Tatara

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Các công nhân đang làm việc tại lò tatara

Tatara (たたら) gọi đầy đủ là Tatara-buki (たたら吹き, たたらぶき) là một loại lò luyện thép truyền thống của Nhật Bản, đây là một phương pháp sản xuất thép độc đáo của để tinh luyện thép từ cát đen giàu sắt. Sản phẩm thu được từ loại lò luyện này gồm nhiều loại thép trong đó có tamahagane được dùng để rèn vũ khí.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tatara không có nguồn gốc từ Nhật, dù hiện không chắc chắn nó đến từ đâu nhưng theo sự đồng ý chung của các nhà nghiên cứu thì nó có nguồn từ vùng Ấn Độ hay Trung Á vì cách phát âm giống với cách nói thường liên tưởng tới việc nấu chảy kim loại tại vùng này là tātala trong tiếng Sanskrittiếng Hindi gọi thép là sekeraa làm liên tưởng đến khối kim loại kera thu được sau khi luyện. Bằng cách nào đó công nghệ luyện thép xuất phát từ Hittite lan ra vào thế kỷ 23 trước công nguyên đã đến được Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ sáu và người Nhật đã phát triển và điều chỉnh công nghệ này sao cho thích hợp với điều kiện của mình vốn không có nhiều quặng.

Tinh luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu tạo phần luyện thép

Cát với hàm lượng 2-5% sắt được lấy từ các vùng núi trong đó có dãy Chugoku chiếm 60% số lượng sắt có trong mạch, sau đó được sơ chế bằng cách cho dòng nước chảy qua cuốn cát đi để lại loại cát giàu sắt gọi là Masa satetsu (真砂砂鉄). Cát Masa satetsu chứa một lượng nhỏ sắt nguyên chất với hàm lượng 8% còn lại là Fe2O3 cùng một lượng rất nhỏ tạp chất như phốtpho với hàm lượng 0,026% và lưu huỳnh là 0,002%.

Khu vực luyện thép của lò được xây bằng đất sét và hai bên thành lò được gắn các ống thông gió bằng gỗ để thổi khí từ một hệ thống dẫn khí ở dưới lòng đất. Cát sẽ được đổ vào lò luyện cùng than bằng tay theo một quy trình tinh luyện là một lớp than và một lớp cát. Việc luyện thép mất khoảng ba ngày ba đêm. Nhiệt độ trong lò là khoảng 1200-1500 °C thấp hơn điểm nóng chảy của thép giảm thiểu khả năng Fe2O3 nóng chảy kết hợp với SiO2 có trong đất sét làm thành lò. Sau khi tất cả các xỉ nóng chảy đã được tháo ra khỏi lò qua khe phía bên dưới và việc tinh luyện hoàn tất khu vực luyện thép sẽ bị đập ra để kéo khối kim loại bên trong ra thay vì nấu chảy và đổ ra như cách luyện khác. Thường thì tinh luyện sẽ dùng 10 tấn cát 12 tấn than cho sẽ cho ra 2,5 tấn kim loại gọi Kera (ケラ) chứa các vật liệu dùng làm kiếm, khối này sẽ được kéo ra ngoài để môi trường làm nguội vì thế việc tinh luyện thường chỉ thực hiện vào mùa đông. Sau đó kera sẽ được đập ra và thu được một lượng lớn gang, chưa tới một tấn tạo thành tamahagane (玉鋼, たまはがね) ở nơi chứa cacbon vừa đủ phần dưới cùng là loại thép hocho-tetsu (包丁鉄) chỉ chứa từ 0,1 đến 0,3% cacbon (thường dùng làm lõi kiếm).

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại chỉ có Hiệp hội bảo tồn phát triển nghề rèn kiếm nghệ thuật Nhật Bản là có khả năng xây dựng và vận hành loại lò này, Hiệp hội đã xây dựng một lò có tên Nittoho tại Shimane vào năm 1977. Hiện tại Hiệp hội cũng đã liên kết với Hitachi Metals và xây dựng một lò khác tại thành phố Yasugi. Việc tinh luyện diễn ra chủ yếu trong mùa đông dưới sự giám sát của Hiệp hội.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 鉄と生活研究会編 『鉄の本』 2008n年2月25日初版1刷発行 ISBN 9784526060120

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]