Quy Nhơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thành phố Quy Nhơn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Qui Nhơn
Qui Nhơn
Logo Thành phố Qui Nhơn
Logo Thành phố Qui Nhơn
Qui Nhơn trên bản đồ Việt Nam
Qui Nhơn
Qui Nhơn
Vị trí trên bản đồ
Tọa độ: 13°46′B 109°14′Đ / 13,767°B 109,233°Đ / 13.767; 109.233
Nước  Việt Nam
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
Tỉnh Bình Định
Thành lập thị xã thời Nhà Nguyễn 20/10/1898
Nâng cấp thành phố sau năm 1975

3/7/1976

Đ
Chính quyền
 • Kiểu Thành phố trực thuộc tỉnh (tỉnh lị)
 • Chủ tịch UBND thành phố Ngô Hoàng Nam
Diện tích
 • Tổng cộng 452 km2 (175 mi2)
Dân số (2014)
 • Tổng cộng 280,320 [1]
Múi giờ G (UTC+7)
Mã bưu chính 53
Biển số xe 77-L1 XXX.XX, 77-T1XXX.XX
Phân chia hành chính 36 phường và 5 xã
Xếp loại đô thị I
Trang web Trang chủ

Qui Nhơn () là thành phố ven biển miền Trung Việt Nam và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định. Trước khi thuộc về Việt Nam, Quy Nhơn từng là đất của người Champa nên xung quanh thành phố hiện vẫn tồn tại nhiều di tích Chăm. Sau năm 1975, Quy Nhơn thành thị xã tỉnh lị trực thuộc tỉnh Nghĩa Bình rồi chính thức trở thành thành phố vào năm 1986. Đến năm 1989 thì trở thành tỉnh lị của Bình Định cho đến nay. Với sự phát triển không ngừng của mình, Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2010 và được bình chọn là điểm đến hàng đầu Đông Nam Á bởi tạp chí du lịch Rough Guides của Anh vào năm 2015.[2]

Mục lục

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên. Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ độ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía Nam, cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 165 km và cách Đà Nẵng 322 km

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi (Như núi Đen cao 361m), rừng nguyên sinh (Khu vực đèo Cù Mông), gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm (Đầm Thị Nại), hồ (Hồ Phú Hòa (Phường Nhơn Phú và phường Quang Trung), Bầu Lác (Phường Trần Quang Diệu), Bầu Sen (Phường Lê Hồng Phong), hồ Sinh Thái (Phường Thị Nại)), sông ngòi (Sông Hà Thanh), biển, bán đảo (Bán đảo Phương Mai) và đảo (Đảo Nhơn Châu – Cù lao xanh). Bờ biển Quy Nhơn dài 72 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao. Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Về khí hậu, Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ C.

Dữ liệu khí hậu của Quy Nhơn
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 32.8 35.0 38.3 36.1 39.4 41.1 42.2 41.1 38.9 37.2 32.8 30.6 42,2
Trung bình cao °C (°F) 25.0 26.1 28.3 30.0 32.2 33.9 33.9 35.0 32.2 32.2 28.9 27.2 30,4
Trung bình ngày, °C (°F) 22.8 23.6 25.3 27.0 28.6 29.4 30.0 30.6 28.6 26.4 25.0 22.2 26,6
Trung bình thấp, °C (°F) 20.6 21.1 22.2 23.9 25.0 25.0 26.1 26.1 25.0 23.9 22.8 20.0 23,5
Thấp kỉ lục, °C (°F) 15.0 15.6 18.3 19.4 18.9 21.7 20.6 20.6 21.1 17.8 15.0 16.1 15,0
Giáng thủy mm (inch) 53
(2.09)
41
(1.61)
38
(1.5)
25
(0.98)
53
(2.09)
56
(2.2)
69
(2.72)
56
(2.2)
249
(9.8)
434
(17.09)
434
(17.09)
142
(5.59)
1.650
(64,96)
Số ngày giáng thủy TB 4 2 2 3 4 6 6 6 12 16 17 7 90
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 154 191 243 266 277 244 259 207 207 169 121 119 2.457
Nguồn #1: Sistema de Clasificación Bioclimática Mundial,[3] Deutscher Wetterdienst (nắng, 1961–1990)[4][5]
Nguồn #2: Weatherbase (ngày giáng thủy)[6]

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên: về tài nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100 km, đầm Thị Nại 50 km (trong đó: Quy Nhơn 30 km, huyện Tuy Phước 20 km), có trên 30.000ha rừng. Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý), đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng đứng sau tỉnh Khánh Hòa). Nguồn nước ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành phố.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cảng Quy Nhơn năm 1795, vẽ bởi Jean-Marie Dayot.

Quy Nhơn (Chữ Hán: 城舖歸仁 thành phố Quy Nhơn) được hình thành từ rất sớm thuộc vùng đất đàng trong xứ Thuận Quảng: cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ Quy Nhơn. Mảnh đất này đã có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa từ thế kỷ 11, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ 18.

Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và tác động sự phát triển của nền công nghiệp phương Tây vào thế kỷ 19 làm cho diện mạo Quy Nhơn thay da đổi thịt. Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ.

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình mới được mọc lên như: trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở, nhà hát, toà giám mục, hệ thống giao thông đường sắt, nhà ga… Do đó, trong 3 thập niên đầu của thế kỷ XX, Quy Nhơn nhanh chóng được đô thị hóa và trở thành một đô thị lớn ở khu vực. Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương Pas-ki-ơ đã ra Nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố cấp 3. Đây là một trong những đô thị ở nước ta thời bấy giờ đạt tiêu chuẩn cả về phương diện hành chính lẫn kinh tế, văn hóa.

Giai đoạn 1945 - 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ngày 3 tháng 9 năm 1945, Quy Nhơn được tổ chức theo quy chế thị xã, lấy tên là thị xã Nguyễn Huệ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Quy Nhơn là hậu phương của chiến trường khu V và Tây Nguyên.

Thời kỳ 19541975, Quy Nhơn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ra Sắc lệnh thành lập thị xã Quy Nhơn từ xã Quy Nhơn thuộc quận Tuy Phước và các phần đất phụ cận (ngoại vi xã Phước Hậu, Phước Hải, Phước Lý), hình thành 2 quận là Nhơn Bình và Nhơn Định. Ngày 11 tháng 6 năm 1971, Quy Nhơn được chia thành 2 quận, 16 khu phố:

  • Quận Nhơn Bình có 10 khu phố: Trung Cảng, Trung Từ, Trung Phú, Trung Đức, Trung Cường, Trung Hiếu, Trung Tín, Trung Châu, Trung Hòa, Trung Hải.
  • Quận Nhơn Định có 6 khu phố: Trung Chánh, Trung Kiệt, Trung An, Trung Thiện, Trung Hậu, Trung Nghĩa.

Giai đoạn 1975 - 1986[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày giải phóng (30 tháng 4 năm 1975), phường Đống Đa được thành lập trên cơ sở đất của làng Hưng Thạnh cũ.

Xã Nhơn Châu bao gồm toàn bộ Cù Lao Xanh, nguyên là đất của tỉnh Phú Yên được sáp nhập về Quy Nhơn sau năm 1975.

Tháng 2 năm 1976 hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành Nghĩa Bình, thì thị xã Quy Nhơn trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình, gồm 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 4 xã: Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Thạnh.

Ngày 24 tháng 3 năm 1979, chia xã Nhơn Lý thành 2 xã: Nhơn Lý và Nhơn Hội.[7]

Ngày 23 tháng 9 năm 1981, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 xã: Nhơn Bình và Nhơn Phú.[8]

Giai đoạn từ 1986 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 7 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn từ thị xã Quy Nhơn; chuyển xã Phước Thạnh thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý và đổi thành xã Nhơn Thạnh[9]. Khi đó thành phố Quy Nhơn có 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 7 xã: Nhơn Bình, Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Phú, Nhơn Thạnh, với diện tích 512 km² và dân số 374.076 người.

Ngày 12 tháng 3 năm 1987, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 phường: Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu.[10]

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập, thành phố Quy Nhơn trở lại là tỉnh lị tỉnh Bình Định.[11]

Ngày 26 tháng 12 năm 1997, chia phường Quang Trung thành 3 phường: Quang Trung, Ghềnh Ráng và Nguyễn Văn Cừ; chuyển 2 xã Nhơn Bình và Nhơn Phú thành 2 phường có tên tương ứng.[12]

Ngày 4 tháng 9 năm 1998, thành lập 2 phường Lý Thường Kiệt và Thị Nại.[13]

Ngày 15 tháng 11 năm 2005, chuyển xã Phước Mỹ thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý.[14]

Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra nghị quyết 558 công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 2[15]. Đến ngày 26 tháng 1 năm 2010, theo nghị quyết 159 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Bình Định[16].

Ngày 14 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đồ án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Ngày nay Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I, với ưu thế về vị trí địa lí, có cảng biển và cơ sở hạ tầng đô thị phát triển. Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm Công nghiệp,thương mạidu lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà NẵngNha Trang). Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Quy Nhơn hướng ra vịnh

Thành phố có 16 phường: Bùi Thị Xuân, Đống Đa, Ghềnh Ráng, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Ngô Mây, Nguyễn Văn Cừ, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Quang Trung, Thị Nại, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Trần Quang Diệu và 5 xã: Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Phước Mỹ.

Theo đồ án điều chỉnh quy hoạch thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035 định hướng đến năm 2050 vừa được Thủ tướng chính phủ ký thông qua ngày 14/04/2015, sẽ sáp nhập toàn bộ huyện Tuy Phước; xã Canh Vinh, Canh Hiển huyện Vân Canh và một phần xã Cát Chánh, Cát Tiến, Cát Hải huyện Phù Cát vào thành phố Quy Nhơn. Khi đó diện tích Thành phố Quy Nhơn sẽ vào khoảng 962km2. Khi đó, dân số dự báo đến năm 2025 khoảng 950.000-1.000.000 người; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 78 - 80%, dân số dự báo đến năm 2035 khoảng 1.250.000 - 1.300.000 người; tỷ lệ đô thị hóa khoảng 80 - 85%. So với hiện nay dân số Quy Nhơn khoảng 750.000 người, tỷ lệ đô thị hóa 68%.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP. Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ trong GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3%. Thu nhập bình quân dầu người 2014 là 4500 USD/người.

Mục tiêu phát triển của thành phố theo đồ án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là phấn đấu đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền trung. Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia, đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu trên, còn rất nhiều việc phải làm. Vì vậy, Chính quyền và nhân dân cần có sự chung tay góp sức xây dựng vì mục tiêu chung.

Các khu, cụm công nghiệp ở Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Khu công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • KCN Phú Tài
  • KCN Long Mỹ
  • KCN Nhơn Hội A
  • KCN Nhơn Hội B
  • KCN Nhơn Hội C

Cụm công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • CCN Bùi Thị Xuân
  • CCN Nhơn Bình
  • CCN Quang Trung

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, thành phố Quy Nhơn đã không ngừng nỗ lực chuyển mình để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước; Quy Nhơn đang từng bước vươn tới mục tiêu xây dựng một đô thị hiện đại, phát triển; để đạt được mục tiêu đó, trong nhiều năm qua đã tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng quan trọng như:

Hệ thống cung cấp điện[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn thành phố (kể cả dự án cải tạo lưới điện 17 triệu USD của chương trình SIDA), bảo đảm 100% xã, phường có điện, 98% số hộ được sử dụng điện từ lưới điện quốc gia (trừ xã đảo Nhơn Châu phải dùng máy phát điện). Hệ thống đèn chiếu sáng tương đối hoàn chỉnh có trên 5.000 bộ đèn cao áp (bình quân 1 bộ / 10 hộ dân).

Hệ thống cấp nước[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay công suất 175.000m3/ ngày đêm và đang thực hiện giai đoạn hoàn thiện dự án nâng cấp lên 300.000m3/ ngày đêm.

Thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh; đặc biệt bưu chính viễn thông có bước phát triển khá tốt, hiện nay đã có 50 máy điện thoại / 100 người dân; hệ thống truyền hình cáp; trung tâm bưu chính liên tỉnh phục vụ khu vực miền Trung, trạm không lưu khu vực phía Nam. Đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực.

Báo chí và truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Báo Bình Định: 84 Phạm Hùng, TP.Quy Nhơn.
  • Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Định: 23 Mai Xuân Thường, TP.Quy Nhơn.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

TP. Quy Nhơn được kết nối với các tỉnh, thành phố khác qua các quốc lộ:

  • Quốc lộ 1A chạy qua Quy Nhơn theo hướng Bắc Nam, dài 48.6 km, cách trung tâm 15 km về hướng tây thành phố.
  • Quốc lộ 1D nối thành phố Quy Nhơn với thị xã Sông Cầu - tỉnh Phú Yên, dài 34.5 km.
  • Quốc lộ 19 nối Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên với Quy Nhơn.
  • Quốc lộ 19B: Dư kiến sẽ đầu tư, sửa chữa và nâng cấp 3 doạn (Đoạn 1, đi trùng đường trục Khu kinh tế Nhơn Hội có tổng chiều dài 15,70 km; đoạn 2 đi trùng tuyến đường ĐT 639 dài 1,95 km và đoạn 3 đi trùng đường ĐT 635 có tổng chiều dài 42,35 km (từ Cát Tiến đến Sân bay Phù Cát)). Tuyến đường này sẽ được đầu tư, sửa chữa và nâng cấp thành Quốc lộ 19B (cấp 3 đồng bằng). Sau khi được hoàn thành, nó sẽ kết nối Sân bay Phù Cát với Khu kinh tế Nhơn Hội.

Về giao thông tỉnh,Quy Nhơn có Bến xe Liên Tỉnh nằm trên Đường Tây Sơn phục vụ đi lại của nhân dân đến hầu hết các địa phương trong và ngoại tỉnh.Dịch vụ vận tải giao thông công cộng (xe buýt) ở Quy Nhơn ra đời từ năm 2000 nối thành phố với hầu hết các huyện trong tỉnh

Tuyến

Lộ trình

Độ dài (km)

Số điểm dừng

T1

Trần Quý Cáp - Chợ Dinh - Phú Tài - Suối Mơ

21.4

36

T2

Chợ Lớn - Bến xe - Phú Tài - Phước Mỹ  

23 

46

T3

Chợ Lớn - Tuy Phước - Diêu Trì - Phú Tài 

26,8

52

T4

Khu 1 - Diêu Trì - Bình Định - Đập Đá - Gò Găng

35

68

T6

Chợ Lớn - Tuy Phước - Tây Sơn - Cầu 16 

60,3

85

T6B

Cầu 16 - Tỉnh lộ 637 - Định Bình - Vĩnh Thạnh - Vĩnh Hảo

20

32

T7

Quy Nhơn - Tuy Phước - Gò Bồi - Cát Tiến 

43

67 

T8

Siêu Thị Quy Nhơn – Diêu Trì – Vân Canh

44

69

T9

Siêu Thị Quy Nhơn - An Nhơn - Phù Cát - Phù Ly

48

60 

T10

Siêu thị Quy Nhơn - Nhơn Hội - Cát Tiến - Đề Gi 

50

T11

Siêu Thị Quy Nhơn - Bãi Xếp - Sông Cầu - Chí Thạnh (Phú Yên)

68,5

110

T12

Siêu Thị Quy Nhơn - Diêu Trì - Phù Cát - Phù Mỹ - Bồng Sơn- Tam Quan 

114

170

T13

Bệnh viện Bồng Sơn - Tỉnh lộ 629 - Thị Trấn An Lão

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc biển Quy Nhơn

Quy Nhơn có cảng Quy Nhơn, cảng Thị Nại, Cảng Đống Đa và Cảng nước sâu Nhơn Hội. Hệ thống Cảng Quy Nhơn là hệ thống cảng lớn nhất của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Cảng Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là cảng loại 1 và đang trên đà phát triển mạnh mẽ với vị trí luôn nằm trong top 3 lượng hàng hóa lưu thông qua Cảng, chỉ đứng sau Cảng Sài Gòn và Cảng Hải Phòng. Năm 2013 tổng lượng hàng qua hệ thống cảng Quy Nhơn là 12.294.354 tấn(Cao nhất khu vực Miền Trung. Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng hàng hóa qua hệ thống Cảng Quy Nhơn là 20 - 25 triệu tấn.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Ga Quy Nhơn nằm ngay trung tâm thành phố, là một nhánh của tuyến đường sắt Bắc-Nam hướng từ ga Diêu Trì. Ga không phải là ga lớn, chủ yếu vận chuyển hành khách và hàng hóa lên đến ga chính là ga Diêu Trì. Tuy nhiên, hiện nay ngành đường sắt đã đưa vào sử dụng đôi tàu địa phương SQN1/2 Golden Train chạy từ ga Quy Nhơn đến ga Sài Gòn và ngược lại hàng ngày giúp người dân thuận tiện hơn trong việc đi tàu. Vào các dịp cao điểm như lễ, tết hoặc hè, một số đôi tàu nhanh khác cũng được vào sử dụng tại ga như Quy Nhơn - Nha Trang, Quy Nhơn - Vinh. Tại đây còn bán vé Tàu Thống Nhất và tàu khách địa phương

Đường Hàng Không[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động với Phi trường Quốc tế Phù Cát là một trong những sân bay lớn và có các tiêu chí kỹ thuật tốt nhất của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên và có khả năng tiếp nhận các máy bay loại lớn như Airbus A330, Boeing 737, Boeing 777.

Các đường bay đang khai thác:

  • Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 28 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
  • Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Hà Nội - Quy Nhơn với tần suất 14 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
  • Vietjet Air: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 14 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 320 Sharklet và mỗi chuyến một ngày tuyến Hà Nội-Quy Nhơn từ 24/4/2014.
  • Vietjet Air: Chặng Quy Nhơn - Đà Nẵng - Quy Nhơn với tần suất 7 chuyến/tuần.
  • Jetstar Pacific Airlines: Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh với tần suất mỗi ngày một chuyến.

Nâng cấp sân bay Phù Cát thành sân bay quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV) đã quyết định đầu tư nâng cấp Sân bay Phù Cát theo hướng sẽ trở thành Cảng hàng không quốc tế với 3 hạng mục chính: mở rộng sân đỗ, xây dựng mới Nhà ga hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế và nâng cấp đường băng.

Theo thiết kế, Nhà ga hành khách gồm 2 tầng, lấy ý tưởng thiết kế từ hình ảnh của Đàn Nam Giao. Tầng 1 có hình vuông tượng trưng cho Đất, tầng 2 có hình tròn tượng trưng cho Trời, ở giữa nhà ga có khoảng trống hình tròn thông suốt từ tầng trệt lên mái nhà ga để hấp thụ trực tiếp ánh sáng và khí trời.

Trên mái của tầng 1 sẽ trồng cỏ và cây xanh làm cho nhà ga mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, đồng thời tạo cảnh quan và không gian xanh mát cho nhà ga.

Nhà ga hành khách có năng lực phục vụ 600 hành khách giờ cao điểm, công suất thiết kế 2,5 triệu hành khách/năm, có khả năng mở rộng để nâng công suất lên 4 triệu hành khách/năm; dự kiến Nhà ga hành khách sẽ được hoàn thành, đưa vào khai thác trước Tết Nguyên đán năm 2016.

Sau khi mở rộng sân đậu, sân bay Phù Cát sẽ đảm bảo 10 vị trí đậu máy bay A321-200 và tương đương (tăng 3 vị trí so với hiện nay), đáp ứng nhu cầu khai thác trong thời gian tới. Hệ thống đèn chiếu sáng sân đỗ, đèn hiệu được đầu tư bổ sung, đảm bảo Cảng hàng không Phù Cát có thể khai thác các chuyến bay đêm trong tương lai gần.

Việc mở rộng sân đỗ máy bay đảm bảo kết nối đồng bộ với hệ thống sân đường khu bay đã tính đến việc phát triển mở rộng sân đỗ trong tương lai. Đặc biệt, trong quá trình thi công, sân bay Phù Cát vẫn đảm bảo tiếp nhận được các máy bay. Dự kiến, dự án này sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác ngay trong năm nay.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống các trường tiểu học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Tiểu học Ngô Quyền
  • Trường Tiểu học Bùi Thị Xuân
  • Trường Tiểu học Nguyễn Khuyến
  • Trường Tiểu học Nhơn Phú 1
  • Trường Tiểu học Nhơn Phú 2
  • Trường Tiểu học Số 1 Nhơn Bình
  • Trường Tiểu học Số 2 Nhơn Bình
  • Trường Tiểu học Đống Đa
  • Trường Tiểu học Trần Quốc Toản
  • Trường Tiểu học Hoàng Quốc Việt
  • Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo
  • Trường Tiểu học Hải Cảng
  • Trường Tiểu học Lê Lợi
  • Trường Tiểu học Lê Hồng Phong
  • Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt
  • Trường Tiểu học Trần Phú
  • Trường Tiểu học Ngô Mây
  • Trường Tiểu học Nguyễn Văn Cừ
  • Trường Tiểu học Quang Trung
  • Trường Tiểu học Kim Đồng
  • Trường Tiểu học Nhơn Lý
  • Trường Tiểu học Trần Quốc Tuấn
  • Trường Tiểu học Nhơn Hải
  • Trường Tiểu học Phước Mỹ
  • Trường Tiểu học Âu Cơ
  • Trường Tiểu học Nhơn Hội

Hệ thống các trường THCS[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường THCS Bùi Thị Xuân
  • Trường THCS Nhơn Phú
  • Trường THCS Nhơn Bình
  • Trường THCS Đống Đa
  • Trường THCS Tây Sơn
  • Trường THCS Trần Hưng Đạo
  • Trường THCS Hải Cảng
  • Trường THCS Lê Lợi
  • Trường THCS Lương Thế Vinh
  • Trường THCS Lê Hồng Phong
  • Trường THCS Ngô Mây
  • Trường THCS Quang Trung
  • Trường THCS Nhơn Lý
  • Trường THCS Nhơn Hội
  • Trường THCS Nhơn Hải
  • Trường THCS Ngô Văn Sở
  • Trường THCS Nguyễn Huệ
  • Trường THCS Ghềnh Ráng
  • Trường THCS Trần Quang Diệu
  • Trường THCS Phước Mỹ
  • Trường PTCS Nhơn Châu

Hệ thống các trường THPT[sửa | sửa mã nguồn]

Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn
  • Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (Trường chuyên của tỉnh Bình Định)
  • Trường THPT Ischool Quy Nhơn
  • Trường THPT Quốc Học (trường chọn của thành phố)
  • Trường THPT Trưng Vương
  • Trường THPT Hùng Vương
  • Trường THPT Trần Cao Vân
  • Trường THPT Nguyễn Thái Học
  • Trường THPT Quy Nhơn
  • Trường THPT Dân tộc Nội Trú Tỉnh

Hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Cao đẳng Bình Định
  • Trường Chính trị tỉnh Bình Định
  • Trường Công nhân Kỹ thuật LN TW2
  • Trường Đại học Quang Trung
  • Trường Đại học Quy Nhơn
  • Trường Hậu cần KTT Quân đoàn 3
  • Trường Cao đẳng Nghề Quy Nhơn
  • Trường Kỹ thuật Q. Phòng Ô Tô QK5
  • Trường Năng Khiếu Thể dục Thể thao Bình Định
  • Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh Bình Định
  • Trường Cao đẳng Y tế Bình Định
  • Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Xây dựng và Nông Lâm Trung bộ

Dự án Trường Quốc tế Việt Nam - Singapore (SVIS) và Trường Giáo dục kỹ năng sống Outward Bound Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đoàn Giáo dục quốc tế KinderWorld (Singapore) sẽ xây dựng Trường Quốc tế Việt Nam - Singapore (SVIS) rộng khoảng 5 ha tại khu Đô thị - Thương mại Bắc sông Hà Thanh, TP. Quy Nhơn, dành cho học sinh mọi lứa tuổi - từ mẫu giáo đến lớp 12 và Trường Giáo dục kỹ năng sống Outward Bound Việt Nam rộng 41,2 ha tại Khu du lịch Tân Thanh thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội (TP. Quy Nhơn).

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh viện Chuyên khoa lao tỉnh Bình Định
  • Bệnh viện Đa khoa thành phố Quy Nhơn
  • Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
  • Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà
  • Bệnh viện Quân y 13
  • Bệnh viện Tâm thần Bình Định
  • Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Bình Định
  • Bệnh viện mắt Bình Định
  • Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn

Danh lam thắng cảnh - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VIỆT NAM

    8 Di sản thế giới tại Việt Nam: Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Quần thể danh thắng Tràng An

    46 Khu du lịch quốc gia: Cao nguyên đá Đồng Vănthác Bản GiốcMẫu SơnBa BểTân TràoNúi CốcSa PaThác BàĐền HùngMộc ChâuĐiện Biên Phủhồ Hòa BìnhHạ Long-Cát BàVân ĐồnTrà CổCôn Sơn-Kiếp BạcBa Vì-Suối Hai • Làng VH-DL các dân tộc VN • Tam ĐảoTràng AnTam ChúcKim LiênThiên CầmPhong Nha-Kẻ Bàng • Lăng Cô-Cảnh DươngBà NàCù Lao ChàmMỹ KhêPhương MaiVịnh Xuân Đài • Bắc Cam RanhNinh ChữMũi NéMăng ĐenTuyền LâmĐan Kia-Suối VàngYokđônnúi Bà ĐenCần GiờLong Hải-Phước HảiCôn ĐảoThới SơnPhú QuốcNăm CănXứ sở hạnh phúc.

    40 điểm du lịch quốc gia: Tp Lào CaiPắc BóTp Lạng SơnMai ChâuHoàng thành Thăng LongYên TửTp Bắc NinhChùa HươngCúc PhươngVân LongPhố HiếnĐền Trần-Phủ GiầyThành nhà Hồ • KDT Nguyễn Du • Ngã ba Đồng LộcTp Đồng Hớithành cổ Quảng TrịBạch MãNgũ Hành SơnMỹ SơnLý SơnTrường LũyTrường SaPhú QuýNgã ba Đông DươngHồ Ya LyHồ LắkTx Gia NghĩaTà ThiếtTW Cục miền NamCát TiênHồ Trị AnCủ ChiLáng SenTràm ChimNúi SamCù lao Ông HổTp Cần ThơTx Hà Tiên • KDT Cao Văn Lầu.

    24 trung tâm du lịch: Sơn La, Điện BiênLào CaiPhú ThọThái Nguyên, Lạng SơnHà GiangHà NộiNinh BìnhQuảng Ninh, Hải PhòngThanh HóaNam Nghệ An, Bắc Hà TĩnhQuảng Bình, Quảng TrịĐà Nẵng, Quảng NamBình Định, Phú Yên, Khánh HòaBình ThuậnĐà LạtĐắk LắkGia Lai, Kon TumThành phố Hồ Chí MinhTây NinhVũng TàuTiền Giang, Bến TreCần Thơ, Kiên GiangĐồng Tháp, An GiangCà Mau.

    12 đô thị du lịch: Sa Pa, Đồ Sơn, Hạ Long, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết, Đà lạt, Vũng Tàu
    7 Vùng du lịch: Trung du và miền núi phía BắcĐồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông BắcBắc Trung BộDuyên hải Nam Trung BộTây NguyênĐông Nam BộTây Nam Bộ.

Tháp Đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Tháp Đôi, Quy Nhơn.

Tháp Đôi là khu tháp của Chăm Pa gồm có hai tháp là tháp phía bắc và tháp phía nam cạnh nhau, hiện nay nằm trên đường Trần Hưng Đạo, thuộc phường Đống Đa, cách trung tâm Quy Nhơn 3 km. Tháp Đôi còn có tên gọi khác là tháp Hưng Thạnh, gồm hai tháp đứng song song với nhau, một tháp cao 20 m và tháp kia cao 18 m. Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Quanh tường phía ngoài, các nóc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú theo tín ngưỡng của người Chăm. Tháp đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá nặng nề. Từ năm 1991 đến năm 1997, tháp được trùng tu, gần như nguyên vẹn. Ngày nay, Tháp Đôi là điểm tham quan du lịch của du khách khi đến Quy Nhơn.

Chùa Long Khánh[sửa | sửa mã nguồn]

Toạ lạc ở số 141 Trần Cao Vân, được xây dựng vào cuối thế kỷ 18. Chùa Long Khánh là nơi truyền bá tín ngưỡng Phật giáo trong vùng bấy giờ. Chùa do hoà thượng Đức Sơn (người Trung Quốc) sáng lập. Hiện chùa còn lưu giữ hai vật quý: Thái Bình hồng chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm 1805 triều vua Gia Long. Tấm dấu biểu trưng Long Khánh Tự được in vào năm 1813 triều vua Gia Long.

Chùa Sơn Long[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Sơn Long nay thuộc phường Nhơn Bình,cách cầu Trường Úc 700m về hướng đông.Kiến trúc chùa có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi. Tương truyền dưới chân núi phía sau chùa xưa có tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới có một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Tảng đá đó có tên gọi là đá Hàm Long, nay không còn nữa. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có những mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan Âm ở hướng tây. Năm 1996, xây tượng Thích ca Mâu Ni tọa thiền phía tây bắc,...mang lại sắc khí mới cho chùa.

Đến Sơn Long, du khách còn được chiêm ngưỡng tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn,cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức tượng xác định là của người Chăm tạc từ thế kỷ XIII. Dù dáng vẻ còn khiêm tốn nhưng chùa Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm,vãn cảnh,...đặc biệt là vào dịp đầu năm mới.

Ghềnh Ráng Tiên Sa[sửa | sửa mã nguồn]

Bãi Đá Trứng

Nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3 km về hướng đông nam [17]. Thắng cảnh Gềnh Ráng trải dài dọc bờ biển, uốn lượn hàng cây số, nước biển trong xanh. Nơi đây có bãi Đá Trứng (với vô số hòn đá tròn nhẵn như trứng chim khổng lồ) là quần thể sơn thạch còn gọi là Bãi tắm Hoàng Hậu (Hoàng hậu Nam Phương từng đến tắm ở đây), dấu vết tận cùng phía đông của dãy núi Xuân Vân. Ngoài ra, nơi đây còn mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử nằm trên đồi Thi Nhân và Lầu Bảo Đại (một nhà nghỉ ba tầng, mặt hướng ra biển, đã bị phá hủy trong chiến tranh).[18]

Vượt qua đỉnh dốc Mộng Cầm, rẽ vào con đường dốc bậc thang sẽ là nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, với khuôn viên rừng dương thoáng đãng và gió biển xào xạc thanh tịnh bên tai. Do mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo, ông đã phải sống những năm tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa, rồi qua đời khi mới vừa 28 tuổi và đã để lại những áng thơ bất hủ cho đời. Để thỏa nguyện mong ước của thi sỹ lúc sinh thời, năm 1969, gia đình và thân hữu đã đưa thi hài ông về táng ở Ghềnh Ráng. Ngôi mộ được xây cất trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển là nơi mà ai ai dù chỉ một lần đặt chân đến Ghềnh Ráng cũng đều ghé thăm.

Biển Quy Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh biển Quy hòa có bệnh viện phong Quy Hòa, khá đơn sơ mộc mạc nhưng có lẽ vì vậy mà nơi đây cho ta cảm giác mộc mạc, thanh thản.

Cầu Thị Nại[sửa | sửa mã nguồn]

Quy Nhơn có cầu vượt Thị Nại là cây cầu vượt biển lớn nhất nước (dài 3.477,3 m, rộng 24,5 m, trọng tải 100 tấn gồm 54 nhịp, tổng vốn đầu tư là 1500 tỷ đồng). Nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội là dài gần 17 km nối thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai (khu kinh tế Nhơn Hội), gồm cầu chính vượt đầm Thị Nại, 5 cầu nhỏ qua sông Hà Thanh và đường dẫn 2 đầu cầu. Cầu được xây dựng trong 5 năm, khánh thành ngày 12/12/2006.

Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn (còn có danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh...

Làng chài Hải Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Ráng chiều Hải Minh

Một làng chài nằm trên bán đảo Phương Mai thuộc khu vực 9, phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn. Làng chài nhỏ, tĩnh lặng và đẹp diệu kỳ khi ráng chiều buông xuống. Làng nằm trên bán đảo cách bến Hàm Tử gần trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 15 phút đi đò.

Làng chài rất gần, nhưng cũng vừa đủ xa để những ai thích làm một chuyến dã ngoại trong ngày chọn nơi đây làm điểm đến. Với các di tích và cảnh đẹp như tượng đài Đức Thánh Trần (di tích cấp tỉnh), phế tích núi Tam Tòa (di tích cấp quốc gia), chùa Hải Long, hải đăng Phước Mai, đầm Thị Nại, hang Dơi, bãi Rạng,...

Eo Gió[sửa | sửa mã nguồn]

Eo Gió nằm trên bán đảo Phương Mai, cách trung tâm TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định khoảng 20 km về hướng Đông Bắc. Sở dĩ gọi Eo Gió vì nơi đây có hình dạng cái hõm như yên ngựa, nằm giữa hai mỏm núi cao kề bên biển.

Có lẽ bất kỳ ai đến Eo Gió lần đầu đều không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy những rặng núi đá cao chót vót, chập chùng với những hang động kỳ vĩ, đàn chim én lượn chao quanh.

Eo Gió đẹp theo kiểu hoang sơ bởi những rặng núi có hình thù kỳ lạ vươn ra biển lớn, ôm trọn một vòng tạo thành một eo biển hút gió. Sóng biển vỗ rì rào thay nhau vờn chân núi, nhè nhẹ vào vách đá. Trong lòng Eo Gió, một bãi biển cát vàng khá rộng, sóng êm êm khiến bạn như thả trôi mình vào thiên nhiên.

Nhìn xa xa, phía trước bãi biển, những cụm đảo mang nhiều hình thù kỳ lạ lô nhô trên mặt nước. Bên vách núi, những hang động với cái tên rất ngộ nghĩnh: hang Kỳ Co, hang Ba Nghé… thu hút rất nhiều chim yến đến đây sinh sống.

Dọc theo chân núi, những bãi đá trứng đủ màu sắc, nhẵn thín xen lẫn những tảng đá lớn, bằng phẳng như mặt bàn giúp cho bạn ngồi chơi hay ngả lưng nghỉ sức sau khi dạo chơi, vãn cảnh.

Đến Eo Gió, bạn phải leo 1 giờ lên đỉnh núi cao chót vót mới chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp kỳ vĩ của đất trời. Đường lên đỉnh tuy gập ghềnh, khó đi nhưng bù lại cho bạn cảm giác bồng bềnh, khó tả khi nhìn Eo Gió dưới chân mình hiện ra như một chiếc tàu cá chuẩn bị lao ra biển lớn. Nếu soi ống nhòm, bạn có thể thấy rõ những rặng san hô trong nước xanh trong vắt, xung quanh là những đàn cá tung tăng bơi lội.

Hải đăng cổ Cù Lao Xanh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu nhà của quan ba Pháp: Cạnh ngọn hải đăng là nhà làm việc hai tầng, đã được xây từ hơn 100 năm trước [cần dẫn nguồn]. Từ đây nhìn được toàn bộ khu vực đảo và chiêm ngưỡng được toàn cảnh biển bao la phía xa, trong lòng chợt phóng khoáng như một câu thơ: "Muốn nhìn xa nghìn dặm, lên nữa một tầng lầu".

Men xuống theo hướng Tây Bắc của ngọn hải đăng là Suối Giếng Tiên. Tên suối này xuất phát từ một tương truyền rằng, xưa kia vào những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống đây để du ngoạn. Các nàng tiên rủ nhau cởi xiêm áo, tắm mát và vui đùa rồi mới bay trở về trời. Có dịp tới đây, bạn nên một lần tắm "tiên", cảm được cái mằn mặn của biển và cái ngòn ngọt của nước suối.

Đảo Yến Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Gọi là “đảo” nhưng thực ra xứ sở của loài chim yến nằm trên địa phận bán đảo Phương Mai. Dãy Triều Châu ăn ra biển, trãi dài chừng 15 km, tạo thành những ngọn núi nhấp nhô, trùng điệp với tên gọi thật ngộ nghĩnh: Hòn Mai, hòn Chóp Vung, núi Cột Cờ, Núi Đen… và trong số đó, ngọn núi án ngữ phía nam mang tên Hòn Yến. Cứ mỗi mùa xuân đến, tiết trời ấm áp, chim yến rủ nhau tưng đàn đông nghịt đến đây làm tổ.

Đặc sản ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản của Quy Nhơn có món bún chả cá. Đây là món bún ngon không chỉ người dân trong tỉnh thích mà cả nước dường như mọi người vẫn xem đây là món khoái khẩu của mình.

Các tuyến đường, phố chính ở Quy Nhơn[sửa | sửa mã nguồn]

Những tuyến đường từ thời Pháp thuộc đến trước ngày giải phóng 30/4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường Gia Long (Nay là đường Trần Hưng Đạo)
  • Đường Oden d’Hall (Nay là đường Nguyễn Huệ)
  • Đường Võ Tánh (Nay một phần là đường Lê Hồng Phong)
  • Đường Khải Định (Nay là đường Lê Lợi)
  • Đường Jules Ferry (Nay là đường Phan Bội Châu)
  • Đường Ngô Tùng Châu (Nay là đường Nguyễn Trãi)
  • Đường Trần Cao Vân (Nay là đường Trần Cao Vân)
  • Đường Triệu Ẩu (Nay là đường Bà Triệu)
  • Đường Đoàn Thế Khuyến (Nay là đường Vũ Bảo)
  • Đường Lê Văn Duyệt (Nay là đường Biên Cương)
  • Đường Bạch Đằng (Nay là đường Đống Đa)
  • Đường Lê Thánh Tôn
  • Đường Nguyễn Du
  • Đường Nguyễn Công Trứ
  • Đường Huyền Trân

Những tuyến đường, phố thời nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại lộ Nguyễn Tất Thành
  • Đại lộ An Dương Vương
  • Đường Lạc Long Quân
  • Đường Âu Cơ
  • Đường Hùng Vương
  • Đường Trần Hưng Đạo
  • Đường Tây Sơn
  • Đường Hoàng Văn Thụ
  • Đường Nguyễn Thái Học
  • Đường Võ Nguyên Giáp
  • Đường Lê Hồng Phong
  • Đường Nguyễn Huệ
  • Đường Xuân Diệu
  • Đường Tăng Bạt Hổ
  • Đường Trần Cao Vân
  • Đường Lê Lợi
  • Đường Trần Phú
  • Đường Phan Chu Trinh
  • Đường Hai Bà Trưng
  • Đường Lê Thánh Tôn
  • Đường Phan Bội Châu
  • Đường Bạch Đằng
  • Đường Đống Đa
  • Đường Diên Hồng
  • Đường Ngô Mây
  • Đường Nguyễn Thị Minh Khai
  • Đường Phan Đình Phùng
  • Đường Ỷ Lan
  • Đường Lê Văn Hưu
  • Đường Lê Đức Thọ
  • Đường Hà Huy Tập
  • Đường Lê Duẩn
  • Đường Nguyễn Lữ
  • Đường Hàm Nghi
  • Đường Thanh Niên
  • Đường Thành Thái
  • Đường Xuân Thủy
  • Đường Đào Tấn
  • Đường Điện Biên Phủ
  • Đường Lê Thanh Nghị
  • Đường Tố Hữu
  • Đường Huỳnh Tấn Phát
  • Đường Nguyễn Thị Định
  • Đường Lý Thái Tổ
  • Đường Tô Hiến Thành
  • Đường Mai Xuân Thưởng
  • Đường Đô Đốc Bảo
  • Đường Trần Thị Kỷ
  • Đường Hoa Lư
  • Đường Trung tâm
  • Đường Võ Thị Sáu
  • Đường Nguyễn Trọng Trí
  • Đường Nguyễn Du
  • Đường Ngô Quyền
  • Đường Bà Triệu
  • Đường Ngô Gia Tự
  • Đường Chương Dương
  • Đường Hàn Mặc Tử
  • Đường Phạm Hồng Thái
  • Đường Võ Văn Tần
  • Đường Hoàng Quốc Việt
  • Đường Hoàng Hoa Thám
  • Đường Huỳnh Thúc Kháng
  • Đường Đào Duy Từ
  • Đường Đặng Văn Ngữ
  • Đường Lưu Hữu Phước
  • Đường Trần Đức
  • Đường Đinh Bộ Lĩnh
  • Đường Trần Bình Trọng
  • Đường 31 tháng 3
  • Đường Phạm Ngọc Thạch
  • Đường Cần Vương
  • Đường Nguyễn Trung Trực
  • Đường Chương Dương
  • Đường Chế Lan Viên
  • Đường Bế Văn Đàn
  • Đường Đặng Văn Chấn
  • Đường Trần Anh Tông
  • Đường Nguyễn Dữ
  • Đường Bùi Xuân Phái
  • Đường Lê Đình Lý
  • Đường Thoại Ngọc Hầu
  • Đường Bà Huyện Thanh Quan
  • Đường Sư đoàn 3 Sao Vàng
  • Đường Bình Hà (Viết tắt từ hai tỉnh Bình Định và Hà Tĩnh)

Tỉnh, Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài nước[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ”. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tháng 6 năm 2010. tr. 23. 
  2. ^ Tâm Ngọc (9 tháng 10 năm 2015). “Quy Nhơn được bình chọn là điểm đến hàng đầu Đông Nam Á”. Thanh Niên. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ “Vietnam - Qui Nhoi”. Centro de Investigaciones Fitosociológicas. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  4. ^ “Station 48870: Quy Nhon”. Global station data 1961–1990—Sunshine Duration. Deutscher Wetterdienst. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ Station ID for Quy Nhon is 48870
  6. ^ “QUI NHON, VIETNAM”. weatherbase. Canty and Associates LLC. 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2012. 
  7. ^ Quyết định 127-CP năm 1979 điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  8. ^ Quyết định 80-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  9. ^ Quyết định 81-HĐBT năm 1986 về việc mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình
  10. ^ Quyết định 52-HĐBT năm 1987 về việc chia xã Nhơn Thạnh thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Nghĩa Bình
  11. ^ Nghị quyết về việc phân vạch đại giới hành chính của các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên do Quốc hội ban hành
  12. ^ Nghị định 118/1997/NĐ-CP về việc thành lập một số phường thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  13. ^ Nghị định 70/1998/NĐ-CP về việc thành lập các phường thuộc thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  14. ^ Nghị định 143/2005/NĐ-CP về việc mở rộng thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
  15. ^ Quyết định 558/QĐ-TTg năm 1998 về việc công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  16. ^ Quyết định 159/QĐ-TTg năm 2010 công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Bình Định do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  17. ^ Theo Thùy Linh - Việt Trinh, Di tích và lịch sử văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, 2011, tr. 476.
  18. ^ Xem chi tiết thắng cảnh Gành Ráng Tiên Sa trên báo Bình Định truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008 [1].

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]