TV3 (Malaysia)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TV3
Sistem Televisyen Malaysia Berhad
TV3 logo
Lên sóng 1 tháng 6, 1984 (1984-06-01)
Sở hữu Media Prima Berhad
Định dạng hình 576i 4:3 SDTV
Thị phần 24% ([1] 2013, )
Khẩu hiệu Keriangan sentiasa bersamamu di TV3 (Niềm vui luôn bên bạn ở TV3), chỉ dùng để nhận dạng đài
Quốc gia Malaysia
Khu vực phát sóng Toàn quốc
Chi nhánh TV9
Trụ sở Bandar Utama, Petaling Jaya, Selangor[2]
Kênh có liên hệ ntv7
8TV
TV9
Trang web www.tv3.com.my
Kênh riêng
Mặt đất
Tín hiệu tương tự Channel 12 (VHF) / Channel 29 (UHF) (Thung lũng Klang) [2]
myFreeview (Malaysia) Channel 103
(truyền thử nghiệm) [4][5]
Vệ tinh
Astro (Malaysia) Channel 103 [1]
NJOI (Malaysia) Channel 103 [6]
Cáp
ABNXcess (Malaysia) Channel 103
IPTV
HyppTV Channel 103 [3]
Truyền hình trực tuyến
trực tiếp live.tonton.com.my/livetv/index-tv3.html (chỉ ở Malaysia)

TV3, tên đầy đủ: Sistem Televisyen Malaysia Berhad (tiếng Việt: Công ty hữu hạn Hệ thống truyền hình Malaysia), là kênh truyền hình Malaysia tư nhân, miễn phí thuộc sở hữu của tập đoàn Media Prima Berhad, một tổ hợp kinh tế đa ngành nghề của Malaysia. Kênh truyền hình này được phát sóng lần đầu vào ngày 1 tháng 6 năm 1984. Vào thời điểm hiện tại, TV3 phát sóng 24 giờ một ngày.

Năm 2013, TV3 là đài truyền hình có nhiều người xem nhất Malaysia, mặc dù truyền hình miễn phí đang trên đà sụt giảm khán giả bởi sự xâm nhập mạnh mẽ của các hệ thống truyền hình khác như Truyền hình miễn phí RTM (Radio Televisyen Malaysia), Truyền hình trả tiền (Pay TV) và truyền hình kỹ thuật số miễn phí trong tương lai.[7]

Tương tự như hầu hết các đài truyền hình khác ở khu vực Đông Nam Á, TV3 được biết đến nhiều qua các bộ phim truyền hình nhiều tập (soap opera).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

TV3 bắt đầu phát sóng buổi đầu tiên vào lúc 18 giờ 00 phút giờ địa phương ngày 01 tháng 06 năm 1984. Người điều hành đầu tiên, và sau này là Thủ tướng Malaysia Mahathir bin Mohamad.

Ngày 28 tháng 07 năm 1984, TV3 trở thành kênh truyền hình thương mại đầu tiên hợp tác với RTM đưa tin trực tiếp về Thế vận hội Olympic Los Angeles 1984 tới khán giả Malaysia. Chương trình hợp tác này tiếp tục diễn ra trong các năm 19881992.[cần dẫn nguồn]

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi đài phát các chương trình buổi sáng như Chương trình sáng sớm: Malaysia Pagi Ini từ 07 giờ 30 phút tới 09 giờ 30 phút trong các năm 1985-1994 và Chương trình sáng muộn: Malaysia Hari Ini vào năm 1994, TV3 phát sóng từ 16 giờ 30 phút từ thứ hai tới thứ tư, 13 giờ 10 phút ngày thứ năm, 12 giờ trưa ngày thứ sáu (sau đổi lại thành 9 giờ sáng) và 09 giờ sáng các ngày thứ bảy và chủ nhật. Ngoại trừ ngày thứ bảy, các chương trình phát sóng kết thúc vào khoảng 12 giờ 30 phút khuya sau phần tin tức.

TV3 trở thành kênh truyền hình phát sóng 24 giờ một ngày đầu tiên của Malaysia kể từ ngày 31 tháng 08 năm 1997, nhưng bị gián đoạn phát sóng gần một năm vì thiếu khán giả và khủng hoảng tài chính châu Á. Vào tháng chay Ramadan năm 2003 kênh truyền hình TV3 mới tái khởi động phát sóng 24 giờ. Việc phát sóng 24 giờ hiện tại trên bắt đầu vào tháng 01/2010, mặc dù đài truyền hình này có thực hiện tắt sóng các kênh tương tự để bảo trì. Giai đoạn tháng 11/2010 và tháng 01/2011, TV3 phát sóng từ 06 giờ 30 sáng đến 12 giờ 30 phút khuya. Trong khoảng thời gian đầu năm 2015 tới đầu năm 2016, việc phát sóng hàng ngày cũng bắt đầu trong khoảng thời gian 06 giờ 30 phút sáng tới 02 giờ 30 sáng hôm sau.

Phim truyện truyền hình được bắt đầu phát sóng 30 phút mỗi ngày (21 giờ 15 phút tới 21 giờ 45 phút) vào năm 2010, sau được tăng lên 90 phút (21 giờ 15 phút tới 22 giờ 45 phút) vào năm 2011, sau đó là 120 phút (21 giờ tới 23 giờ) năm 2012, và hiện nay là 150 phút (21 giờ tới 23 giờ 30 phút). Chương trình thời sự cuối ngày Nightline tiếp theo sau chương trình chiếu phim.

Các chương trình thời sự chính gồm có Buletin Utama, được phát sóng từ 20 giờ tới 20 giờ 30 phút, tin tức buổi sáng Buletin Pagi được phát sóng từ 09 giờ tới 10 giờ. Đến năm 2013, Buletin Pagi được phát từ 09 giờ tới 09 giờ 30 phút. Chương trình thời sự được mở rộng thời lượng và xen thêm các bản tin buổi trưa khi Malaysia trải qua các đợt thời tiết cực đoan như lũ lụt.

Chương trình phát trên TV3[sửa | sửa mã nguồn]

Phim bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Citraneka Indonesia
  • Citraneka Malaysia
  • Mega Movie Phim Hollywood
  • Panggung Wayang Malaysia
  • Panggung Wayang Indonesia

Tin tức - Thời sự[sửa | sửa mã nguồn]

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa đàm[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải bóng rổ nữ Malaysia 2016-2017 (từ ngày 29/08/2016 đến ngày 29/01/2017)
  • Bản tin bóng đá

Sắp có[sửa | sửa mã nguồn]

Features[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày phát sóng đầu tiên, TV3 là kênh truyền hình dẫn đầu Malaysia và hai lần đạt mốc 51% lượng khán giả theo dõi trong nước, tỉ lệ cao nhất một kênh truyền hình Malaysia đạt được.[cần dẫn nguồn] Về mặt doanh thu từ quảng cáo, TV3 cũng là đài dẫn đầu và có tăng trưởng mạnh trong doanh thu quảng cáo. Đài tiếp tục nâng cấp thiết bị sản xuất và truyền dẫn, nhân viên đài cũng liên tục được tham gia các khóa đào tạo sản xuất chương trình truyền hình. Chính việc này làm cho TV3 giữ được vị trí là đơn vị phát sóng thương mại tư nhân hàng đầu.

TV3 cùng với TV9, nhật báo địa phương tiếng Anh New Straits Times và nhật báo tiếng Mã Lai Berita Harian hợp thành hãng thông tấn lớn nhất Malaysia Media Prima Berhad.

Với đà phục hồi kinh tế ở Malaysia, nhu cầu thưởng thức các chương trình nội địa cũng tăng cao ở mọi thể loại như tin tức, tạp chí, tọa đàm, thể thao, phim tài liệu, kịch hay phim. Có được nền tảng vững chắc từ các nhà sản xuất truyền hình, TV3 đã làm nên cuộc cách mạng trong việc sản xuất chương trình nội địa tới trình độ đáng ngưỡng mộ trong ngành truyền dẫn phát sóng. Đài là đơn vị dẫn đầu xu thế qua việc sản xuất các chương trình nội địa chất lượng tốt làm cuốn hút và thu phục lòng trung thành của khán giả Malaysia. Tin vào phương châm lấy chương trình nội địa làm hướng phát triển, TV3 tiếp tục đầu tư vào nhân lực và vật lực để làm nên các chương trình có nội dung tốt. Tuy vậy, đài vẫn dành thời lượng vừa đủ cho các chương trình nước ngoài như phim, kịch, hài tình huống, phim tài liệu và thể thao có nội dung hay.

TV3 hiện được phát trên kênh 12 VHF và kênh 29 UHF.[2] Kênh này được xem là ưu ái chính phủ và không dành nhiều không gian cho phe đối lập. TV3 đang phát sóng truyền hình thử nghiệm, sử dụng hệ Chinese DMB-T/H. Vùng phủ sóng giới hạn trong khu vực thành phố Kuala Lumpur.[cần dẫn nguồn]

Thông tin bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • TV3! Untuk Anda (TV3! Dành cho bạn) (1984-1989)
  • Rangkaian Sukaramai (Mạng lưới ưa thích của mọi người) (1986-1994)
  • Berita Terkini Hiburan Sensasi (Tin tức đầu tiên, giải trí số một) (1994-1999)
  • Duniamu (Thế giới của bạn) (1999-2006)
  • Pilihan Hatiku (Lựa chọn của tim tôi) (2006-2007)
  • Di Sisimu (Về phía bạn) (2007-2009)
  • Inspirasi Hidupku (Cảm hứng đời tôi) (2008–2014)
  • 3 Dekad Bersama TV3 (3 thập kỉ với TV3) (30th anniversary, June 2014)
  • Keriangan sentiasa bersamamu di TV3 (Niềm vui luôn bên bạn ở TV3) (kể từ lần kỉ niệm 30 năm ngày phát sóng đầu tiên vào tháng 06/2014) (chỉ dùng để nhận dạng đài)

Cáo buộc và chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tại Singapore, TV3 gây nên tranh cãi khi kênh này phát các chương trình bằng tiếng Quảng Đông như ở Trung Quốc, đi ngược lại chính sách dùng tiếng Quan thoại thay thế các phương ngữ Trung Quốc khác của chính phủ Singapore trong truyền thông.[8] Điều này dẫn tới hệ quả là các tòa nhà do chính phủ xây bị ngăn chặn lắp đặt thiết bị ăn-ten để nhận tín hiệu từ đài phát sóng.[9] Thêm vào đó, báo và tạp chí địa phương cũng không được đăng lịch phát sóng của TV3, mặc dù việc này vẫn được thực hiện với các đài truyền hình Malaysia khác.[10] TV3 có mặt trên Singapore CableVision (nay là StarHub TV), đơn vị vận hành truyền hình cáp duy nhất của Singapore, cho đến khi bị gỡ bỏ ngày 11/07/2002 vì vấn đề bản quyền.[11]
  • Năm 2007, chương trình truyền hình thực tế Sensasi của TV3 bị cấm trong bối cảnh các cáo buộc rằng chủ quản chương trình Awal Ashaari "làm nhục người khác để làm chiêu trò câu khách" cùng với các khiếu nại tới diễn viên Rosnah Mat Aris rằng cô này đã động chạm tới vấn đề nhạy cảm của Hồi giáo bằng việc so sánh Siti Khadijah, vợ nhà tiên tri Muhammad với hành động của một người đàn bà quyến rũ đàn ông trẻ.[12]
  • Trong chương trình truyền hình thực tế khác mang tên Teleskop, đã bị cấm vào năm 1995 sau khi thành viên ban tổ chức Nasir Jani chửi thề trên sóng trực tiếp.[13]
  • Năm 2010, TV3 phát chương trình quảng cáo của Hari Raya Aidilfitri gây ra nhiều tranh cãi khi đã gán ghép các yếu tố của Kitô giáo, Ấn Độ giáoPhật giáo trong một buổi diễn của Aidilfitri. Vụ việc đã gây ra làn sống phản đối rộng khắp đặc biệt từ cộng đồng người Hồi giáo Mã Lai. Chương trình quảng cáo đã phải rút lại chỉ sau vài ngày phát sóng và TV3 đã bị phạt MYR50.000.[14]
  • Năm 2015, TV3 bị cáo buộc đạo thiết kế, sau khi bị phát giác là mẫu thiết kế mới cho chương trình tin tức mới được lấy từ chương trình RTL Nieuws của Hà Lan. Thiết kế của chương trình Hà Lan được giới thiệu vào tháng 05/2014.[15]
  • Từ ngày 01/04/2016 tới ngày 31/12/2016, của hàng mua sắm tại gia qua điện thoại tên CJ WOW Shop được phát sóng trên các kênh Media Prima. Điều này ảnh hưởng nhiều tới một số kênh của Media Prima (đặc biệt là NTV7 và TV9). Bị phản đối mạnh mẽ, đặc biệt trên mạng xã hội vì nhiều chương trình phát sóng ban ngày đã phải nhường lịch cho chương trình của CJ Wow Shop, TV3 đành phải phát lại hầu hết chương trình này bao gốm các chương trình tôn giáo và thiếu nhi như lịch phát sóng cũ.[16][17][18][19]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (PDF) http://www.mediaprima.com.my/investorcenter/ibq/2013/IBQ413.pdf. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  2. ^ a ă â Malaysia TV: Television Stations and Channels
  3. ^ “HyppTV TV Guide (includes the LCN number of each channel)”. 
  4. ^ “MYTV Broadcasting Digital TV Trial”. 6 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016. 
  5. ^ “MYTV statement on Facebook (Malay)”. 13 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016. 
  6. ^ “Channels - TV, Radio dan Prabayar (official list of all channels available on NJOI)”. 
  7. ^ “Financial & Business Review For 2013” (PDF). Media Prima Berhad. tr. 17. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  8. ^ Saw Swee-Hock; K. Kesavapany (tháng 1 năm 2006). Singapore-Malaysia Relations Under Abdullah Badawi. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 83–. ISBN 978-981-230-378-3. 
  9. ^ Far Eastern Economic Review. Tháng 1 năm 1989. tr. 30. 
  10. ^ Kokkeong Wong (1 tháng 1 năm 2001). Media and Culture in Singapore: A Theory of Controlled Commodification. Hampton Press. ISBN 978-1-57273-311-4. 
  11. ^ Priya Suri (11 tháng 7 năm 2002). “SCV asked to take off two Malaysian TV channels”. Today. National Library Board. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009. 
  12. ^ Mohd Fadzli Fadhilah (8 tháng 3 năm 2007). 'Sensasi' ban: Malaysian talk shows prove unprofessional, disrespectful”. Bernama. The Brunei Times. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2007. 
  13. ^ “TV3 show BANNED”. The New Paper. National Library Board. 1 tháng 2 năm 1995. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2007. 
  14. ^ “TV3 fined RM50,000 for humiliating and insulting Islam”. The Malaysian Insider. 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2010. 
  15. ^ “Nieuwe vormgeving TV3 Maleisië: zoek de tien verschillen” (bằng tiếng Hà Lan). RTL Nieuws. 6 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2015. 
  16. ^ “CJ WOW SHOP mula 1 April”. Harian Metro. 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. 
  17. ^ . 1 tháng 4 năm 2016 https://www.facebook.com/TV3MALAYSIA/photos/a.392087241166.178751.262044791166/10153548509336167/?type=3&theater. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  18. ^ . 1 tháng 4 năm 2016 https://www.facebook.com/TV9Malaysia/photos/a.132100906817085.22337.124467560913753/1302978949729269/?type=3&theater. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  19. ^ . 1 tháng 4 năm 2016 https://www.facebook.com/ntv7localdrama/photos/a.299680246757151.72583.293290990729410/1085761854815649/?type=3&theater. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Media Prima Bản mẫu:Malaysia TV Bản mẫu:Programs