyên nhân dẫn đến vụ việc này.[127] Vụ lùm xùm khiến các hoạt động của nhóm tạm thời bị dừng lại trong khi các thành viên vẫn tiếp tục các hoạt động riêng.[121] Cả Hwayoung và các thành viên khác trong T-ara đều tuyên bố rằng sự thật về chuyện bắt nạt đã bị các cư dân mạng xuyên tạc, nhưng mặt khác họ cũng xác nhận rằng giữa họ có xảy ra xung đột.[128][129] Về sau có thông báo rằng kế hoạch trở lại của nhóm sẽ không có gì thay đổi; tuy nhiên, người đại diện đã rút lại lời nói trên và thông báo rằng màn biểu diễn trở lại sẽ bị hoãn vô hạn.[130]

Bản phát hành lại của đĩa mở rộng Day By DayMirage ra mắt vào ngày 3 tháng 9 năm 2012 với hai đĩa đơn đã leo lên vị trí thứ 2 theo Gaon tuần[131] và thứ 5 theo Gaon tháng.[132] "Sexy Love"[133][134][135] phát hành cùng ngày giữ vị trí thứ 4 trên Gaon[136] và thứ 3 trên Billboard Hàn Quốc.[137] Đĩa đơn thứ hai "Najgwa Bam" (tiếng Hàn: 낮과 밤, "Day And Night", "Love All") phát hành sau đó vào ngày 8 tháng 9 là sản phẩm hợp tác giữa Areum (T-ara), Gun-ji (Gavy NJ) và Shannon.[138][139]

Ngày 10 tháng 9 năm 2012, có thông báo rằng T-ara sẽ phát hành album nhạc tuyển các bài hát hay nhất tại Nhật Bản, bao gồm tất cả các đĩa đơn tiếng Hàn tính cho đến thời điểm hiện tại[140] (ngoại trừ "Day By Day" và "Sexy Love") nhân dịp kỷ niệm một năm ngày ra mắt ở Nhật,[141] album T-ara's Best of Best 2009-2012: Korean ver. cuối cùng cũng lên kệ vào ngày 10 tháng 10 bởi EMI Music Japan.[104] Ngày 26 tháng 9, T-ara phát hành bản tiếng Nhật của "Day By Day", chủ yếu gồm các cảnh lấy từ video nhạc tiếng Hàn của bài.[142][143] Tháng 10 năm 2012, nhóm phát hành bản tiếng Nhật của "Sexy Love" với ba phiên bản là Limited Edition Type A, Limited Edition Type B và Regular Edition.[144] Không lâu sau đó, nhóm đến Nhật Bản nhằm quảng bá cho đĩa đơn sắp ra mắt.[145]

2013: Lập nhóm nhỏ, Treasure Box, Areum tách nhóm và Again

T-ara biểu diễn tại Hong Kong năm 2013.

Ngày 20 tháng 3 năm 2013, T-ara phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ sáu "Bunny Style!" (バニスタ! Banisuta!?).[146] Đĩa đơn ra mắt với 10 phiên bản khác nhau: bảy phiên bản thường là những bản do từng thành viên trong nhóm đơn ca và ba phiên bản giới hạn là do các nhóm nhỏ trình bày. Bunny Style! (mặt A) là đĩa đơn tiếng Nhật nguyên bản đầu tiên của nhóm.[147] Để quảng bá cho đĩa đơn này, nhóm đã tiến hành nhiều buổi diễn đặc biệt tại 15 thành phố của Nhật Bản, bắt đầu từ ngày 20 tháng 2 tại Sapporo Factory Atrium và kết thúc vào ngày 9 tháng 3 tại Seagull Square ở Nagasaki. Chuyến lưu diễn được phát trên kênh chính thức của nhóm là Nico Nico Douga.[148] Ca khúc cũng giữ hạng nhất trên Billboard Japan Hot 100.[149]

Đầu tháng 4 năm 2013, có thông báo về việc T-ara sẽ lập nhóm nhỏ T-ara N4 gồm bốn thành viên là Eunjung, Hyomin, Jiyeon và Areum.[135][150] Tên nhóm là viết tắt của "T-ara Brand New 4" nhằm biểu thị sự thay đổi của bốn thành viên.[151] Nhóm T-ara N4 ra mắt công chúng ngày 29 tháng 4 năm 2013 bằng ca khúc Countryside Life (전원일기) do Duble Sidekick sản xuất.[152] Đến tháng 6 cùng năm, T-ara ra mắt thêm nhóm nhỏ thứ hai gồm 3 thành viên Boram, Qri và Soyeon tên QBS.[153] Trong hai ngày 12-13 tháng 7 năm 2013, T-ara biểu diễn tại Nippon Budokan nhằm chào mừng việc ra mắt album bằng tiếng Nhật thứ hai Treasure Box.[154][155] Tiêu đề của album đã được tiết lộ vào ngày 15 tháng 6 năm 2013, cùng với danh sách bài hát của 13 bài hát trong album mới.[156] Concept của album là "kho báu" (宝探し? "takarasagashi"). Tháng 7 năm 2013 tại Budokan Concert, T-ara thông báo rằng Qri là trưởng nhóm mới của T-ara.[157]

Ngày 10 tháng 7 năm 2013, Core Contents Media ra video xác nhận việc Areum rời nhóm T-ara để theo đuổi sự nghiệp hát đơn.[158] Ngày 12 tháng 7 năm 2013, Core Contents Media thông báo Dani sẽ thay thế vị trí của Areum trong nhóm T-ara N4 để tham gia các chương trình quảng bá trong nước và quốc tế nhưng sẽ không thay Areum để làm thành viên T-ara.[10] Dani sẽ tham gia quảng bá cùng Eunjung, Hyomin và Jiyeon với tư cách thành viên của T-ara N4 nhờ có vốn tiếng Anh lưu loát.[159] Đến tháng 8, T-ara hợp tác cùng Davichi, See Ya, 5dolls và Speed trong bản kỷ thuật số "Painkiller"; nhân vật chính của video âm nhạc là Ji-yeon.[160]

Ngày 10 tháng 10 năm 2013, T-ara ra mắt mini-album (đĩa mở rộng)[161] thứ tám có nhan đề Again[162] và hai video nhạc là "Number 9"[163] và "I Know The Feeling".[164] Là ca khúc sáng tác chung của Shinsadong Tiger và Choi Gyu Sung, "Number 9"[165] mở đầu bằng giai điệu ballad nhẹ nhàng nhưng khiến người nghe háo hức khi bất ngờ chuyển sang những giai điệu điện tử sôi động,[166] nhóm đã biểu diễn ca khúc lần đầu tiên tại Hallyu Dream Concert[167] cùng với "Sexy Love" vào ngày 6 tháng 10. Trong một cuộc phỏng vấn, Eun Jung tiết lộ rằng cô là một trong những người góp phần tạo nên "I Know The Feeling" bản acoustic. Đây là lần đầu tiên tôi tham gia vào sản xuất nhạc cho T-ara nên rất háo hức và có nhiều thứ để học hỏi. Tôi chú ý tới từng chi tiết nhỏ với hy vọng người hâm mộ sẽ cảm thấy thoải mái khi nghe nhạc của chúng tôi. Tôi tin mọi người sẽ rất thích thưởng thức bản acoustic với tiếng guitar dìu dặt, nhất là vào tiết trời thu như thế này. Hy vọng mọi người sẽ ủng hộ cả "Number 9" và "I Know The Feeling", Eun Jung chia sẻ. Again là mini-album đầu tiên T-ara hát với sáu thành viên, sau sự ra đi của Areum hồi mùa hè.[168][169]

Ngày 3 tháng 12 năm 2013, nhóm đã ra mini album Again 1977 (Repackage) với ca khúc chủ đề là "What Should I Do?" ("Do You Know Me?"). Bài hát được Shinsadong Tiger và Polar Bear phổ lại dựa theo một ca khúc hit ở University Song Festival năm 1977 - What Should I Do? (Sand Pebbles), là một bản pop dance mang hơi hướng retro, vui nhộn và đầy màu sắc cùng những động tác vũ đạo bắt mắt, dễ bắt chước. MV What Should I Do? ca khúc được thực hiện theo phong cách nhạc kịch, vừa có bản Ballad, vừa có bản Dance.[170]

Nhân dịp Giáng sinh 2013, vào ngày 14 tháng 12, nhóm tiếp tục ra một ca khúc ballad ngọt ngào, sâu lắng - "Hide And Seek". Được sáng tác bởi Park Duk Sang và Park Hyun Joong, T-ara dự định đưa vào mini album Again 1977 (Repackage). Tuy nhiên họ quyết định phát hành vào dịp Giáng Sinh, nhưng đã ra trước Giáng Sinh một vài ngày và nằm trong bản repackage thứ hai của AgainWhite Winter.[171]

2014: Các dự án solo, Gossip Girls, And & End và Little Apple

T-ara trên sân khấu trong buổi lễ ra mắt cho đội Hàn Quốc vào 11 tháng 9, 2014 tại công viên Olympic, Songpa-Gu, Seoul.

T-ara được xếp thứ 7 là nhóm nhạc với hầu hết các bài hát hit #1 trên các bảng xếp hạng âm nhạc kỹ thuật số trong thập kỷ qua (mặc dù ra mắt hơn 4.5 năm trước), với 13 bài hát.[172] Ngày 19 tháng 1 năm 2014, T-ara có buổi hòa nhạc thứ hai ở Thành Đô, Trung Quốc. Đây là một trong năm buổi hòa nhạc mà nhóm đang có kế hoạch thực hiện tại Trung Quốc vào giai đoạn năm 2014. Đối với đêm diễn này, T-ara dự kiến biểu diễn 20 bài hát; nhóm cũng dành năm giờ để kiểm tra kỹ lưỡng về phần âm nhạc, vũ đạo và trang phục vào ngày 16 tháng 1.[173] Điều đó tiết lộ rằng T-ara trở lại Nhật Bản với bộ đôi đĩa đơn A-side thứ 9 "Lead The Way" và "LA'booN" vào ngày 5 tháng 3 năm 2014. Ngày 20 tháng 2, T-ara tung teaser cho "Lead The Way" trên kênh YouTube ở Nhật Bản của mình. Đĩa đơn này độc đáo ở chỗ là nhóm phát hành chín phiên bản khác nhau và sáu video âm nhạc cho mỗi thành viên.[174][175] Ngày 14 tháng 2 năm 2014, T-ara tổ chức buổi hòa nhạc chung với nhóm SPEED tại nhà hát Koh Pich, Phnom Penh, Campuchia với 3.000 chỗ ngồi được bán ra. Điểm đặc biệt của buổi hòa nhạc này là ngày biểu diễn đúng vào dịp Valentine và được phát sóng trên đài truyền hình quốc gia CTN và kênh MYTV để không những người hâm mộ ở Campuchia mà ngay cả cộng đồng quốc tế như Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản… cũng có thể theo dõi sau khi buổi hòa nhạc diễn ra.[176]

Ngày 21 tháng 2 năm 2014, T-ara tung ra MV "First Love" của bộ ba Jiyeon, HyominSoyeon, ca khúc được sáng tác bởi Cho Young-soo và nằm trong album All-Star của nhạc sĩ này.[177] Đây là lần kết hợp trở lại đầu tiên của T-ara và Cho Young-soo sau bài hit "Day By Day".[178] "First Love" là một bản Tango pha với một chút rap của nữ rapper tân binh EB, rất phù hợp với chất nhạc đặc trưng của nhóm.[179][180] Video nhạc được thực hiện khá đơn giản như một số video nhạc của dự án khác với cảnh làm việc, ghi âm trong phòng thu mộc mạc.[181]

Theo thông tin tiết lộ rằng JiyeonHyomin sẽ ra mắt solo,[182][183] họ đang xem xét việc thúc đẩy cùng lúc nhưng họ cũng xem xét việc cho Jiyeon thúc đẩy vào tháng 5 và Hyomin thúc đẩy vào tháng 6.[184] Ngày 21 tháng 3, Core Contents Media Nhật Bản thông báo rằng T-ara phát hành album phòng thu thứ ba Gossip Girls tại Nhật vào ngày 14 tháng 5 năm 2014 với ba phiên bản là Diamond,[185] Sapphire[186] và Pearl.[187] Ngày 7 tháng 4, video teaser được Jiyeon phát hành để bắt đầu quảng bá cho mini-album đầu tiên của cô là Never Ever được ra mắt vào ngày 20 tháng 5 năm 2014 với ca khúc chủ đề "1 Minute 1 Second".[188][189] Album giành vị trí thứ 3 trong Gaon tuần và 13 trên Gaon tháng với doanh số 15.639 bản.[190] Sau đó, thành viên Hyomin ra mắt album solo Make Up với đĩa đơn "Nice Body" kết hợp cùng rapper Loco vào 30 tháng 6 năm 2014.[191][192] Album giữ vị trí thứ 6 ở Gaon tuần[193] và 15 theo Gaon tháng.[194]

Ngày 6 tháng 8 năm 2014, có thông báo rằng T-ara sẽ trở lại với một album vào tháng sau.[195][196] Ngày 10 tháng 9, T-ara tập hợp lại đội hình và ra mắt mini-album And & End với 7 bài hát và ca khúc chủ đề thuộc thể loại Big Room mang tên "Sugar Free".[197][198][199] Ca khúc được sản xuất bởi Shinsadong Tiger - nhạc sĩ đã làm nên tên tuổi cho nhóm qua các hit "Roly Poly", "Lovey Dovey", Number 9 và Beom & Nang.[200][201] Với lần ra mắt này, T-ara đi theo dòng nhạc Big Room với vũ đạo "rắc đường" cùng nền nhạc điện tử dồn dập và sôi động, làm người nghe bắt gặp phong cách nhạc lặp đi lặp lại, dễ gây nghiện. Nhạc nền dồn mạnh và chói phần nào che lấp chất giọng của người hát.[202] Đĩa đơn giữ vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng bài hát kỹ thuật số thế giới (Billboard's World Digital Songs) và thứ 12 cho mini-album trên bảng xếp hạng album thế giới (World Albums Chart)[203][204] với doanh số 20.677 bản.[205] Ngoài ra, T-ara còn quảng bá ca khúc "I Don't Want You". Vào ngày 24 tháng 9, một album remix theo phong cách nhạc điện tử, nhạc sàn được phát hành cùng tên gọi EDM Club Sugar Free Edition với 16 bài hát.[206] Album này bao gồm một phiên bản tiếng Anh của "Sugar Free", đó là bài hát đầu tiên của T-ara được thu âm bằng tiếng Anh.[203]

Ngày 13 tháng 10, T-ara đã ký một hợp đồng với công ty có ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc là Longzhen Culture Development với trị giá 5 triệu KRW (~ 4.8 triệu USD).[207] Buổi họp báo thông báo sự kiện được tổ chức tại khách sạn Thế giới mới ở Bắc Kinh.[208] Ngày 24 tháng 11, T-ara ra mắt đội hình gồm bốn thành viên là Qri, Eunjung, HyominJiyeon để quảng bá ca khúc Hoa ngữ "Little Apple",[209] một bản hit tiếng Trung của nhóm nhạc Chopstick Brothers.[210] Ca khúc do Shinsadong Tiger sản xuất, được Core Contents Media phát hành dạng đĩa đơn kỹ thuật số và do KT Music phân phối.[211] "Little Apple" mang lại cho khán giả những giây phút hấp dẫn, vui nhộn, khi các cô gái vui chơi ở câu lạc bộ đêm hay nhảy ở công viên nước và xuất hiện trong bộ quần áo màu vàng lấy cảm hứng từ diễn viên nổi tiếng Lý Tiểu Long.[212] Video âm nhạc đánh dấu con đường Trung tiến đầy tiềm năng của nhóm, MV mới ra mắt được hai ngày đã thu hút được 8 triệu lượt xem trên trang Tudou của Trung Quốc, trước đó ca khúc này cũng nhận thành tích 2 triệu lượt xem trong mười hai giờ.[213] MV của bài hát có sự diễn xuất của Seung Hee từ F-ve Dolls và Dani từ T-ara N4.[209]

Ngày 25 tháng 12, T-ara có một buổi hòa nhạc đầu tiên ở quê nhà Hàn Quốc sau nhiều năm biểu diễn ở nước ngoài. Buổi hòa nhạc mang tên Dear My Family và được tổ chức tại COEX Auditorium, Samseongdong, Seoul với 1.100 chổ ngồi.[214] Đây là buổi hòa nhạc đầy ý nghĩa và nhiều cảm xúc nhất của T-ara.[215] Sau đó 2 ngày, nhóm có thêm buổi hòa nhạc nữa tại Thượng Hải, Trung Quốc.[214]

2015: Eun Jung solo, So Good và Great China Tour

T-ara tại Summer K-pop Festival năm 2015.

Sau buổi hòa nhạc tại nhà Hàn Quốc, T-ara tiếp tục di chuyển đến Việt Nam để thực hiện mini show tại đây.[216][217][218][219][220][221] Cộng đồng V-Queen’s (tên gọi chung của Fanclub T-ara tại Việt Nam) đã chuẩn bị rộn ràng cho sự trở lại của thần tượng, như: in áo đồng phục, vẽ nón lá, đặt đèn phát sáng, đạp xe khắp trung tâm thành phố để quảng bá đêm diễn của T-ara, tập nhảy flashmob các bài hát của nhóm.[222] Nhiều nhóm fan cũng đang kêu gọi và phân phát hơn 3.000 băng rôn khẩu hiệu cầm tay cùng hơn 1.000 quả bóng bay để sử dụng cho đêm diễn sắp tới.[223] Ngày 9 tháng 1, T-ara hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất, ở đây nhóm đã gặp vấn đề khiến lịch trình bị thay đổi, một fan người Việt quá khích đã giật tóc của Ji-yeon.[224][225] Ngày 10 tháng 1 năm 2015, mini show được diễn ra ở sân khấu Lan Anh tại thành phố Hồ Chí Minh với hơn 3.000 fan Việt Nam tham gia cùng với nhiều fan quốc tế.[226][227][228][229] T-ara diễn tổng cộng 7 ca khúc, bao gồm: T.T.L (Time to Love), Sugar Free, Number Nine, Bo Peep Bo Peep, Sexy Love, Roly-PolyLovey-Dovey. Nhóm chỉ thay đúng hai bộ đồ diễn, khoe vẻ sexy với trang phục màu tím và nét trong sáng với đồng phục nữ sinh. Hai MC của chương trình là Quốc Quân và Hari Won.[230][231][232]

Ngày 27 tháng 3, MBK thông báo Eun Jung sẽ đi hát riêng sau Ji Yeon và Hyomin.[233] Ngày 9 tháng 5, Eun Jung ra mắt với tư cách là ca sĩ solo và phát hành Mini album đầu tiên I'm Good. Ca khúc chủ đề cùng tên nói về chuyện tình cảm của cô gái tóc đỏ mang biệt danh Elsie.[234] "I'm Good" là sự hợp tác giữa Eun Jung và K.Will, phiên bản Trung Quốc của video âm nhạc đạt vị trí thứ #2 trên bảng xếp hạng YinYueTai's.[235] Trước đó vào 3 tháng 2, MBK Entertainment vừa ra mắt một dự án gọi là "TS" với các Idol cùng công ty (T-ara, The SeeYa, SPEED) và nữ ca sĩ solo Seung Hee. Sản phẩm mùa đông mang tên "Don't Forget Me".[236]

Ngày 20 tháng 6 năm 2015, T-ara bắt đầu có tour đầu tiên của mình tại Trung Quốc với hai buổi hòa nhạc ở Nam Kinh và Bắc Kinh là vào ngày 11 tháng 7, tiêu thụ hơn 4.000 vé ở Nam Kinh[237]. Tại Bắc Kinh, T-ara đã có một buổi sinh nhật nhiều cảm xúc nhằm kỷ niệm 6 năm thành lập.[238]

Năm 2015, MBK Entertainment thông báo rằng T-ara sẽ có màn trở lại vào hè tháng 8.[239] Ngày 4 tháng 8, T-ara có sự trở lại với ca khúc có tiêu đề So Crazy[240][241] cùng mini-album thứ 11 So Good đã vượt qua triệu lượt xem trong 2 ngày.[242] Đây là sự hợp tác đầu tiên của Brave Brothers với nhóm T-ara;[243] trước đó, Brave Brothers từng hợp tác với Hyomin trong "Nice Body".[244] Cũng trong tháng này, Queen's (Fanclub chính thức của T-ara) đã giành chức vô địch trước Directioners trong cuộc bình chọn của Billboard mang tên "Fan Army Face Off" với số phiếu áp đảo là 1.153.002 phiếu ở 64 trang Major Fanbases[245] trên toàn thế giới.

Ngày 24 tháng 10, T-ara tổ chức buổi hòa nhạc tại tỉnh Hợp Phì, Trung Quốc, nhóm biểu diễn 22 ca khúc và bán ra được 5.000 chỗ ngồi.[246] Cuối cùng, T-ara có buổi hòa nhạc thứ tư trong chuỗi China Tour của mình tại tỉnh Quảng Châu vào ngày 19 tháng 12, có sáu tiết mục solo được từng thành viên thể hiện, vé bán ra được 5.000 chỗ ngồi.[246]

T-ara quảng bá Sweet Temptation tại Hong Kong vào ngày 15 tháng 6.

Ngày 14 tháng 10, Eun Jung tiếp tục ra mắt thêm đĩa mở rộng thứ hai Goodbye.[247] Ca khúc cùng tên cũng được thể hiện trong web-drama Only For You của cô.[248] Đây là một trong sáu web-drama nằm trong Sweet Temptation[249][250] được MBK Entertainment ra mắt trong năm 2015 do được từng thành viên tham gia diễn xuất và tập đầu sẽ lên sóng vào ngày 5 tháng 10.[251][252] Cũng trong năm nay, T-ara nhận cup Idols Singing Contest và giải đại sứ Korean Center Awards 2015, đây là những giải thưởng đầu tiên trong năm 2015 của T-ara.[253]

Tháng 11 năm 2015, T-ara ra mắt "Cry Cry" phiên bản Trung Quốc ("Official Chinese Theme Song"), bài hát nhằm quảng bá cho games "World of Warships".[254] Ý tưởng của games là những chiến hạm hải quân khổng lồ trên biển. T-ara thường đến Trung Quốc để tham gia nhiều sự kiện khác nhau vì đây là một thị trường chủ lực của nhóm từ khi hit "Little Apple" ra mắt.[255].

2016: Hyomin solo

Hyomin của T-ara chính thức có sự trở lại với mini-album thứ hai[256] vào ngày 17 tháng 3 kể từ sau mini-album đầu tay phát hành vào tháng 6 năm 2014. MBK Entertainment cho biết: Hyomin đang chuẩn bị để thực hiện màn trở lại solo của mình vào tháng ba. Album Sketch được Ryan S. Jhun sản xuất, là tác giả của nhiều ca khúc như View (Shinee), Love Me Right (EXO), Dumb Dumb (Red Velvet); Hyomin cũng tổ chức một showcase vào ngày 16 tháng 3 quảng bá cho Sketch.[257] Cũng trong tháng 3, T-ara đến Việt Nam để tổ chức mini-show T-ara in Sai Gon và tham dự buổi ra mắt hãng điện thoại Pantach. Cả sáu thành viên ở lại Việt Nam từ ngày 12 đến ngày 15 dưới sự chào đón của hơn 2000 fans tại sân bay.[258][259][260]

Tháng 3 năm 2016, YinYueTai công bố Top 10 MV K-pop được xem nhiều nhất Trung Quốc. Trong đó, ca khúc "Number Nine" của T-ara đứng đầu bảng xếp hạng với 137.9 triệu lượt xem, ca khúc khác là "Sugar Free" giữ vị trí thứ ba với 100.2 triệu lượt xem, xếp sau "Gangnam Style" của PSY (119.9 triệu lượt xem).

Nhóm nhỏ

T-ara N4

Bài chi tiết: T-ara N4

Ngày 12 tháng 4 năm 2013, Core Contents Media xác nhận việc thành lập nhóm nhạc nhỏ đầu tiên của T-ara là T-ara N4 (tiếng Hàn: 티아라 엔포), bao gồm bốn thành viên là Eunjung, Hyomin, JiyeonAreum.[261] Đại diện của Core Contents Media chia sẽ: Cái tên T-ara N4 hay T-ara Brand New 4 thể hiện sự đột phát mới mẻ của 4 cô gái. Nhóm sẽ mạnh dạn dứt bỏ phong cách trước đó của T-ara và sử dụng những phục trang, phụ kiện rực rỡ lấp lánh để làm bật cá tính mỗi thành viên. T-ara N4 cũng sẽ thể hiện một phong cách trình diễn mới.[262] Đĩa đơn đầu tay "Countryside Life" (tiếng Hàn: 전원일기, "Jeon Won Diary")[263][264] do Duble Sidekick sản xuất và được Hong Won-ki làm đạo diễn cho phiên bản dance,[265] lấy cảm hứng từ bộ phim cùng tên vào thập niên 1980.[266] Đây là một ca khúc nhạc dance "tân thời và mãnh liệt" với nhiều yếu tố hip-hop.[267] Video nhạc ra mắt vào ngày 29 tháng 4 năm 2013[268] và được hỗ trợ một đoạn rap bởi Woo Tae-woon của nhóm Speed.[269][270] Teaser của bài hát được ra mắt trước đó vào ngày 26 tháng 4 tại M! Countdown ở buổi hòa nhạc Đài Loan.[271][272] Đĩa đơn này cũng phát hành phiên bản drama vào ngày 7 tháng 5[273][274][275] và được ra mắt tại thị trường Mỹ vào khoảng tháng 6 năm 2013 với sự giúp đỡ của Chris Brown.[276][277][278][150][267][279]

QBS

Bài chi tiết: QBS

Tháng 5 năm 2013, có thông báo rằng ba thành viên còn lại của T-ara là Qri, BoramSoyeon sẽ lập thêm một nhóm nhạc nhỏ nữa mang tên là QBS.[280][153][281] Nhóm sẽ tập trung vào thị trường Nhật Bản và ra mắt đĩa đơn đầu tay "Like The Wind" (tiếng Nhật: 風のように, Kaze no Youni)[153][282] vào ngày 26 tháng 6 năm 2013[283], ca khúc được sáng tác bởi Takanori Fukuta. Để thúc đẩy quảng bá, QBS tổ chức một live show ở Quảng trường thành phố Sunshine tại Ikebukuro, Tokyo vào ngày 10 tháng 6 năm 2013.[284] Nhóm biểu diễn "Kaze no yo ni" ("Like The Wind"), "Shabontama no Yukue" (シ ャ ボ ン 玉 の ゆ く え?) của Boram và Qri và "Love Poem" của Soyeon trước 2000 người hâm mộ.[285][286]

Thành viên

Thành lập với cái tên ban đầu Super Rookies cùng năm thành viên tham gia là Jiae (sinh 6 tháng 8, 1986), Jiwon (sinh 5 tháng 4, 1988), Eun-jung (sinh 12 tháng 12, 1988), Hyomin (tiếng Hàn: 효민; sinh 30 tháng 5, 1989) và Ji-yeon (sinh 7 tháng 6, 1993).[4] Nhóm đã được đào tạo chuyên nghiệp về kỹ năng thanh nhạc và khả năng diễn xuất trong ba năm ở Mnet Media.[287] Tháng 4 năm 2009, nhóm phát hành ca khúc "Good Person" cho bộ phim Cinderella Man.[20] Hai tháng sau, Jiae (tiếng Hàn: 지애) và Jiwon (tiếng Hàn: 지원) rời nhóm do khác biệt về phong cách âm nhạc.[22]; cùng lúc này, Boram (sinh 22 tháng 3, 1986), Qri (sinh 12 tháng 12, 1986) và So-yeon (sinh 5 tháng 10, 1987) vào nhóm. Ngày 29 tháng 7 năm 2009, T-ara chính thức ra mắt với công chúng trong chương trình Radio Star và xuất hiện lần đầu trên M! Countdown với Lies và Wanna Play.[26]

Trước khi ra mắt, Qri (tiếng Hàn: 큐리) từng là tay chơi bass trong nhóm Six Color và từng làm người mẫu ảnh, cô cùng Boram tốt nghiệp ngành Nghiên cứu Nghệ thuật của trường Đại học Myungji. Boram (tiếng Hàn: 보람) là thế hệ thứ ba trong gia đình tham gia hoạt động nghệ thuật giống như ba Jeon Young-rok, mẹ Lee Mi-young, ông nội Hwang-hae và bà ngoại Baek Sul-hee, tất cả đều nổi tiếng.[288][289] So-yeon (tiếng Hàn: 소연), cô từng là thực tập sinh để chuẩn bị ra mắt và làm trưởng nhóm cho nhóm nữ Girls' Generation nhưng sau đó lại rời khỏi công ty do SNSD ra mắt cá nhân, So-yeon cũng được nhận giải thưởng vàng (1st Place) cho các cuộc thi hát CMB Chin Chin vào 2005.[290] Khi ra mắt cùng T-ara, So-yeon đảm nhận vai trò giọng ca chính của nhóm.[290] Eun-jung (tiếng Hàn: 은정) và Ji-yeon (tiếng Hàn: 지연) là hai thành viên của công ty được đào tạo về diễn xuất nhưng sau đó cả hai người chuyển sang ca hát, khác với ý định ban đầu của họ.[291] Eun-jung gia nhập làng giải trí thông qua cuộc thi Little Miss Korea vào 1995, cô từng vô địch ba cuộc thi Taekwondo thời cấp II.[292] Còn Ji-yeon, cô được biết đến với biệt danh "Tiểu Kim Tae-hee" nhờ gương mặt khá giống với diễn viên Kim Tae-hee, Ji-yeon cũng là gương mặt đại diện của T-ara.[293] Hyomin là thành viên ulzzang nổi tiếng trên Internet, cô từng làm người mẫu cho các trung tâm mua sắm trực tuyến và từng là thực tập sinh của JYP Entertainment để thay thế HyunA trong nhóm Wonder Girls.

Hoạt động một thời gian thì đến tháng 7 năm 2010, T-ara đã bổ sung thêm thành viên nữa là Hwa-young (sinh 22 tháng 4, 1993). Cô được công ty chú ý khi cùng chị Hyoyoung xuất hiện trên SBSStar King.[294] Hwa-young (tiếng Hàn: 화영) bắt đầu hoạt động cùng T-ara trong phần ba của Hello Baby và quảng bá mini-album đầu tiên Temptastic.[295] Đến giữa năm 2012, Core Contents Media giới thiệu thêm hai thành viên nữa là Dain (sinh 23 tháng 12,1999) và Areum (sinh 19 tháng 4, 1994).[93] Areum (tiếng Hàn: 아름) chính thức ra mắt cùng T-ara trong lần phát hành mini-album Day by Day,[296] còn Dani (tiếng Hàn: 다니) thì được gán vào nhóm nhỏ T-ara N4 nhờ vốn tiếng Anh lưu loát.[297]

Tháng 7 năm 2012, Hwa-young rời nhóm do những vấn đề liên quan đến việc "bắt nạt thành viên".[298][299][300] Một năm sau đó, tức vào tháng 7 năm 2013, Areum rời khỏi T-ara để theo đuổi sự nghiệp solo.[296] Hiện tại, T-ara hoạt động chính thức với sáu thành viên.[301]

Dòng thời gian thành viên

Dòng thời gian trưởng nhóm

Hoạt động khác

T-ara làm đại sứ cho hương hiệu điện thoại Hàn Quốc Pantech tại Việt Nam năm 2016

Quảng cáo

Trước khi ra mắt, T-ara nhận được đề nghị chứng thực cho đồ uống, may mặc, mỹ phẩm và người bán thông tin liên lạc.[302] Tháng 10 năm 2009, T-ara đã ký hợp đồng cho bộ phim thương mại đầu tiên Nonghyup Apples. Nhóm đã ghi âm bài hát "Apple Song" cho các CF, mà sau này đổi tên thành "Apple Is A" và đưa vào album đầu tay Absolute First Album.[302] Năm 2010, T-ara làm người mẫu cho các công ty như Mentholatum Korea,[303] Tedin Water Parks[304] và Olympus Cameras.[305] Sau đó nhóm được chọn làm người mẫu cho Tedin Water Parks một lần nữa vào năm 2011.[304] Trong tháng 2, T-ara và Supernova đã ký hợp đồng quảng cáo cho chuỗi nhà hàng Gusto của một gia đình tại Nhật Bản.[306]

Năm 2011, T-ara làm mẫu trong bộ phim thương mại của thương hiệu thể thao Spris, thương hiệu điện tử iRiver, công ty phần mềm Windysoft, lưu trữ quang học Look Optical,[307] mì ăn liền Shin Ramyun,[308] Crown Mountain.[309] T-ara cũng ra mắt thương hiệu café của riêng mình có tên Cafe Page One và sẽ mở rộng 500 cửa hàng trên toàn quốc.[310] Cafe Page One khai trương vào ngày 1 tháng 7 năm 2011, nơi mà các thành viên có mặt để chào đón và phục vụ các khách hàng.[311] Cùng năm đó, T-ara được chọn làm người mẫu quảng cáo mới cho nhãn hiệu mỹ phẩm Tony Moly.[312] Nhóm này dự kiến ​​sẽ làm người mẫu cho các thương hiệu không chỉ ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu Á khác.[313] T-ara cũng là nhóm nhạc thần tượng đầu tiên ký hợp đồng với trung tâm mua sắm trực tuyến Hi-Mart.[314] Vào tháng 2 năm 2012, T-ara đã trở thành hình tượng cho chuỗi gà Brilliant Chicken.[315]

Vào tháng 9 năm 2013, T-ara đã ký hợp đồng đầu tiên của mình kể từ khi vụ bê bối của năm trước, làm hương hiệu cho thời trang Nhật Bản DPG.[316] Vào đầu năm 2015, T-ara đã ký hợp đồng 1 triệu USD với Celucasn, một thương hiệu Trung Quốc, nhóm quảng bá về quần áo và phát hành một đoạn video ngắn để quảng cáo.[317]

Phim ảnh

Ngoài việc tham gia các hoạt động âm nhạc, sáu thành viên T-ara cũng góp mặt trong nhiều dự án phim truyền hình lẫn điện ảnh. Eun-jung, cô được xem là thành viên tham gia màn ảnh diễn xuất nhiều nhất. Trước khi ra mắt cùng T-ara năm 2009, Eunjung đã góp vai cho nhiều bộ phim khác nhau như: A New Generation of Adults, White: The Melody of the Curse, Death Bell, Time Please Stop,...[318][319][320][321] Cô đã đạt giải Ngôi sao mới trong MBC Dramma Award 2010[322] với phim Coffee House[323][324][325][326][327][328] và Diễn viên mới xuất sắc nhất trong MBC Entertainment Awards 2011 ở phim We Got Married.[329] Năm 2009, Boram vào vai Ami trong phim truyền hình một tập Purple Heeled Grim Reaper Is Coming trong khi Qri tham gia phim Queen Seon Deok với vai vợ Kim Yeo Shin. Đầu năm 2010, T-ara được làm khách mời trong phim Master Of Study do Ji-yeon thủ vai chính, phim này cũng giúp cô nhận được hai đề cử trong KBS Drama Awards.[330] Năm 2011, Qri cùng Eun-jung góp mặt trong phim truyền hình King Geunchogo của đài KBS;[331] Qri cũng xuất hiện với So-yeon với tư cách khách mời ở phim Giants. Cũng trong năm này, Hyomin nhận giải Nữ diễn viên mới xuất sắc nhất trong phim truyền hình MBC Gye Baek của MBC Drama Awards ở vai Cho Young.[332] Đến năm 2011, Hyomin góp vai Yurin trong phim kinh dị Gisaeng Ryung thì Ji-yeon lại được làm khách mời ở phim Miss Ripley của đài MBC. Năm 2012, So-yeon và Ji-yeon góp vai vào hai bộ phim của đài KBS2Haeundae Lovers[333]Dream High 2.[334][335] Những năm tiếp theo, các thành viên T-ara ít tham gia đóng phim hơn ngoài Eun-jung tiếp tục góp mặt ở các bộ phim như: Endless Love, I Love You From Today,...[336] Năm 2015, T-ara phát hành dự án phim Sweet Temptation gồm sáu bản web-drama do từng thành viên trong nhóm tham gia diễn xuất và tập đầu sẽ lên sóng vào ngày 5 tháng 10.[250][249]

Từ thiện

T-ara đã tổ chức sự kiện từ thiện Charity Bazaar vào ngày 14 tháng 12 năm 2013 tại Gangnam. Quần áo cũ của T-ara, các trang phục sân khấu được đóng góp từ cá thành viên Davichi, Ha Seok-jin, Hwang Jung-eum và Son Ho-jun đã được bán đấu giá. T-ara cho biết tổng số tiền thu được là 12.5 triệu won (tương đương 12.000 USD) từ doanh số bán hàng và họ sẽ tặng khoảng 2.5 triệu won ngay trong ngày. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, T-ara tặng số tiền còn lại là 10 triệu won cho chiến dịch chia sẻ Hope Windmill của Hội Chữ thập đỏ tổ chức bằng cách đến thăm sự kiện này. T-ara cho biết: Chúng tôi có thể kết thúc năm với một trái tim ấm áp nhờ có nhiều người đã tham gia sự kiện từ thiện và chúng tôi tạ ơn những người đã giúp T-ara thực hiện nó.[337][338]

Phong cách nghệ thuật

Âm nhạc

Ngay khi ra mắt năm 2009, T-ara chuyên trị dòng nhạc chính là dance-popballad. Phát hành album đầu tiên Absolute First Album, T-ara bắt đầu đi theo hướng "hiện đại" và "trẻ trung" với những đĩa đơn mang giai điệu sôi động, mới mẻ và dể gây nghiện. Mỗi lần quảng bá một sản phẩm, T-ara luôn tự đổi mới mình trong âm nhạc. Như hai đĩa mở rộng TemptasticJohn Travolta Wannabe mà T-ara phát hành năm 2010-2011 với âm hưởng của dòng nhạc electropop thì T-ara lại chuyển sang thể loại electronic mạnh mẽ và sôi động trong đĩa mở rộng 2013 Again hay mini-album năm 2014 And & End, T-ara lại muốn thử sức cùng dòng khạc EDM với tiết tấu nhanh và giai điệu dồn dập.[1][2][339][340]

Hình tượng

T-ara có khả năng vừa hát live vừa vũ đạo liên tục, mỗi ca khúc mà T-ara chọn để ra mắt đều mang một phong cách khác nhau. Tháng 11 năm 2009, T-ara nhanh chóng gây được chú ý qua đĩa đơn "Bo Peep Bo Peep" khi hóa thân thành "thú mèo", màn kết hợp giữa điệp khúc 'Bo peep bo peep!' cùng điệu nhảy của mèo và những phụ kiện trang phục mèo đính kèm làm cho người hâm mộ thấy thích thú.[341] Năm 2010, T-ara xuất hiện với hình ảnh của những cô tiểu thư giàu sang tham dự tiệc và những thổ dân nghịch ngợm trong hai đĩa đơn của đĩa mở rộng Temptastic. Giữa năm 2011, T-ara đạt thành công vang dội với đĩa đơn "Roly-Poly" khi lấy cảm hứng từ bản disco của những năm 1980 với phong cách retro kết hợp cùng âm nhạc hiện đại.[341][342][343] Đại diện của Gaon cho biết: Roly Poly đã đạt được kết quả rất tốt và liên tiếp tăng trưởng số lượng nghe và tải về mặc dù chiến dịch quảng cáo đã kết thúc! Thành công đã thực sự đến với họ khi khán giả dường như không thể quên nhắc đến ca khúc trong một thời gian rất dài!.[342]

Đầu năm 2012, T-ara phát hành ca khúc "Lovey-Dovey" (phiên bản zombie) trong lúc mùa Halloween đến gần. Tuy giai điệu của bài hát không liên hoan gì đến Halloween nhưng những thây ma zombie trong MV làm người xem phải sợ hãi. Mở đầu MV, một cô gái bị thây ma tấn công, T-ara đã khuấy động cả quán bar với màn vũ đạo đẹp mắt nhưng bất chợt thây ma zombie xuất hiện và tấn công những người có mặt, T-ara vẫn tiếp tục trình diễn ca khúc của mình bất chấp bị binh đoàn thây ma đe dọa.[344][345] Cuối năm, T-ara ra mắt bài hát popping Sexy Love cùng với điệu nhảy robot mạnh mẽ. Đây là bản hit thứ 4 được Shinsadong Tiger viết cho T-ara sau "Bo Peep Bo Peep", "Roly Poly" và "Lovey Dovey". Hiện tại, MV này có lượt xem YouTube cao nhất của T-ara.[346] Tháng 3 năm 2013, T-ara trở lại thị trường Nhật Bản với sản phẩm "phong cách thỏ" "Bunny Style!", trong MV các cô gái chơi đùa cùng một chú thỏ và biểu diễn màn vũ đạo trong giống như thỏ.[149][347]

Đĩa nhạc

Album

Tiếng Hàn Quốc
Tiếng Nhật Bản

Đĩa mở rộng

Các buổi diễn

Chuyến lưu diễn

Buổi hòa nhạc

  • 2012: T-ara 1st Lovey Dovey Roly Poly Live in Bangkok[91]
  • 18 tháng 9, 2012: T-ara Showcase in Hong Kong[360][361]
  • 2012: T-ara Showcase in Kuala Lumpur[362]
  • 2013: It's T-ara Time Live in Hong Kong[363][364]
  • 2013: T-ara Showcase in Beijing[365]
  • 2013: T-ara's On Air in Guangzhou[366][367]
  • 2014: T-ara's On Air in Chengdu[368]
  • 2014: T-ara & Speed Concert in Phnom Penh[176]
  • 2014: T-ara Concert "Dear My Family" in Seoul[214]
  • 2014: T-ara Concert in Shanghai[214]
  • 2015: T-ara 1st Fan Meeting in Ho Chi Minh City[227][228]
  • 2016: T-ara Fan Meeting in Sai Gon[369][370]
  • 2-4 tháng 5, 2016: T-ara Special Fanmeeting 2016 in Kobe & Tokyo[371][372]
  • 21 tháng 5, 2016: T-ara & MIC Yuefan FPlus Mini Concert in Beijing

Sách

Giải thưởng và đề cử

Sau khi ra mắt, T-ara phát hành đầu tay của mình Absolute First Album năm 2009 với bản hit "Bo Peep Bo Peep".[35] Ca khúc đã mang về 5 chiến thắng trên Music BankInkigayo,[35] được trao giải Triple Crown ở SBS Inkigayo và 2 lần liên tiếp đứng nhất K-Chart ở Music Bank.[36][342] Cuối năm 2009, T-ara nhận giải Tân binh của năm tại Golden Disk Awards.[34] Đĩa đơn từ Breaking HeartTemptastic năm 2010 của T-ara đều lần lượt nhận giải trên các chương trình âm nhạc, như: "I Go Crazy Because Of You" dành giải trên InkigayoM! Countdown, Wae Ireoni?Yayaya dành 2 giải trên M! Countdown.[373]

Năm 2011, ba đĩa đơn của T-ara là "Roly Poly", "Cry Cry" và "We Were In Love" lần lượt giữ vị trí #1 trên bảng xếp hạng GaonBillboard.[53] Riêng "Roly Poly" và "Cry Cry" đạt vị trí #1 trên Billboard. Ca khúc "Roly Poly" là bài hát được tải xuống nhiều nhất ở Hàn Quốc năm 2011 với hơn 4,6 triệu lượt tải;[55] nhận được bốn giải ở Gaon Chart Awards,[374] MelOn Music Awards,[375] Seoul Music Awards,[376] Soompi Gayo Awards[377] cùng hai đề cử ở Mnet Asian Music Awards.[378] Năm 2012, T-ara tiếp tục thành công với đĩa đơn "Lovey Dovey" khi nhận giải Triple Crown lần thứ 2 ở SBS Inkigayo,[84] tiêu thụ hơn 3,3 triệu bản kỹ thuật số ở Hàn Quốc.[77]

Năm 2015, T-ara được trao giải Nghệ sĩ Hàn Quốc được yêu thích nhất và Nghệ sĩ Hàn Quốc của năm ở Yinyuetai V-Chart Awards 2015 tại Trung Quốc cùng nhiều giải thưởng khác ở nước này.[379]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă Kata, Redaksi Lingua. K10; The Best 10 Korean Boy Band & Girl Band. Lingua Kata. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ a ă Mark, Russell. K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ キネマ, 旬報社; Jeff Grubb, David Yu (2011). K-POP情報満載の音楽誌T-ARA/チャン・グンソク/MBLAQ/2PM/BEAST. ISBN 4873767407. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  4. ^ a ă â “화제의 그룹 `티아라`, 26일 얼굴 공개”. Hankyung (bằng tiếng Hàn). Ngày 26 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2012. 
  5. ^ a ă 전영록 딸 전보람, 티아라 새 멤버 합류! ‘가수 3대 집안’ (T-ara gets a new member) (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016
  6. ^ 길잡이, 미디어; Sports and Tourism, Korean Culture and Information Service Ministry of Culture. The Korea Collection: Selected Cover Stories from Years Past. 길잡이미디어. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  7. ^ “베일 벗은 티아라 첫 무대, 걸그룹 판도 바꿀까?” (bằng tiếng Hàn). Naver. 30 tháng 7 năm 2009. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ 티아라, 50억 근접 역대 최고가 전속계약..일본 J-ROCK과 47억 (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016
  9. ^ Lee, KyungNam (15 tháng 10 năm 2011). “T-ara Takes Cat Concept to Another Level” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ a ă â “T-ara's Areum Leaves Team And Will Be Going Solo” (bằng tiếng Anh). Soompi. 22 tháng 1 năm 2016. 
  11. ^ “티아라 아름 ‘탈퇴’, 또 다시 멤버 교체… 왜?” (bằng tiếng Hàn). DONGA. 10 tháng 7 năm 2013. Truy cập 6 tháng 3 năm 2016. 
  12. ^ “T-ara Performs In Japan as Six with Qri as New Leader” (bằng tiếng Anh). Mwave. Ngày 15 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ “큐리, 티아라 새 리더 됐다! '소연과 바통터치' (bằng tiếng Anh). Nate. 14 tháng 7 năm 2013. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  14. ^ Pakman (11 tháng 4 năm 2015). “EXO, f(x), T-ara, Epik High, GOT7, and more win at the '3rd YinYueTai V-Chart Awards'!” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 16 tháng 3 năm 2016. 
  15. ^ “A detailed analysis of T-ara's immense popularity in China”. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn) (JoongAng Media Network). 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ “T-ara's China debut becoming a hot issue”. Korea Economic Daily (The Star News). Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2016. 
  17. ^ “티아라-티맥스, 이름의 뜻은? "가요계 여왕+최고 되겠다". Newseb (bằng tiếng Hàn). Ngày 27 tháng 9 năm 2012. Truy cập Ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  18. ^ Choi, JungBong; Roald Maliangkay, David Yoo (2012). K-pop – The International Rise of the Korean Music Industry. 
  19. ^ a ă thunderstix (9 tháng 5 năm 2012). “Join T-ara’s First Official Fan Club “Queens”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  20. ^ a ă 티아라 인기가요 여신 매력 발산 ‘슈퍼신인 위력 대단’ [T-ara Radiates Goddess Charm, "Strong Force from Super Rookies"]. JoongAng Ilbo (bằng tiếng Hàn) (Joins.com/Newsen). 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  21. ^ “[포토엔]깜찍 발랄 티아라 지연, 상큼한 브이~” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 27 tháng 4 năm 2009. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  22. ^ a ă â “Behind-the-stories of K-pop girl bands” (bằng tiếng Anh). The Korea Times. 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  23. ^ “티아라 소연 "소녀시대는 과거일뿐, 선의의 경쟁 펼칠터"(단독 인터뷰)”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 5 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2012. 
  24. ^ Jeon, Hyung-hwa (ngày 9 tháng 7 năm 2009). “티아라, 코어컨텐츠로 소속사 이전..양파와 한솥밥”. Star News (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ Jo, Hyeon-wu. ‘라디오스타’로 데뷔한 티아라, 소녀시대와 원더걸스 격파할 수 있을까 (T-ara Makes Debut on Radio Star, Can Compete with Girls' Generation and Wonder Girls). (bằng tiếng Hàn). Kukinews. ngày 30 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009.
  26. ^ a ă â Is it Lipsynched? Is it Dubbing?" T-ara's Debut Receives "Harsh Criticism")” (bằng tiếng Hàn). Segye. 31 tháng 7 năm 2009. Truy cập 23 tháng 1 năm 2016. 
  27. ^ “티아라+초신성, 10월 국내최대 12명 혼성그룹 ‘TTL’ 활동” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập 23 tháng 1 năm 2016. 
  28. ^ a ă 티아라-초신성 TTL 두번째 버전 9일 전격공개 (TTL Listen 2 announced). (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập October 9, 2009. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016
  29. ^ “티아라 ‘Bo Peep Bo Peep’ 뮤비, 정지아 파격 노출 "클럽녀"로 활약!”. JKSTARS (bằng tiếng Hàn). Ngày 27 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  30. ^ a ă “T-ara – 'Absolute First Album' (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  31. ^ Absolute First Album. 2 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  32. ^ “티아라, 타이틀곡은 '처음처럼' 활동은 '보핍보핍'. Nate (bằng tiếng Hàn). Ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  33. ^ 티아라 ‘처음처럼’VS‘보핍보핍’ 1위경쟁 후끈…타이틀곡은? (처음처럼 vs. Bo Peep Bo Peep). Newsen. Truy cập 27 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016
  34. ^ a ă Jin, Hyang-hui (ngày 10 tháng 12 năm 2009). “[골드디스크] 포미닛-티아라, 신인상 수상...걸그룹 열풍 입증” (bằng tiếng Hàn). MK News. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012. 
  35. ^ a ă â “티아라, 새해 첫 '뮤직뱅크' 1위..눈물 펑펑”. Star News (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  36. ^ a ă “T-ara wins Triple Crown with 'Bo Peep Bo Peep' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 23 tháng 1 năm 2016. 
  37. ^ “Artists attend Gaon chart's grand opening celebration event” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 7 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ “티아라 소연 ‘공신’ 촬영 중 실신 응급실行 ‘신종플루 의심판정’ - 손에 잡히는 뉴스 눈에 보이는 뉴스 - 뉴스엔” (bằng tiếng Hàn). Newsen. Ngày 28 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013. 
  39. ^ “티아라 불량소녀 변신 ‘공부의 신’ 특별 출연”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  40. ^ “티아라 ‘너 때문에 미쳐’ 실시간차트1위”. Kyeongin (bằng tiếng Hàn). Ngày 23 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  41. ^ “티아라 ‘너때문에 미쳐’ 엠카·인기가요 ‘2관왕’”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 31 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  42. ^ 2010년 가온차트 부문별 Top 100위. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart Industry Association. 8 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2014. 
  43. ^ “가온차트와 함께하세요”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart Industry Association. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  44. ^ a ă “More T-ara's World Cup photos unveiled!” (bằng tiếng Anh). Daily K-pop News. 5 tháng 6 năm 2010. 
  45. ^ “T-ara to take care of Moon Mason for "Hello Baby". Allkpop (bằng tiếng Anh). 11 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2013. 
  46. ^ a ă “T-ara Mini Album Vol. 2 - Temptastic” (bằng tiếng Anh). 23 tháng 1 năm 2016. 
  47. ^ “T-ara album release date delayed to December 3” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010. 
  48. ^ a ă “T-ara then began their promotions alongside with their new member, Hwayoung and the new leader Boram” (bằng tiếng Anh). Kpop Music. 23 tháng 1 năm 2016. 
  49. ^ “T-ara to make a comeback next month with "John Travolta Wannabe"!” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2015. 
  50. ^ “2011 Soompi Gayo Awards Results” (bằng tiếng Anh). Soompi. 9 tháng 3 năm 2016. 
  51. ^ “Album Chart: June 26–July 2, 2011” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  52. ^ “Album Chart: 2011” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  53. ^ a ă “Digital Chart: July 10–16, 2011” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  54. ^ “Korea K-Pop Hot 100: August 27, 2011”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  55. ^ a ă “티아라 ‘롤리폴리’ 음원매출 20억 올 1위 등극, 아이유 ‘좋은날’ 제쳐: 네이트 뉴스” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  56. ^ “티아라 ‘롤리폴리’ 음원매출 20억 올 1위 등극, 아이유 ‘좋은날’ 제쳐” (bằng tiếng Hàn). Nate. Ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  57. ^ “올해 가장 많이 팔린 음원은? 티아라 '롤리폴리' (bằng tiếng Hàn). Naver. Ngày 14 tháng 12 năm 2011. 
  58. ^ “Winners from the '2011 Melon Music Awards' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 8 tháng 3 năm 2016. 
  59. ^ “Winners from the 2011 Mnet Asian Music Awards” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 23 tháng 1 năm 2016. 
  60. ^ LLC, General Books; Bucher, Gruppe (2011). K-Pop: TVXQ, Girls' Generation, The Grace, Choshinsung, BoA, T-ara, Taeyeon, Yuri, Super Junior, 2PM, Sooyoung, Seohyun, Jessica, 2NE1, Rain, Yoona, Tiffany, Ham Eun-jeong, Sunny, Hyoyeon, 4minute, Shinee, Brown Eyed Girls, Lee Min-woo, MBLAQ. ISBN 1159104875. 
  61. ^ a ă “티아라의 '롤리폴리' 새 버전 '코파카바나'란?”. Nate (bằng tiếng Hàn). Ngày 1 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  62. ^ Trost, Alex; Alex Trost,Vadim Kravetsky. 100 of the Top K-Pop Artists. A&V. 
  63. ^ a ă “T-ARAのCDシングルランキング、T-ARAのプロフィールならオリコン芸能人事典-ORICON STYLE”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  64. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計” [Record Association report: December 2011 Gold List and other approved work]. RIAJ (bằng tiếng Nhật). 
  65. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計”. RIAJ (bằng tiếng Nhật). RIAJ. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2012. 
  66. ^ “T-ara reveals they were inspired by TVXQ for 'Cry Cry' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 8 tháng 3 năm 2016. 
  67. ^ a ă Yoojiin (27 tháng 1 năm 2012). “T-ara #1 for Three Consecutive Weeks on Billboard’s K-Pop Hot 100” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  68. ^ “차승원 "티아라 멤버들 연기력은 모두 평균 이상" 극찬”. Nate (bằng tiếng Hàn). Ngày 20 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  69. ^ “T-ara Releases Dance Practice Video for "Cry Cry" and BTS for the MV” (bằng tiếng Anh). Soompi. 8 tháng 3 năm 2016. 
  70. ^ “秒にも及ぶ映画のような作品となった” (bằng tiếng Nhật). Zaikei. 20 tháng 3 năm 2016. 
  71. ^ a ă T-ARA『忘れられないクリスマスの思い出を告白!. Oricon. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2016. (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày tháng 4 năm 2016
  72. ^ “Korea K-Pop Hot 100 Music Chart | Billboard.com”. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  73. ^ 티아라, 효민에서 소연으로 갑적스런 리더 교체 왜. (bằng tiếng Hàn). Nate. ngày 7 tháng 12 năm 2011.
  74. ^ a ă “소녀시대, 전 연령대 1위..3년 연속 ‘올해 최고 가수’” (bằng tiếng Hàn). View.heraldm. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012. 
  75. ^ a ă “티아라+다비치, 뭉쳤다..X마스이브 '협창 발라드'. Allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 20 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  76. ^ “K-Pop Hot 100 Chart: Top 10 Songs of the Past Year & Birthday Wishes From Big Stars” (bằng tiếng Anh). Billboard. 8 tháng 3 năm 2016. 
  77. ^ a ă â “T-ARA's Single 'Lovey-Dovey' Tops Music Download Chart for First Half of 2012” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  78. ^ “Gaon weekly album chart”. Gaon. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  79. ^ “Gaon monthly album chart”. Gaon. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  80. ^ “Gaon Yearly Album Sales”. Gaon. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2015. 
  81. ^ “:: 가온차트와 함께하세요::”. Gaon. 2012 년, 2012.01.15~2012.01.21: Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  82. ^ “Korea K-Pop Hot 100 Music Chart | Billboard.com”. Billboard. Prometheus Global. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  83. ^ “Japan Hot 100 | Billboard.com”. Billboard. Prometheus Global. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2012. 
  84. ^ a ă “T-ara wins 'Inkigayo' triple crown + Performances from January 29th” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 29 tháng 1 năm 2012. Truy cập 8 tháng 3 năm 2016. 
  85. ^ “Funky Town - MNET”. Mnet. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  86. ^ “티아라 ‘러비더비‘ 큐리 편 뮤비 무려 17분30초” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 23 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  87. ^ “2012 Download Chart” (bằng tiếng Korean). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2015. 
  88. ^ An Bình (3 tháng 1 năm 2012). “T-ara tung hàng khủng Lovey Dovey đầy ám ảnh”. VnExpress. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  89. ^ “티아라, 10억 뮤비 제작 돌입…11월 소녀시대-원더걸스와 ‘맞대결’: 네이트 뉴스” (bằng tiếng Hàn). Nate. Ngày 23 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  90. ^ “韓유명인 40명에 재계인사'0'…1위는 소녀시대:: 네이버 뉴스” (bằng tiếng Hàn). Joins. Ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012. 
  91. ^ a ă “ครั้งแรกกับ T-ARA 1st Lovey Dovey Roly Poly Live in Bangkok เตรียมไปกรี๊ดกันให้ลั่น ไบเทค บางนา มาดูกัน !!” (bằng tiếng Thái). Thaiticketmajor. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  92. ^ “T-ara Confirms Adding Two New Members” (bằng tiếng Anh). Soompi. Ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012. 
  93. ^ a ă “티아라 새 멤버 2명 합류, "기존 멤버들은 불만 없을까?": 네이트 뉴스”. Nate. 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012. 
  94. ^ “티아라, '올리비아 핫세' 닮은 9번째 멤버 다니 얼굴 전격 공개:: 네이버 뉴스”. TV Report (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012. 
  95. ^ “[단독]티아라, 8번째 멤버는 '아름'..얼굴최초공개 '깜찍': 네이트 뉴스” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012. 
  96. ^ Kimpossible (7 tháng 6 năm 2012). “T-ara’s First Official Japanese Album Reaches #2 on Oricon Album Chart” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  97. ^ “CDアルバム 週間ランキング-ORICON STYLE ランキング”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2012. 
  98. ^ “CDアルバム 週間ランキング-ORICON STYLE ランキング”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon Inc. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2012. 
  99. ^ “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計” (bằng tiếng Nhật). RIAJ. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2012. 
  100. ^ T-ARA、日本1stアルバム&4万人動員ツアー決定. (bằng tiếng Nhật). Oricon. March 3, 2012. Retrieved March 3, 2012.
  101. ^ Jbarky (14 tháng 6 năm 2012). “T-ara’s First Japanese Tour to Be Released Through a Magazine” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  102. ^ “티아라, 오는 6월 日에 1집 앨범 발매...'일본 투어도':: 네이버 뉴스”. Osen (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012. 
  103. ^ a ă “T-ARA(ティアラ)公式ウェブサイト | ディスコグラフィー” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  104. ^ a ă â “T-ARA(ティアラ)公式ウェブサイト | トピック” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  105. ^ Stewart Ho (27 tháng 6 năm 2012). “T-ara Releases New ‘Day By Day’ Teaser Images” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 8 tháng 3 năm 2016. 
  106. ^ “2012년 28주차 Album Chart”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  107. ^ “Gaon Album Chart 2012년 7월”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  108. ^ “2012년 Album Chart”. Gaon (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  109. ^ “티아라 '데이바이데이', 음원차트 올킬 "무대 빨리 보여드리고 싶어" (bằng tiếng Hàn). Naver. 3 tháng 7 năm 2012. Truy cập 8 tháng 3 năm 2016. 
  110. ^ “2012년 29주차 Digital Chart”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  111. ^ “Korea K-Pop Hot 100 Music Chart Billboard.com (Week of July 21, 2012)”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2012. 
  112. ^ “티아라 신곡 음원-안무, 불법 유출! "국제 소송 방침" 강경대응:: 네이버 뉴스”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  113. ^ Song, Cheol-min; Song Cheol-min, 길잡이미디어. K-pop Beyond Asia. 길잡이미디어. 
  114. ^ Quang Huy (4 tháng 7 năm 2012). “T-ara trở lại với Day by Day cùng đội hình 8 thành viên”. Zing News. Truy cập 22 tháng 1 năm 2016. 
  115. ^ Mắt Bão (3 tháng 7 năm 2012). “2NE1 bất ngờ ngọt ngào, T-ara tung MV siêu chất”. VnExpress. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  116. ^ “티아라, 7월 3일 컴백…8번째 멤버 아름 합류: 네이트 뉴스”. Cookie News (bằng tiếng Hàn). 13 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  117. ^ “티아라 새 뮤비, 효민-다니 첫 스틸 공개 '강렬한 빨간머리': 네이트 뉴스”. Star News (bằng tiếng Hàn). 15 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  118. ^ “티아라 DAY BY DAY 뮤비 음원 공개 13시간 급연기 왜?: 네이트 뉴스”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2012. 
  119. ^ Jbarky (21 tháng 6 năm 2012). “T-ara Shows Music Video Stills from "Day by Day" (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  120. ^ Grace Danbi Hong (29 tháng 6 năm 2012). “T-ara’s ‘Day By Day’ MV Teaser Unveiled” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  121. ^ a ă Park Eun-jee (30 tháng 7 năm 2012). “T-ara may be turning on Hwa-young”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  122. ^ a ă “T-ara Member's Firing Reveals Culture of Catfights”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). 31 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  123. ^ a ă Hong, Grace Danbi (30 tháng 7 năm 2012). “Netizen Dig Up ‘Proof’ of T-ara Members Bullying Hwa Young in the Past”. enewsWorld (bằng tiếng Anh) (Mwave). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  124. ^ Lee, Rachel (30 tháng 7 năm 2012). “Hwayoung to leave T-ara”. The Korea Times (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  125. ^ Xuân Huy (3 tháng 8 năm 2012). “T-ara biến thành 'kẻ tội đồ' thế nào?”. VnExpress. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  126. ^ Mắt Bão (4 tháng 8 năm 2012). “Fan giận dữ ném trứng vào trụ sở Core Contents Media”. VnExpress. Truy cập 31 tháng 3 năm 2016. 
  127. ^ “[BREAKING] CCM announces Hwayoung will leave T-ara” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Ngày 30 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2013. 
  128. ^ by MountainMadman (ngày 12 tháng 8 năm 2012). “T-ara’s Soyeon interviewed about her new drama + Hwayoung incident” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2013. 
  129. ^ Thu Trang (30 tháng 7 năm 2012). “10 bằng chứng các thành viên T-Ara 'ăn hiếp' Hwayoung”. VnExpress. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  130. ^ Mắt Bão (1 tháng 8 năm 2012). “Quản lí T-ara: 'Hwayoung rơi nước mắt đến công ty xin lỗi'. VnExpress. Truy cập 31 tháng 3 năm 2016. 
  131. ^ “2012년 38주차 Album Chart”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  132. ^ “Gaon Album Chart 2012년 9월”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015. 
  133. ^ Sylphid (9 tháng 9 năm 2012). “T-ara-makes-their-comeback-performance-on-inkigayo-with-sexy-love/” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  134. ^ “T-Ara Comeback Now a Week, How Are They Doing?” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 8 tháng 3 năm 2016. 
  135. ^ a ă Mark, Russell; Tuttle Publishing, Mark Russell. K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. 2014: Tuttle Publishing. 
  136. ^ “Sexy Love" (2012)”. 15 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  137. ^ “World Digital Songs: September 22, 2012”. Billboard. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  138. ^ Chuột Suzy (15 tháng 3 năm 2013). “Sản phẩm hợp tác Day and Night siêu ngọt ngào”. Tiin. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  139. ^ “T-ara, Shannon, & Gavy NJ's Gunji release "Day and Night" MV + drama version of "Sexy Love" MV” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập 8 tháng 3 năm 2016. 
  140. ^ “T-ARA - EMI Music Japan”. EMI Music Japan. EMI Music Japan Inc. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  141. ^ “日本デビュー1周年を記念し、T-ARA 世界初の韓国語曲BEST ALBUM リリース決定!”. Navicon (bằng tiếng Nhật). Ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2012. 
  142. ^ “T-ara’s full PV for "Day by Day" revealed” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2012. 
  143. ^ “T-ara releases Japanese "Day by Day" PV preview” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  144. ^ “T-ara to release "Sexy Love" in Japan in November” (bằng tiếng Anh). Allkppp. 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  145. ^ “T-ara’s Japanese "Sexy Love" PV revealed” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2012. 
  146. ^ “ファン待望の日本オリジナル・シングル、遂に登場! 初のユニットも登場!” (bằng tiếng Nhật). HMV. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2013. 
  147. ^ “T-ARA 待望の日本オリジナルシングル「バニスタ!」リリース決定!!” (bằng tiếng Nhật). TOWER. Ngày 28 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2013. 
  148. ^ “티아라, 日 새 앨범 韓가수 최초 10가지 버전 발매” (bằng tiếng Nhật). Niwango, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  149. ^ a ă “T-ara Unveil First Original Japanese Single 'Bunny Style!' (bằng tiếng Anh). Billboard. 25 tháng 3 năm 2016. 
  150. ^ a ă “T-ara N4 Opening for Chris Brown & Wiz Khalifa Concerts, In Talks to Collaborate” (bằng tiếng Anh). Billboard. 9 tháng 3 năm 2016. 
  151. ^ (tiếng Hàn) “신사동 호랭이 노래 들고 티아라 '4인조 유닛' 컴백: 네이트 뉴스” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  152. ^ (tiếng Việt) “Ca khúc đầu tiên cho nhóm nhỏ T-ara N4 bởi Duble Sidekick”. news.zing. 24 tháng 1 năm 2016. 
  153. ^ a ă â “ナタリー - T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  154. ^ “T-ARA 待望の2nd Albumリリース&プレミアム先行ライブ決定!!” (bằng tiếng Nhật). Ameba. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  155. ^ “「取材レポ」T-ARA、JAPAN TOUR日本武道館でファイナル! T-ARAの魅力あふれる宝箱を披露!” (bằng tiếng Nhật). Korepo. 21 tháng 3 năm 2016. 
  156. ^ “T-ARA 2ndアルバムタイトル&収録曲 発表!”. HMV (bằng tiếng Nhật). Ameba. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2013. 
  157. ^ “Qri appointed T-ara's new leader ahead of groups six-member comeback” (bằng tiếng Anh). 13 tháng 7 năm 2013. 
  158. ^ Core Contents Media explains Ahreum's solo prospects are different from Hwayoung's. (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013.
  159. ^ “[Breaking] Ahreum leaving T-ara for solo debut” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 8 tháng 3 năm 2016. 
  160. ^ “티아라+더씨야+파이브돌스+스피드, 뭉치니 음원 1위” (bằng tiếng Hàn). Star News. 21 tháng 3 năm 2016. 
  161. ^ “티아라, '느낌 아니까' 더블 타이틀 확정..'고혹미 발산' (bằng tiếng Hàn). OSEN. 21 tháng 3 năm 2016. 
  162. ^ "6인조 완전체로 컴백"…티아라, 10월 신보발매” (bằng tiếng Hàn). Naver. 21 tháng 3 năm 2016. 
  163. ^ “T-ara releases comeback teaser images for ‘Number 9’” (bằng tiếng Anh). Daily K-pop News. 22 tháng 1 năm 2016. 
  164. ^ “T-ARA’s New Song ‘Number 9’ 2nd Teaser Revealed” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 9 tháng 3 năm 2016. 
  165. ^ “[Single Review] T-ara 'Number 9' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 24 tháng 4 năm 2016. 
  166. ^ “T-ARA Releases 'Number 9' and 'I Know the Feeling' MV Online” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 8 tháng 3 năm 2016. 
  167. ^ “T-ARA to Perform 'Number 9' for the First Time at the Hallyu Dream Concert: News” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  168. ^ “T-ara Storms The K-pop Charts With Comeback Single, “No. 9″” (bằng tiếng Anh). Pop Dust. 9 tháng 3 năm 2016. 
  169. ^ “티아라, 음원유출 위험 무릅쓰고 드림콘서트서 신곡 무대” (bằng tiếng Hàn). OSEN. 21 tháng 3 năm 2016. 
  170. ^ “T-ARA Turns Vintage And Musical For Their MV 'Do You Know Me?' (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 20 tháng 3 năm 2016. 
  171. ^ “T-ara quyến rũ tặng quà giáng sinh Hide&Seek”. ViệtNamNet. 20 tháng 1 năm 2015. 
  172. ^ “[디지털음원 10년, 톱 976곡]①최다히트 가수는?” (bằng tiếng Hàn). Naver. 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  173. ^ “Girl Group T-ARA To Hold 2nd China Concert On January 19” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 16 tháng 1 năm 2014. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  174. ^ “Group T-ARA Releases 'Lead The Way' Teaser For 9th Japan Single” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  175. ^ meltedd (20 tháng 2 năm 2014). “T-ara Releases MV Teaser for 9th Japanese Single “Lead the Way”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  176. ^ a ă “Groups T-ARA and SPEED Perform Together At Cambodia Concert”. Kpop Starz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014. 
  177. ^ “조영수 All Star - 티아라” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  178. ^ starsung (17 tháng 2 năm 2014). “T-ara to collaborate with composer Cho Young Soo for upcoming single 'First Love' (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  179. ^ “T-ARA Releases New Song “First Love” Along With a Music Video” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  180. ^ kimpossible (18 tháng 2 năm 2014). “T-ara Gives Special Interview for Cho Young Soo’s “First Love”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  181. ^ “T-ARA & Jo Youngsoo to Release “First Love” on the 21st” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 20 tháng 2 năm 2014. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  182. ^ Gấu Con (10 tháng 3 năm 2014). “Ji Yeon, Hyo Min tách nhóm T-ara để 'đá lẻ' (bằng tiếng Anh). Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  183. ^ kimpossible (9 tháng 5 năm 2014). “T-ara’s Jiyeon and Hyomin Both to Make Solo Debut” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  184. ^ “2014 년 함께 이지연 과 효민 은 데뷔” (bằng tiếng Hàn). Star News. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  185. ^ a ă “Gossip Girls [Diamond Edition]”. EMI Records Japan (bằng tiếng Japanese). EMI Records Japan. 
  186. ^ “Gossip Girls [Sapphire Edition]”. EMI Records Japan (bằng tiếng Japanese). EMI Records Japan. 
  187. ^ “Gossip Girls [Pearl Edition]”. EMI Records (bằng tiếng Japanese). EMI Records Japan. 
  188. ^ i.said.hi (8 tháng 4 năm 2014). “Watch the Teaser for Jiyeon’s First Solo Album” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  189. ^ “T-ARA Jiyeon Confirmed To Make Solo Comeback On May 20” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 9 tháng 5 năm 2014. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  190. ^ “2014년 총결산 ALBUM CHART”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  191. ^ “[Album Review] Hyomin - 'Make-up'. Allkpop (bằng tiếng Anh). 
  192. ^ timmydee (29 tháng 6 năm 2014). “Hyomin Dreams of a “Nice Body” in Solo Debut MV” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  193. ^ “2014년 29주차 Album Chart”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  194. ^ “2014년 07월 Album Chart”. Gaon (bằng tiếng Korean). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  195. ^ Jung, Ji-won (6 tháng 8 năm 2014). “T-ara to Make Comeback as Six Members in September”. Newsen (bằng tiếng Anh). Translated by Yeawon Jung. Mwave. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  196. ^ Kim, Min-jin (20 tháng 8 năm 2014). “T-ara to make comeback with 'club music' (bằng tiếng Anh). The Korea Herald. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  197. ^ Hong, Grace Danbi (11 tháng 9 năm 2014). “T-ara Hits the Clubs for ‘Sugar Free’ with Two MVs”. CJ E&M enewsWorld (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  198. ^ “T-ARA ‘Sugar Free’ Biggest Club Hit Of September?” (bằng tiếng Anh). KpopStarz. 15 tháng 9 năm 2014. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016. 
  199. ^ Lee Sung-eun (11 tháng 9 năm 2014). “T-ara unveils ‘Sugar Free’ vid” (bằng tiếng Anh). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  200. ^ Danbi Hong, Grace (20 tháng 8 năm 2014). “T-ara Confirms 9/11 as Comeback Date”. Mwave. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  201. ^ “And & End”. music.naver.com (bằng tiếng Korean). Naver. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  202. ^ Phúc Chi (10 tháng 9 năm 2014). “T-ara tung hit mới gây nghiện”. Zing News. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  203. ^ a ă Benjamin, Jeff (24 tháng 9 năm 2014). “Listen to T-ara's English Version of David Guetta-Esque Single 'Sugar Free'. Billboard K-Town (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  204. ^ “T-ARA To Make ‘Sugar Free’ Remix Amidst Plagiarism Accusations” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  205. ^ 2014년 Album Chart [2014 Album Chart]. Gaon Chart (bằng tiếng Korean). Korea Music Content Industry Association. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  206. ^ “EDM Club Sugar Free Edition” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016. 
  207. ^ “T-ara sign with Chinese entertainment company Longzhen Culture Development”. Allkpop (bằng tiếng Anh). Allkpop. 
  208. ^ An0ya (27 tháng 9 năm 2014). “T-ara Signs with Major Chinese Entertainment Company” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  209. ^ a ă Park Gyu-oh (18 tháng 11 năm 2014). “T-ara joins Chopstick Brothers’ remake of ‘Little Apple’”. K-Pop Herald (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014. 
  210. ^ Hong, Grace Danbi. “T-ara Takes on the ′Little Apple′ with Chopstick Brothers in New MV”. enewsWorld (bằng tiếng Anh) (CJ E&M). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2014. 
  211. ^ “Little Apple”. MelOn. LOEN Entertainment. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2014. 
  212. ^ Phúc Chi (24 tháng 11 năm 2014). “T-ara làm mới ca khúc Hoa ngữ đình đám”. Zing News. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  213. ^ mssylee. “T-ara's & Chopstick Brothers' 'Little Apple' reaches nearly 8 million views in 2 days”. Allkpop (bằng tiếng Anh). 
  214. ^ a ă â b Sung So-young (27 tháng 11 năm 2014). “T-ara announced first solo concert” (bằng tiếng Anh). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  215. ^ Phúc Chi (26 tháng 11 năm 2014). “T-ara lần đầu tổ chức ở quê nhà”. Zing News. Truy cập 22 tháng 1 năm 2016. 
  216. ^ Tâm Giao (6 tháng 12 năm 2014). “Nhóm T-ara gửi lời chào fan Việt”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  217. ^ Thiên Hương (4 tháng 11 năm 2014). “T-ara trở lại Việt Nam vào đầu năm 2015”. Thanh niên. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  218. ^ Tâm Giao (9 tháng 1 năm 2015). “Nhóm T-ara đến Việt Nam trong sự chào đón của fan”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  219. ^ “T-ara mất điểm vì âm nhanh quá tệ”. VnExpress. 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  220. ^ Phúc Chi (9 tháng 1 năm 2015). “T-ara sành điệu ở sân bay Hàn sang Việt Nam”. Zing News. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  221. ^ Hải Lan (9 tháng 1 năm 2015). “Các cô gái T-ara mặc khỏe khoắn khi đến Việt Nam”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  222. ^ Tâm Giao (2 tháng 1 năm 2015). “Fan tập nhảy flashmob đón chào nhóm T-ara tới Việt Nam”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  223. ^ Thiên Hương. “Fan Việt chen lấn, xô đẩy gây náo loạn khi T-ara đến Việt Nam”. Thanh niên. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  224. ^ Tuệ Anh (12 tháng 1 năm 2015). “Báo Hàn chấn động vì ảnh fan Việt "giật tóc" Jiyeon (T-ara)”. VnExpress. 
  225. ^ Phúc Chi (tổng hợp) (12 tháng 1 năm 2015). “Sự cố fan Việt giật tóc Jiyeon (T-ara) lên báo Hàn”. Zing News. 
  226. ^ Vi An (5 tháng 11 năm 2014). “T-ara tổ chức min-show tại Việt Nam đầu 2015”. Đời sống & Pháp luật. 
  227. ^ a ă Tâm Giao (11 tháng 1 năm 2015). “T-ara thích thú đội nón lá Việt Nam”. VnExpress Giải trí. 
  228. ^ a ă PV (9 tháng 11 năm 2014). “K-pop girl band T-ara to perform in HCMC in January 2015” (bằng tiếng Anh). VietNamNet English. 
  229. ^ Jessica (9 tháng 1 năm 2015). “T-ara vẫn cứ 'yêu' dù fan Việt quá cuồng”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  230. ^ Phúc Chi (11 tháng 1 năm 2015). “T-ara pha trò với nón lá trên sân khấu Việt”. Zing News. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  231. ^ Phúc Chi (11 tháng 1 năm 2015). “T-ara khiến fan Việt phát cuồng trong minishow TP.HCM”. Zing News. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  232. ^ Phong Vũ (10 tháng 1 năm 2015). “T-ara lấy lòng fan bằng vốn tiếng Việt bập bẹ”. VietNamNet. Truy cập 23 tháng 5 năm 2016. 
  233. ^ “ELSIE (Eunjung) drops the original MV for 'I'm Good'. Allkpop (bằng tiếng Anh). 24 tháng 1 năm 2016. 
  234. ^ “T-ara’s Eunjung Is Elsie in Solo Debut Music Video “I’m Good”” (bằng tiếng Anh). Soompi. 10 tháng 3 năm 2016. 
  235. ^ “Eunjung (ELSIE) releases Chinese MV version of 'I'm Good' + ranks 2nd on Chinese MV site”. Allkpop (bằng tiếng Anh). 
  236. ^ “T-ara, SPEED,The SEEYA, and Seunghee release MV for winter song 'Don't Forget Me'. Allkpop (bằng tiếng Anh). 
  237. ^ “T-ARA To Promote In Korea And China Beginning With Concert In Nanjing” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 10 tháng 3 năm 2016. 
  238. ^ (tiếng Anh) “T-ara kỷ niệm 6 năm nhân dịp ngày ra mắt” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 23 tháng 1 năm 2016. 
  239. ^ “Who's the next girl group to join the summer fun? It's T-ara!”. Allkpop (bằng tiếng Anh). 
  240. ^ “T-ara is back with 'Totally Crazy' (bằng tiếng Hàn). The Korea Times. 3 tháng 8 năm 2015. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  241. ^ “T-ARA Turn 'Completely Crazy' For New Comeback Title Track” (bằng tiếng Anh). Kpop Starz. 10 tháng 3 năm 2016. 
  242. ^ “T-ara surpass the 1 million view mark with 'So Crazy' MV!”. allkpop.com (bằng tiếng Anh). 
  243. ^ “T-ara Releases MV Teaser for “So Crazy”” (bằng tiếng Anh). Soompi. 10 tháng 3 năm 2016. 
  244. ^ “Go 'So Crazy' with T-ara and their comeback MV!”. allkpop.com (bằng tiếng Anh). 
  245. ^ “Fan Army Face off 2015 T-ara Queen's win” (bằng tiếng Anh). Billboard. 20 tháng 1 năm 2015. 
  246. ^ a ă “T-ara 2015巡回演唱会门票 斗鱼TV火热抢购中” (bằng tiếng Trung). DouYu tv. 20 tháng 1 năm 2015. 
  247. ^ “Eun-jung de T-ARA revela el video musical de Good Bye” (bằng tiếng Anh). Soompi. 20 tháng 1 năm 2015. 
  248. ^ “T-ara new web drama releases still from Eun-jungs Episode” (bằng tiếng Anh). Soompi. 
  249. ^ a ă “T-ARA to star in new web drama” (bằng tiếng Hàn). The Korea Times. 14 tháng 8 năm 2015. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  250. ^ a ă “T-ara 出席港電視啟動儀式” (bằng tiếng Trung). KPOPN. 21 tháng 3 năm 2016. 
  251. ^ LLC, Books; Buk Grubb, David CL. South Korean Dance Music Groups: Kara, Wonder Girls, 2pm, 2ne1, Jewelry, S. E. S., Brown Eyed Girls, After School, Sechs Kies, H. O. T., T-Ara, Nrg. LLC Books. ISBN 1155495012. 
  252. ^ “Soyeon and Qri give us a peek at T-ara's web drama with sweet and romantic individual posters” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 10 tháng 3 năm 2016. 
  253. ^ “T-ara mừng rơi nước mắt khi được giải thưởng nhỏ trên truyền hình”. VnExpress iONE. 20 tháng 1 năm 2016. 
  254. ^ “걸그룹 티아라, 중국판 ‘월드오브워쉽’ 테마곡 녹음” (bằng tiếng Hàn). Game Toc. 20 tháng 1 năm 2015. 
  255. ^ “11月27日火爆公测 最强舰娘Tara正式登场” (bằng tiếng Trung). Pc Games. 21 tháng 3 năm 2016. 
  256. ^ “Hyomin drops alluring teaser images for her 2nd album 'SKETCH' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 11 tháng 3 năm 2016. 
  257. ^ “T-ara's Hyomin Bares All in Teasers for Solo Comeback” (bằng tiếng Anh). Soompi. 11 tháng 3 năm 2016. 
  258. ^ “T-ara vẫy tay chào fans Việt, gây náo loạn sân bay”. ViệtNamNet. 11 tháng 3 năm 2016. 
  259. ^ “Hyo Min (T-ara) đội nón lá, mặc áo dài chào fan Việt”. Zing News. 11 tháng 3 năm 2016. 
  260. ^ “All 6 members of T-ara are getting together for a special event in Vietnam!” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 24 tháng 4 năm 2016. 
  261. ^ “티아라 유닛 팀명은 '티아라 엔포'. 효민은 코르셋 의상으로…”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  262. ^ Duy Tại (15 tháng 4 năm 2013). “T-ara N4 'nhá hàng' phong cách hiphop sắc sảo”. VnExpress. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  263. ^ Lightningstix (13 tháng 5 năm 2013). “T-ara N4 Releases “Countryside Diaries” Dance Explanation Video” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 19 tháng 5 năm 2016. 
  264. ^ Lee Sun-min (23 tháng 4 năm 2013). “T-ara N4 shoots video for new album” (bằng tiếng Hàn). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  265. ^ “최불암-김수미, 티아라엔포 신곡 '전원일기' 뮤비서 11년 만에 '해후'. Chosun Ilbo (bằng tiếng Hàn). SK Communications. 24 tháng 4 năm 2013. 
  266. ^ “티아라엔포 '전원일기'에 국악 접목…휘몰아친다: 네이트 뉴스”. Star In. Nate. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  267. ^ a ă “티아라 유닛 팀명은 '티아라 엔포'. 효민은 코르셋 의상으로…: 네이트 뉴스”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  268. ^ “티아라엔포, '전원일기' 음원·뮤비 29일 동시 공개” (bằng tiếng Korean). Nate. 18 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  269. ^ “티아라엔포 ‘전원일기’ 하루만에 100만 조회수”. Newsen. Daum Communications. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  270. ^ Kim Byung Kwan (3 tháng 5 năm 2013). “[Video] T-ara N4 Brings the Country Life to ‘M COUNTDOWN’” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  271. ^ “[Video] T-ara N4 Gets Pulled into Dancing in New Teaser” (bằng tiếng Anh). Mwave. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  272. ^ “T-ARA N4 Talks about New Song, 'Countryside Diary' (bằng tiếng Anh). K-popStarz. 22 tháng 4 năm 2013. Truy cập 19 tháng 5 năm 2016. 
  273. ^ “[Video] T-ara N4 Teases with Original Cast of ‘Countryside Diaries’” (bằng tiếng Anh). Mwave. 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  274. ^ “[Video Review] T-ara N4 Parties It Up in the Countryside for ′Countryside Diaries′” (bằng tiếng Anh). Mwave. 29 tháng 4 năm 2013. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  275. ^ Lightningstix (7 tháng 5 năm 2013). “T-ara N4 Releases “Countryside Diaries” Making of Drama Version Video” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 19 tháng 5 năm 2016. 
  276. ^ Hea Jung Min (20 tháng 5 năm 2013). “T-ara N4 to Release ′Countryside Diaries′ in America with Snoop Dogg, Chris Brown, T-Pain and Ray J” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  277. ^ Lee Sun-min (21 tháng 5 năm 2013). “T-ara N4 will open for Chris Brown” (bằng tiếng Hàn). Korea JoongAng Daily. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  278. ^ Lee Sun-min (14 tháng 5 năm 2013). “T-ara N4 meets Chris Brown in LA” (bằng tiếng Hàn). Korea JoongAng Daily. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  279. ^ “T-ara N4 spotted on the set of Chris Brown's music video” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 13 tháng 5 năm 2013. Truy cập 24 tháng 4 năm 2013. 
  280. ^ Gấu Con (21 tháng 5 năm 2013). “T-ara ra mắt nhóm nhỏ QBS”. VnExpress. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  281. ^ “티아라, '소연-보람-큐리'로 3인조 유닛 '또 결성' (bằng tiếng Hàn). Nate. 20 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013. 
  282. ^ Gấu Con (12 tháng 6 năm 2013). “QBS T-ara tung bản demo ca khúc mới”. VnExpress. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  283. ^ “T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン” [T-ara new sub unit, QBS with Qri, Boram and Soyeon.]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 17 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  284. ^ “T-ARA新ユニット・QBSの初ライブに2000人が集結! | チケットぴあ[イベント ショー・ファンイベント]”. Ticket News (bằng tiếng Nhật). PIA Corporation. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  285. ^ “風のように(通常盤)|新星堂ONLINE”. SHINSEIDO (bằng tiếng Nhật). SHINSEIDO Co. Ltd. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  286. ^ Lee, KyungNam (12 tháng 6 năm 2013). “T-ara Unit QBS Debuts in Japan” (bằng tiếng Anh). Mwave. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  287. ^ Lynn Kim & Jessica Kim: "T-ara to become 7-member group", 10.asiae.co.kr, 16 July 2010; (bằng tiếng Hàn). retrieved 26 July 2010.
  288. ^ Lee, Hyo-won (5 tháng 5 năm 2010). “Veteran singer Baek Seol-hee dies”. The Korea Times (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015. 
  289. ^ “Lee Mi Young and Boram, "Let everyone all be happy and follow their dreams". Daily K-pop News (bằng tiếng Anh). 20 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015. 
  290. ^ a ă 함은정, "티아라 소연 "소녀시대 탈퇴 후 가장 힘들었다"(인터뷰). (bằng tiếng Hàn). Star News. April 13, 2010. Retrieved June 21, 2011.
  291. ^ 티아라, 은정→보람 리더 교체 왜? ("Why did T-ara change its leaders from Eunjung to Boram?"), (bằng tiếng Hàn). Star News, 16 July 2010; retrieved 27 July 2010.
  292. ^ Baek Jieun: 티아라 은정, 가수 데뷔 전 드라마 '궁' 출연? 화제 (Eun-jeong debuted as an actor before a singer). (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. ngày 18 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010.
  293. ^ “티아라 지연 vs 김태희 제대로 비교” (bằng tiếng Hàn). Pann. 30 tháng 3 năm 2016. 
  294. ^ 티아라 지연 류화영-남녀공학 진혜원 류효영, 한 자리서 만나 (bằng tiếng Hàn). Nate. 19 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  295. ^ “티아라, 7번째 멤버 류화영 영입…전보람으로 리더교체” (bằng tiếng Hàn). Daum. 31 tháng 3 năm 2016. 
  296. ^ a ă “Ah Reum bỏ T-ara để đi solo”. VnExpress iONE. 31 tháng 3 năm 2016. 
  297. ^ (tiếng Anh) By Vitalsign (ngày 29 tháng 5 năm 2012). “T-ara unveils new member, Dani” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012. 
  298. ^ “T-ara lần đầu lên tiếng về scandal bắt nạt Hwa Young”. VnExpress iONE. 31 tháng 3 năm 2016. 
  299. ^ “Hwayoung không phủ nhận chuyện bị bắt nạt”. VnExpress iONE. 31 tháng 3 năm 2016. 
  300. ^ “Hwayoung bị buộc rời nhóm T-ara”. VnExpress iONE. 31 tháng 3 năm 2016. 
  301. ^ 'Ah Reum rời T-ara khác với Hwa Young'. VnExpress iONE. 31 tháng 3 năm 2016. 
  302. ^ a ă “티아라, 첫 CF 3억대 가까운 개런티 보장 받아” (bằng tiếng Hàn). BNTNews. 23 tháng 1 năm 2016. 
  303. ^ “티아라, 한국멘소래담 화장품 모델 발탁” (bằng tiếng Hàn). Asiae. 21 tháng 3 năm 2016. 
  304. ^ a ă “티아라애프터스쿨과 '물놀이 전쟁' (bằng tiếng Hàn). Dio Deo. 21 tháng 3 năm 2016. 
  305. ^ “올림푸스, 티아라와 함께 한 이색출사 진행” (bằng tiếng Hàn). 머니투데이. 21 tháng 3 năm 2016. 
  306. ^ “테딘워터파크, 티아라의 두 번째 워터스캔들!” (bằng tiếng Hàn). Nate. 21 tháng 3 năm 2016. 
  307. ^ “2PM & T-ARA team up with Look Optical to raise money for burn victims” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 22 tháng 4 năm 2016. 
  308. ^ “티아라 “일본 가면 티아라 라면 드세요”” (bằng tiếng Hàn). Nate News. 21 tháng 3 năm 2016. 
  309. ^ “티아라, 3개월간 30억! CF 대박 홈런” (bằng tiếng Hàn). Nate. 22 tháng 1 năm 2016. 
  310. ^ “티아라, '소연-보람-큐리'로 3인조 유닛 '또 결성' (bằng tiếng Hàn). Nate. 21 tháng 3 năm 2016. 
  311. ^ “라디오스타, 티아라 홍보 ‘눈살’” (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 1 năm 2016. 
  312. ^ “토니모리, 걸 그룹 티아라 전속 모델 발탁” (bằng tiếng Hàn). Nate. 23 tháng 1 năm 2016. 
  313. ^ “영상] 티아라 일본어 인사 해명… ‘佛서 일어를? 오해!’” (bằng tiếng Hàn). Sports World. 23 tháng 1 năm 2016. 
  314. ^ “티아라 소속사 이전…양파 다비치와 한솥밥” (bằng tiếng Hàn). Nate. 23 tháng 1 năm 2016. 
  315. ^ “T-ara Receives $1,000,000 Guarantee to Model for Chicken Chain” (bằng tiếng Anh). Soompi. 5 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  316. ^ 걸그룹 티아라, 日 패션브랜드 'DPG!' 모델 기용. (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016
  317. ^ “T-ara Sign $US1 Million Contract with Chinese Clothing Brand Celucasn” (bằng tiếng Anh). Theaureview. 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2015. 
  318. ^ 티아라 은정 “이대 음대 나온 엄마께 죄송하고 감사해요” (Eunjung: "I'm sorry and thankful towards my mother"). (bằng tiếng Hàn). ISplus. March 25, 2010. Retrieved July 26, 2010.
  319. ^ Baek Jieun: 티아라 은정, 가수 데뷔 전 드라마 '궁' 출연? 화제 (Eun-jeong debuted as an actor before a singer). (bằng tiếng Hàn). Sports Chosun. October 18, 2009. Retrieved July 26, 2010.
  320. ^ 김기방 공포영화 ‘화이트’ 출연. (bằng tiếng Hàn). Daum. July 7, 2010. Retrieved July 26, 2010.
  321. ^ ‘아이스크림소녀’ 최아라, 티아라 은정과 스크린 걸그룹 호흡. (bằng tiếng Hàn). Daum. June 25, 2010. Retrieved July 26, 2010.
  322. ^ “Go Hyun Jung wins Daesang at 2010 'SBS Drama Awards' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 1 tháng 1 năm 2011. Truy cập 19 tháng 5 năm 2016. 
  323. ^ 티아라 은정, 다비치 ‘시간아멈춰라’ 뮤비 출연 ‘불량 백설공주 변신’ (T-ara's Eunjung to appear as a 'Snow White turned bad' in Davichi's new music video). (bằng tiếng Hàn). Newsen. May 3, 2010. Retrieved July 27, 2010.
  324. ^ 함은정, "티아라 인기 업고 주인공 발탁? 너무 억울해요". (bằng tiếng Hàn). Chosun. May 16, 2010. Retrieved July 27, 2010.
  325. ^ New drama brewing. (bằng tiếng Hàn). JoongAng Daily. May 11, 2010. Retrieved July 27, 2010.
  326. ^ 티아라 은정, '한효주 언니처럼 좋은 배우, 되겠죠?'. (bằng tiếng Hàn). The Star. May 31, 2010. July 27, 2010.
  327. ^ Han Sang-hee: New drama to bring more than coffee. (bằng tiếng Hàn). The Korea Times. May 16, 2010. Retrieved July 26, 2010.
  328. ^ ‘커피하우스’ 아쉬운 시청률 ‘신선한 장르+연기력 빛났다’(종영). (bằng tiếng Hàn). Newsen/Joins. July 27, 2010. Retrieved July 27, 2010.
  329. ^ 최종수정 (30 tháng 12 năm 2011). "I Am a Singer" takes program of the year at MBC Entertainment” (bằng tiếng Hàn). Asiae. Truy cập 29 tháng 3 năm 2016. 
  330. ^ "Jiyeon in TV Drama". (bằng tiếng Hàn). The Korea Times, 23 November 2009; retrieved 26 July 2010.
  331. ^ 티아라 은정·큐리, '근초고왕' 대본연습 사진공개 . (bằng tiếng Hàn). Nate. April 12, 2011. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016
  332. ^ “T-ara's Hyomin takes final photos with 'Gyebaek' cast” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 22 tháng 11 năm 2011. Truy cập 29 tháng 3 năm 2016. 
  333. ^ “T-ara's Soyeon Joins "Haeundae Lovers" (bằng tiếng Anh). Soompi. 26 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012. 
  334. ^ An Bình (17 tháng 1 năm 2012). “Dàn sao 'Dream High 2' long lanh hội tụ”. VnExpress. Truy cập 29 tháng 3 năm 2016. 
  335. ^ “Dream High 2 'chốt' dàn diễn viên chính toàn sao”. VnExpress. 16 tháng 12 năm 2011. Truy cập 19 tháng 5 năm 2016. 
  336. ^ C Han (26 tháng 8 năm 2014). 'Endless Love' Kim Joon Puts Bandaid On Ham Eun Jung's Ankle” (bằng tiếng Anh). K-drama Stars. Truy cập 29 tháng 3 năm 2016. 
  337. ^ Park, Young (Sports Donga) (10 tháng 12 năm 2013). “티아라, 12월 24일 불우이웃 돕기 자선바자회 개최” (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015. 
  338. ^ alim17 (26 tháng 12 năm 2013). “T-ara raise 12.5 million won (~ 12,000 USD) at their charity bazaar” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 9 tháng 3 năm 2016. 
  339. ^ “MV dài 4 phút của T-ara có hơn 600 lần cắt cảnh”. Zing News. 30 tháng 3 năm 2016. 
  340. ^ “T-ara: Nhóm nhạc thay đổi chóng mặt nhất Kpop”. Zing News. 30 tháng 3 năm 2016. 
  341. ^ a ă Michael, Fuhr. Globalization and Popular Music in South Korea: Sounding Out K-Pop. Routledge. 
  342. ^ a ă â “5 bản hit làm nên tên tuổi T-ara”. VnExpress iONE. 23 tháng 3 năm 2016. 
  343. ^ Youna, Kim. The Korean Wave: Korean Media Go Global. Routledge. 
  344. ^ “Các MV đậm chất kinh dị xứ Hàn”. Zing News. 25 tháng 3 năm 2016. 
  345. ^ “T-ara 'Lovey Dovey' Zombie Version Ranked Top On Gom TV” (bằng tiếng Anh). K-pop Starz. 27 tháng 3 năm 2016. 
  346. ^ “T-ara to Do a Pantomime Robot Dance for “Sexy Love”” (bằng tiếng Anh). Soompi. 25 tháng 3 năm 2016. 
  347. ^ Duy Tại (2 tháng 3 năm 2013). “T-ara khoe vũ đạo thỏ trong 'Bunny Style'. VnExpress. Truy cập 20 tháng 5 năm 2016. 
  348. ^ “Jewelry Box [CD]” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  349. ^ “T-ARA – Treasure Box” (bằng tiếng Nhật). Universal Music Japan. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  350. ^ “Vol.2 Temptastic” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2015. 
  351. ^ “티아라, 'Roly-Poly In 코파카바나' 공개 임박” (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập 3 tháng 5 năm 2016. 
  352. ^ “Black Eyes – EP by T-ara” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016. 
  353. ^ “Day by Day – EP by T-ara” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016. 
  354. ^ “Again: Discography – T-ara” (bằng tiếng Hàn). Naver. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016. 
  355. ^ “And & End by T-ara” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2016. 
  356. ^ 'So Good' [EP]” (bằng tiếng Hàn). Melon. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2015. 
  357. ^ a ă “T-ARA 待望の1stアルバム『Jewelry box』収録楽曲と詳細発表!” (bằng tiếng Nhật). PR TIMES. 22 tháng 1 năm 2016. 
  358. ^ “T-ARAのライブ前に見ておきたいDVD厳選4選!” (bằng tiếng Nhật). Ticketcamp. 21 tháng 3 năm 2016. 
  359. ^ “T-ara 2015巡回演唱会门票 斗鱼TV火热抢购中” (bằng tiếng Trung). GK99. 21 tháng 3 năm 2016. 
  360. ^ Carla Sunwoo (6 tháng 9 năm 2012). “T-ara to perform in Hong Kong” (bằng tiếng Hàn). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  361. ^ “T-ara releases footage from Hong Kong showcase” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  362. ^ “Jazzy Group of Companies – T-ARA Showcase In Malaysia 2012” (bằng tiếng Anh). Jazzy Group. 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  363. ^ 최준용 (9 tháng 8 năm 2013). “티아라, 홍콩 단독 콘서트 개최 '현지 들썩' (bằng tiếng Hàn). Asiae. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  364. ^ “T-ara snap a picture after a successful concert in Hong Kong” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  365. ^ 张军棉. “T-ara's debut China concert to rock Beijing” (bằng tiếng Trung). China. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  366. ^ “T-ara welcomed by 700 fans in Guangzhou, China airport before concert” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 21 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  367. ^ “티아라, 오는 19일 두 번째 ‘中 콘서트’ 개최” (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart. 21 tháng 3 năm 2016. 
  368. ^ “T-ara's On Air in Chengdu” (bằng tiếng Anh). 17 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014. 
  369. ^ “Fan Việt gây náo loạn khi đón nhóm nhạc T-ara ở sân bay”. Zing News. 15 tháng 3 năm 2016. 
  370. ^ “T-ara ăn mặc sành điệu sang Việt Nam”. Zing News. 
  371. ^ Bahk Eun-ji (28 tháng 4 năm 2016). “T-ARA plans fan meeting in Japan” (bằng tiếng Hàn). The Korea Times. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  372. ^ Yckim124 (28 tháng 4 năm 2016). “T-ara to meet with 5000 fans in Japan!”. Allkpop. Truy cập 3 tháng 5 năm 2016. 
  373. ^ “T-ara wins #1 again on M! Countdown + other performances” (bằng tiếng Anh). AllKpop. 15 tháng 3 năm 2016. 
  374. ^ “Winners from the 2012 'Gaon Chart K-Pop Awards' (bằng tiếng Anh). Allkpop. 15 tháng 3 năm 2016. Truy cập 7 tháng 3 năm 2015. 
  375. ^ “Winners from the '2011 Melon Music Awards'. Allkpop. 15 tháng 3 năm 2016. 
  376. ^ “Winners from the 21st Seoul Music Awards” (bằng tiếng Anh). Allkpop. 15 tháng 3 năm 2016. 
  377. ^ “SoomPi Gayo Awards (WON)” (bằng tiếng Anh). Soompi. 31 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2012. 
  378. ^ “Mnet Releases MAMA Awards Nominees' List” (bằng tiếng Anh). Soompi. 15 tháng 3 năm 2016. 
  379. ^ “第三届音悦V榜年度盛典- 音悦台 - 音悦Tai” (bằng tiếng Trung). Yinyuetai VChart. 16 tháng 3 năm 2016. 

Liên kết ngoài