Tan băng (thời tiết)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Làm tan băng

Tan băng tháng một là một thuật ngữ áp dụng cho sự tan băng hoặc tăng nhiệt độ vào giữa mùa đông được tìm thấy ở vĩ độ trung của Bắc Mỹ.

Ước tính hình sin của nhiệt độ dự kiến, đối với các địa phương phía bắc, thường có nhiệt độ thấp nhất vào khoảng ngày 23 tháng 1 và cao nhất vào ngày 24 tháng 7, và cung cấp các ước tính khá chính xác về các kỳ vọng nhiệt độ. Nhiệt độ trung bình thực tế ở Bắc Mỹ thường có sự chênh lệch đáng kể hai lần trong năm:

  • Nhiệt độ vào trung thu có xu hướng ấm hơn so với dự đoán của mô hình hình sin, tạo ra ấn tượng về sự ấm áp mùa hè kéo dài được gọi là mùa hè Ấn Độ.[1]
  • Trong năm ngày vào khoảng ngày 25 tháng 1, nhiệt độ thường ấm hơn đáng kể so với dự đoán của ước tính hình sin và cũng ấm hơn so với nhiệt độ lân cận ở cả hai bên.

Trong giai đoạn "tan băng" này, thường kéo dài khoảng một tuần, nhiệt độ thường cao hơn khoảng 6 °C (10 °F) so với bình thường.[2] Điều này thay đổi từ năm này sang năm khác và nhiệt độ dao động đủ để mức tăng nhiệt độ cuối tháng 1 như vậy là không đáng kể; Điều đáng chú ý (và không giải thích được) là xu hướng tăng như vậy xảy ra phổ biến hơn vào cuối tháng 1 so với giữa tháng 1 hoặc đầu tháng 2, mà ước tính hình sin phải ấm hơn một chút.

Ở một số vùng (như miền bắc Canada), hiện tượng này sẽ không được biểu hiện dưới dạng "tan băng" theo nghĩa kỹ thuật, vì nhiệt độ sẽ vẫn ở dưới mức đóng băng.

Sự tan băng tháng một được cho là một điểm kỳ dị thời tiết. Một cơ chế vật lý khả dĩ cho những hiện tượng như vậy đã được đưa ra vào những năm 1950 bởi EG Bowen : ông cho rằng một số "calendaricities" (như ông gọi chúng) có thể giải thích được về mặt các hạt thiên thạch từ các quỹ đạo sao chổi đóng vai trò là hạt nhân băng trên các đám mây trên mặt đất;[3][4][5] lý thuyết của ông sau đó đã nhận được một số hỗ trợ từ một số nguồn.[6] Tuy nhiên, các ý tưởng của Bowen sau đó không được ủng hộ với sự phát triển của các kỹ thuật mô hình động trong khí quyển, mặc dù một trong những đỉnh mưa của ông dường như tương ứng với ngày tan băng tháng giêng.[3][7]

Phân tích dữ liệu đã không tìm thấy sự hỗ trợ có ý nghĩa thống kê cho sự tan băng tháng một.[8] Các tác giả của nghiên cứu này nói rằng "tác động của việc lấy mẫu trong các hồ sơ khí hậu hữu hạn là hoàn toàn đủ để giải thích cho sự tồn tại của 'tính năng' tan băng tháng một trong dữ liệu nhiệt độ phía đông bắc Hoa Kỳ."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gió Chinook

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NOAA Glossary”. 
  2. ^ “What Is A January Thaw?”. Farmers’ Almanac (bằng tiếng Anh). 25 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019. 
  3. ^ a ă Bowen, E.G. (1953). “The influence of meteoric dust on rainfall”. Australian Journal of Physics 6: 490–497. Bibcode:1953AuJPh...6..490B. doi:10.1071/ph530490. 
  4. ^ Bowen, E.G. (1956). “The relation between rainfall and meteor showers”. Journal of Meteorology 13: 142–151. Bibcode:1956JAtS...13..142B. doi:10.1175/1520-0469(1956)013<0142:trbram>2.0.co;2. 
  5. ^ Bowen, E.G. (1956). “A relation between meteor showers and the rainfall of November and December”. Tellus 8: 394–402. Bibcode:1956Tell....8..394B. doi:10.1111/j.2153-3490.1956.tb01237.x. 
  6. ^ McNaughton, D.L. (1979). “Meteor Streams and Rainfall”. 1980 Yearbook of Astronomy (Sidgwick and Jackson, London): 144–154. ISBN 0-283-98565-8. 
  7. ^ O'Mahoney, G. (1962). “Singularities in daily rainfall”. Australian Journal of Physics 15: 301–326. Bibcode:1962AuJPh..15..301O. doi:10.1071/PH620301. 
  8. ^ Godfrey, C.M., Wilks, D.S., & Schultz, D.M. (2002). “Is the January Thaw a Statistical Phantom?”. Bull. Amer. Meteor. Soc. 83: 53–62. Bibcode:2002BAMS...83...53G. doi:10.1175/1520-0477(2002)083<0053:itjtas>2.3.co;2. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]