Cao Bằng (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thành phố Cao Bằng)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Picto infobox map.png
Thành phố trực thuộc tỉnh
Bang Giang river, Cao Bang City, Viet Nam.jpg
Sông Bằng Giang chảy qua thành phố Cao Bằng
Hành chính
VùngĐông Bắc
TỉnhCao Bằng
Phân chia hành chính8 phường, 3
Thành lập
Chính quyền
Chủ tịch UBNDNguyễn Hoàng Anh
Chủ tịch HĐNDHà Ngọc Chiến
Địa lý
Tọa độ: 22°41′B 106°17′Đ / 22,683°B 106,283°Đ / 22.683; 106.283Tọa độ: 22°41′B 106°17′Đ / 22,683°B 106,283°Đ / 22.683; 106.283
Diện tích107,6 km²[1]
Dân số (2018)
Tổng cộng134.698 người
Mật độ1251 người/km²
Dân tộcngười Tày, người Kinh
Khác
Biển số xe11-X1-B1

Cao Bằng là một thành phố, tỉnh lỵ của tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Thành phố Cao Bằng hiện là đô thị loại III.

Dự kiến đến năm 2020, thành phố là trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Cao Bằng.

Vị trí địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh.

Thành phố gần như nằm trọn trong huyện Hòa An, cả ba phía bắc, đông tây và nam đều giáp huyện Hoà An

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thị xã Cao Bằng được thành lập năm 1955 từ thị trấn Hòa An của huyện Hòa An.

Sau năm 1975, thị xã Cao Bằng là thủ phủ của tỉnh Cao Lạng, gồm 3 phường: Hòa An, Sông Bằng, Sông Hiến và 1 xã: Nà Phía. Dân số khi ấy khoảng 34.625 người.

Ngày 27 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách ra thành 2 tỉnh là Cao BằngLạng Sơn, thị xã Cao Bằng trở thành tỉnh lị tỉnh Cao Bằng.

Năm 1979, quân đội Trung Quốc tấn công ồ ạt trong chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979, thị xã Cao Bằng chịu thiệt hại nặng nề.

Ngày 10 tháng 9 năm 1981, thị xã Cao Bằng từ 3 phường cũ (Sông Bằng, Sông Hiến, Hòa An) và 1 xã (Nà Phía) tăng lên thành 4 phường: Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang (tách ra từ xã Nà Phía), Hợp Giang (đổi tên từ phường Hòa An) và 1 xã: Duyệt Trung[2](phần còn lại của xã Nà Phía),chuyển xã Ngọc Xuân (tách ra từ xã Ngũ Lão), Hòa Chung (tách ra từ xã Lê Chung) của huyện Hòa An vào thị xã Cao Bằng.

Ngày 4 tháng 10 năm 2002, chuyển xã Đề Thám thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý[3]. Từ đó đến năm 2010, thị xã Cao Bằng có 4 phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 4 xã: Duyệt Trung, Đề Thám, Hòa Chung, Ngọc Xuân.

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III.

Ngày 1 tháng 11 năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thị xã Cao Bằng; theo đó, chuyển 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang thuộc huyện Hòa An về thị xã Cao Bằng quản lý. Đồng thời chuyển 2 xã Đề Thám và Ngọc Xuân thành 2 phường có tên tương ứng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thị xã Cao Bằng có 10.760,93 ha diện tích tự nhiên và 67.415 nhân khẩu; bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 6 phường: Đề Thám, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 5 xã: Chu Trinh, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hưng Đạo, Vĩnh Quang[4].

Ngày 9 tháng 7 năm 2012, chuyển 2 xã Hòa Chung và Duyệt Trung thành 2 phường có tên tương ứng[5].

Ngày 25 tháng 9 năm 2012, chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng[6][7]. Thành phố Cao Bằng có 8 phường: Duyệt Trung, Đề Thám, Hòa Chung, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.

Dự kiến đến năm 2020, thành phố là trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Cao Bằng.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Cao Bằng
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 32.3 35.9 37.1 38.3 39.9 40.5 38.7 38.3 37.8 36.9 33.7 32.3 40,5
Trung bình cao °C (°F) 18.4 19.3 23.1 27.5 31.0 32.0 32.3 32.1 31.2 28.2 24.3 20.8 26,7
Trung bình ngày, °C (°F) 13.8 15.1 18.8 22.9 25.9 27.0 27.0 26.7 25.4 22.5 18.5 15.1 21,6
Trung bình thấp, °C (°F) 10.9 12.3 15.9 19.6 22.3 23.7 24.0 23.5 21.9 19.1 15.2 11.5 18,3
Thấp kỉ lục, °C (°F) −0.9 1.8 3.1 6.6 13.7 15.6 18.2 16.7 14.2 7.2 3.6 −1.3 −1,3
Giáng thủy mm (inch) 25
(0.98)
25
(0.98)
49
(1.93)
87
(3.43)
184
(7.24)
236
(9.29)
272
(10.71)
260
(10.24)
138
(5.43)
83
(3.27)
43
(1.69)
21
(0.83)
1.422
(55,98)
độ ẩm 80.5 80.3 79.8 79.8 79.6 82.1 84.2 85.4 83.4 81.9 81.2 79.8 81,5
Số ngày giáng thủy TB 8.6 9.2 10.0 11.5 14.8 16.9 18.9 18.2 12.4 10.3 7.2 5.6 143,6
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 65 58 78 115 161 156 176 184 170 141 117 113 1.533
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[8]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 8 phường: Đề Thám, Duyệt Trung, Hòa Chung, Hợp Giang, Ngọc Xuân, Sông Bằng, Sông Hiến, Tân Giang và 3 : Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang.[9]

Kinh tế - Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện kế hoạch 5 năm 2016-2020 với những mục tiêu quan trọng của Đại hội đảng bộ thành phố Cao Bằng lần thứ 12, với quyết tâm cao độ và sự đồng thuận của xã hội. Triển khai nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cao Bằng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực:

Tiêu chí xây dựng đường giao thông vượt trên 300%. Điều rõ ràng nhất là mỗi con đường mở ra đã tăng thêm nguồn lực, niềm tin mới cho người dân thành phố Cao Bằng, rút ngắn khoảng cách từ phường đến xã, từ trung tâm thành phố đến các vùng nông thôn ngoại thành. Tất cả 17/17 chi tiêu kinh tế, xã hội cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, trong đó thu ngân sách nhà nước vượt 8,2% dự toán giao, lần đầu tiên thành phố Cao Bằng thu ngân sách đạt mốc 600 tỷ đồng; giá trị công nghiệp xây dựng vượt 8,6%; tổng sản lượng lương thực vượt 4,4%, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu thương mại dịch vụ tăng 1,5%, giá trị tiểu thủ công nghiệp vượt 22,8%; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 72 triệu đồng/ha; giải quyết việc làm cho hơn 2.400 lao động, vựơt 44% kế hoạch; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,7%…

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]