Thái Bình Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Năm đại dương của Trái Đất
Thái Bình Dương trên bản đồ thế giới

Thái Bình Dương (theo tiếng Latinh: Mare Pacificum, được đặt tên bởi nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan), là đại dương lớn nhất thế giới, bao phủ một phần ba bề mặt Trái Đất, với diện tích 178,684 triệu km² (69,4 triệu mi2). Nó trải dài khoảng 15,500 km (9,600 dặm) từ biển Bering trong vùng Bắc cực đến gần biển Ross của Nam cực (mặc dù đôi khi khu vực ven châu Nam Cực được gọi là Nam Đại Dương). Thái Bình Dương có chiều rộng đông - tây lớn nhất tại vĩ tuyến 5°B, nơi nó trải dài 19,800 km (12,300 mi) từ Indonesia đến bờ biển Colombia. Ranh giới phía tây của biển này thường được đặt tại eo biển Malacca. Điểm thấp nhất Trái Đất tại vực Mariana nằm ở độ sâu 11034 m dưới mặt nước.

Lịch sử khám phá[sửa | sửa mã nguồn]

Các cuộc di cư ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Maris Pacifici của Ortelius (1589), một trong những bản đồ in đầu tiên mô tả Thái Bình Dương; xem thêm: bản đồ Waldseemüller (1507).[1]
Tàu sân bay USS Lexington chịu sự không kích trong Trận chiến biển Coral, 8 tháng 5 năm 1942

Các cuộc di cư quan trọng diễn ra vào thời tiền sử. Khoảng năm 3000 trước công nguyên, những người Austronesia trên đảo Đài Loan đã làm chủ được những chuyến đi đường dài bằng xuồng và họ đã truyền bá bản thân và ngôn ngữ của mình xuống phía Nam đến Philippines, Indonesia, và Đông Nam Á hải đảo; về phía Tây đến Madagascar; phía Đông Nam đến New GuineaMelanesia; và phía Đông đến quần đảo Micronesia, Châu Đại DươngPolynesia.[2]

Thương mại đường dài phát triển dọc khắp các vùng duyên hải từ Mozambique đến Nhật Bản. Hoạt động buôn bán, đi kèm với đó là tri thức, đã vươn tới quần đảo Indonesia nhưng có vẻ như chưa đến Australia. Ít nhất vào khoảng năm 878, thời điểm xuất hiện một khu người Hồi giáo định cư ở Quảng Châu, hoạt động thương mại khi đó đa phần nằm dưới sự kiểm soát của người Hồi giáo và Ả rập.

Sự khám phá của người châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Thái Bình Dương trong thời kỳ thăm dò của người châu Âu, khoảng 1702–1707.
Bản đồ Thái Bình Dương trong thời kỳ thăm dò của người châu Âu, khoảng 1754.

Lần tiếp xúc đầu tiên của những nhà thám hiểm châu Âu với rìa Tây Thái Bình Dương là chuyến đi của đoàn thám hiểm người Bồ Đào Nha đến quần đảo Maluku vào năm 1512 do António de AbreuFrancisco Serrão dẫn đầu,[3][4] tiếp theo là cuộc thám hiểm đến vùng Hoa Nam của Jorge Álvares năm 1513,[5] cả hai đều thực hiện theo lệnh của Afonso de Albuquerque.

Phần Đông Thái Bình Dương được khám phá bởi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Vasco Núñez de Balboa vào năm 1513 sau chuyến đi vượt eo đất Panama tới đại dương mới.[6] Ông đã đặt tên cho nó là Mar del Sur (nghĩa đen: "Nam Hải" hay "Biển phương Nam") vì vùng biển này nằm ở phía Nam của eo đất, địa điểm mà ông quan sát nó lần đầu.

Sau này, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đã dẫn đầu chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới bằng thuyền của người Tây Ban Nha khởi hành vào năm 1519. Magellan gọi đại dương này là Pacífico (yên bình), lý do bởi đoàn thám hiểm thấy đây là nơi có thời tiết đẹp sau khi họ từng trải qua những vùng biển giông tố gần Cape Horn. Để vinh danh Magellan, tên gọi Biển Magellan thường được sử dụng để chỉ đại dương này cho tới thế kỷ thứ 18.[7] Sau sự kiện Magellan thiệt mạng tại Philippines năm 1521, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Juan Sebastián Elcano đã dẫn đầu đoàn di chuyển vượt Ấn Độ DươngMũi Hảo Vọng quay trở về quê hương, qua đó hoàn thành chuyến hành trình vòng quanh thế giới lần đầu tiên vào năm 1522.[8] Trong giai đoạn 1525–1527, quần đảo CarolinePapua New Guinea được khám phá sau các chuyến thám hiểm đường biển của người Bồ Đào Nha vòng quanh và phía Đông quần đảo Maluku.[9][10] Những người Bồ Đào Nha cũng đã đến Nhật Bản vào các năm 1542–43.[11]

Năm 1564, Miguel López de Legazpi dẫn đầu một chuyến hành trình bao gồm năm con tàu Tây Ban Nha chở 379 nhà thám hiểm vượt đại dương từ Mexico đến Philippinesquần đảo Mariana.[12] Trong giai đoạn còn lại của thế kỷ 16, vai trò của người Tây Ban Nha là tối quan trọng, với những chuyến tàu khởi hành từ MexicoPeru vượt Thái Bình Dương, qua Guam đến Philippines, hình thành nên Đông Ấn Tây Ban Nha. Trong vòng hai thế kỷ rưỡi, những chiếc thuyền buồm Manila đã kết nối ManilaAcapulco qua một trong những tuyến đường giao thương dài nhất lịch sử. Bên cạnh đó, các cuộc thám hiểm của người Tây Ban Nha còn khám phá ra các quần đảo ở Nam Thái Bình Dương như Tuvalu, quần đảo Marquises, quần đảo Cook, quần đảo Solomon, và quần đảo Admiralty.[13]

Sau này, trong công cuộc tìm kiếm Terra Australis (vùng đất [lớn] phía Nam), những nhà thám hiểm người Tây Ban Nha thế kỷ 17 đã khám phá ra quần đảo PitcairnVanuatu; và họ đã chèo thuyền qua eo biển Torres nằm giữa Australia và New Guinea. Các nhà thám hiểm Hà Lan cũng tham gia vào hoạt động thương mại và khám phá; vào năm 1942 Abel Janszoon Tasman phát hiện ra TasmaniaNew Zealand.[14]

Trong hai thế kỷ 16 và 17 người Tây Ban Nha đã nhận định Thái Bình Dương là một Mare clausum (nghĩa đen: biển kín), với chỉ duy nhất một lối vào từ Đại Tây Dương được biết đến đó là eo biển Magellan. Thời điểm đó eo biển này đặt dưới sự tuần tra của các hạm đội được cử đến để ngăn chặn sự xâm nhập của các con tàu không phải Tây Ban Nha. Ở Tây Thái Bình Dương, người Hà Lan đe dọa đến Philippines khi đó đang là thuộc địa của Tây Ban Nha.[15]

Giai đoạn thế kỷ 18 đánh dấu sự khởi đầu các chuyến thám hiểm lớn của người Nga ở Alaskaquần đảo Aleutian. Tây Ban Nha cũng cử các đoàn thám hiểm đến Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ và họ đã tới được đảo Vancouver thuộc miền Nam Canada cũng như Alaska. Người Pháp khai phá và định cư ở Polynesia, còn người Anh thì thực hiện ba chuyến du hành với sự tham gia của James Cook đến Nam Thái Bình Dương, Australia, Hawaii, và Tây Bắc Thái Bình Dương thuộc Bắc Mỹ. Vào năm 1768, nhà thiên văn học trẻ Pierre-Antoine Véron đã cùng với Louis Antoine de Bougainville thực hiện một chuyến hành trình khám phá, qua đó lần đầu tiên trong lịch sử thiết lập được bề rộng của Thái Bình Dương một cách chính xác.[16] Cuộc thám hiểm Malaspina là một trong những chuyến hành trình khám phá khoa học đầu tiên do người Tây Ban Nha thực hiện từ 1789 đến 1794. Họ đã đi qua hầu khắp Thái Bình Dương, từ Cape Horn tới Alaska, Guam, Philippines, New Zealand, Australia, và Nam Thái Bình Dương.[13]

Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc mới[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu lặn Trieste trước chuyến hành trình xuống đáy Rãnh Mariana, 23 tháng 1 năm 1960

Sự lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn thế kỷ 19 dẫn đến việc hầu khắp châu Đại Dương trở nên chịu sự chiếm đóng của các cường quốc châu Âu, và tiếp sau đó là MỹNhật Bản. Kho tri thức về hải dương học được đóng góp đáng kể nhờ các chuyến hành trình của tàu HMS Beagle có sự tham gia của Charles Darwin vào thập niên 1830; của tàu USS Tuscarora (1873–76); và tàu Gazelle của Đức (1874–76).

Dupetit Thouars tiếp quản Tahiti, 9 tháng 9 năm 1842.

Pháp trở thành đế quốc có vị thế hàng đầu ở châu Đại Dương sau khi lần lượt biến TahitiNew Caledonia thành các vùng bảo hộ vào năm 1842 và 1853.[17] Sau các chuyến thăm quan đảo Phục Sinh vào các năm 1875 và 1887 thì đến năm 1888, sĩ quan hải quân người Chile Policarpo Toro đã tiến hành đàm phán với thổ dân Rapanui về vấn đề sát nhập hòn đảo này vào Chile. Với việc chiếm đóng đảo Phục Sinh, Chile đã gia nhập nhóm các nước đế quốc.[18](p53) Cho đến năm 1900, hầu như toàn bộ các đảo trên Thái Bình Dương đã nằm dưới sự quản lý của các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản và Chile.[17]

Mặc dù Mỹ đã nắm quyền kiểm soát GuamPhilippines từ tay Tây Ban Nha vào năm 1898,[19] nhưng tới năm 1914 Nhật Bản mới là quốc gia chủ quản của hầu khắp vùng Tây Thái Bình Dương, rồi tiếp đó họ chiếm đóng thêm rất nhiều đảo trong Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, Nhật đã thất bại trong cuộc chiến, dẫn tới thế độc tôn của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ trên đại dương này. Kể từ sau Thế chiến thứ hai, rất nhiều thuộc địa trước đây ở Thái Bình Dương đã trở thành các quốc gia độc lập.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng hôn trên Thái Bình Dương nhìn từ ISS.

Thái Bình Dương bao phủ gần 1/3 bề mặt của Trái với diện tích 179,6 triệu km2 lớn hơn nhiều so với toàn bộ lục địa của Trái Đất. Kéo dài khoảng 15,500 km (9,600 mi) từ biển BeringBắc Cực đến Nam Băng Dương tại 60°N (các định nghĩa cũ cho rằng nó kéo dài đến biển Ross của Nam Cực), nơi rộng nhất theo hướng đông tây là vĩ độ 5°B, khoảng 19,800 km (12,300 mi) từ Indonesia đến bờ biển của ColombiaPeru, và lớn hơn đường kính của Mặt Trăng 5 lần. Điểm thấp nhất trên Trái Đất nằm trong rãnh Mariana ở độ sâu 10,971 m (35,797 ft). Độ sâu trung bình của Thái Bình Dương là 4,028 ~ 4,188 m (14,000 ft).[20]

Thái Bình Dương bao gồm khoảng 25.000 đảo, đa số các đảo tập trung ở phía nam xích đạo. Nếu tính cả các đảo ngầm thì con số sẽ lớn hơn rất nhiều.

Thái Bình Dương hiện đang thu hẹp do hoạt động kiến tạo (trong khi Đại Tây Dương thì đang mở rộng kích thước), với tốc độ 2–3 cm/năm ở cả 3 phía, tương đương 0,5 km2) một năm.

Cùng với rìa phía tây của Thái Bình Dương có rất nhiều biển, các biển lớn như biển Celebes, biển Coral, Đông Hải, biển Philippine, biển Nhật Bản, biển Đông, biển Sulu, biển Tasman, và Hoàng Hải. Eo biển Malacca nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, và tuyến Drakeeo biển Magellan nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương ở phía đông. Về phía bắc, eo biển Bering nối Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương.

Kinh tuyến thứ 180 nằm giữa Thái Bình Dương, nên nhiều khi người ta phân biệt Tây Thái Bình Dương (gần châu Á) nằm ở Đông Bán cầuĐông Thái Bình Dương (gần châu Mỹ) nằm ở Tây Bán cầu.

Trong suốt chuyến hành trình của Magellan từ eo biển Magellan đến Philippines, nhà thám hiểm thực sự tìm thấy đại dương yên tĩnh. Tuy nhiên, nó không phải lúc nào cũng thế, có rất nhiều cơn bão nhiệt đới đổ bộ trên các đảo của nó. Khu vực xung quanh vành đai Thái Bình Dương có rất nhiều núi lửa và đôi khi bị ảnh hưởng bởi động đấtsóng thần.

Đặc điểm về nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thể tích nước trong Thái Bình Dương ước tính 622 triệu km³. Nhiệt độ nước biến đổi từ nhiệt độ đóng băng ở vùng cực đến khoảng 30 °C (86 °F) ở vùng gần xích đạo. Độ mặn cũng biến đổi theo vĩ độ. Nước ở vùng gần xích đạo ít mặn hơn nước ở vùng có vĩ độ trung bình, do lượng giáng thủy cao quanh năm ở vùng gần xích đạo. Về phía cực ở các vĩ độ ôn hòa, độ mặn cũng thấp, đó là do lượng bốc hơi ít.

Sự chuyển động của nước trong Thái Bình Dương nhìn chung theo chiều kim đồng hồ ở Bắc bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam bán cầu. Dòng hải lưu ở bắc bán cầu chảy về phía tây dọc theo kinh tuyến 15°B do gió mậu dịch, rồi chuyển sang hướng bắc gần Philippines để đến Nhật Bản hay hải lưu Kuroshio.

Đáy biển[sửa | sửa mã nguồn]

Đáy biển ở lòng chảo trung tâm Thái Bình Dương tương đối đồng đều, các khu vực sâu thẳm với độ sâu trung bình khoảng 4270 m. Sự khác biệt ở khu vực lòng chảo là các ngọn núi dưới mặt nước độ dốc lớn và đỉnh bằng. Phần phía tây của nền gồm các rặng núi mọc lên trên mặt biển tạo thành các hòn đảo, như đảo Solomon và New Zealand, và các vực sâu, như vực Mariana, vực Philippine, và vực Tonga. Hầu hết các vực nằm sát với rìa ngoài của thềm lục địa phía tây rộng lớn.

Theo rìa phía đông của lòng chảo Thái Bình Dương là một phần của dãy núi miền trung của đại dương. Khoảng 3000 km trải dài, khoảng 3 km trên mặt nền đại dương bên cạnh.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình Dương được hình thành từ đại dương Panthalassa sau khi Pangaea tan vỡ. Không có thời điểm chính xác về sự biến đổi này xảy ra vì sự thay thế đáy biển là một quá trình diễn ra liên tục, tuy nhiên các bản đồ tái tạo lại đáy biển thường đổi tên từ Panthalassa thành Pacific vào khoảng thời gian Đại Tây Dương bắt đầu mở ra.[21][22][23] Đại dương Panthalassic lần đầu tiên mở ra cách đây 750 triệu năm từ sự tách ra của Rodinia,[23] nhưng đáy Thái Bình Dương cổ nhất chỉ khoảng 180 triệu năm tuổi.[24]

Biển[sửa | sửa mã nguồn]

Dọc theo lề Thái Bình Dương có nhiều biển nhỏ, biển lớn nhất là biển Celebes, biển Coral, biển Đông Trung Hoa (East China Sea), biển Nhật Bản, biển Đông, biển Sulu, biển TasmanHoàng Hải. Eo biển Malacca nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương về hướng tây, và eo biển Magellan nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương về hướng đông.

Hải lưu[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình Dương có khoảng 25,000 đảo (hơn số đảo của các biển khác hợp lại), phần lớn nằm phía nam của đường xích đạo.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Library Acquires Copy of 1507 Waldseemüller World Map - News Releases (Library of Congress)”. Loc.gov. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ Stanley, David (2004). South Pacific. David Stanley. tr. 19. ISBN 978-1-56691-411-6. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ Hannard (1991), page 7
  4. ^ Milton, Giles (1999). Nathaniel's Nutmeg. London: Sceptre. tr. 5, 7. ISBN 978-0-340-69676-7. 
  5. ^ Porter, Jonathan. [1996] (1996). Macau, the Imaginary City: Culture and Society, 1557 to the Present. Westview Press. ISBN 0-8133-3749-6
  6. ^ Ober, Frederick Albion. Vasco Nuñez de Balboa. Library of Alexandria. tr. 129. ISBN 978-1-4655-7034-5. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ Camino, Mercedes Maroto. Producing the Pacific: Maps and Narratives of Spanish Exploration (1567-1606), p.76. 2005.
  8. ^ "Life in the sea: Pacific Ocean", Oceanário de Lisboa. Retrieved 9 June 2013.
  9. ^ Galvano, Antonio (2004) [1563]. The Discoveries of the World from Their First Original Unto the Year of Our Lord 1555, issued by the Hakluyt Society. Kessinger Publishing. tr. 168. ISBN 0-7661-9022-6. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  10. ^ Whiteway, Richard Stephen (1899). The rise of Portuguese power in India, 1497–1550. Westminster: A. Constable. 
  11. ^ Steven Thomas, “Portuguese in Japan”. Steven's Balagan. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  12. ^ Henderson, James D.; Delpar, Helen; Brungardt, Maurice Philip; Weldon, Richard N. (tháng 1 năm 2000). A Reference Guide to Latin American History. M.E. Sharpe. tr. 28. ISBN 978-1-56324-744-6. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  13. ^ a ă Fernandez-Armesto, Felipe (2006). Pathfinders: A Global History of Exploration. W.W. Norton & Company. tr. 305–307. ISBN 0-393-06259-7. 
  14. ^ Primary Australian History: Book F [B6] Ages 10-11. R.I.C. Publications. 2008. tr. 6. ISBN 978-1-74126-688-7. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  15. ^ Lytle Schurz, William (1922), “The Spanish Lake”, The Hispanic American Historical Review 5 (2): 181–194, JSTOR 2506024 
  16. ^ Williams, Glyndwr (2004). Captain Cook: Explorations And Reassessments. Boydell Press. tr. 143. ISBN 978-1-84383-100-6. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  17. ^ a ă Bernard Eccleston, Michael Dawson. 1998. The Asia-Pacific Profile. Routledge. p. 250.
  18. ^ William Sater, Chile and the United States: Empires in Conflict, 1990 by the University of Georgia Press, ISBN 0-8203-1249-5
  19. ^ Tewari, Nita; Alvarez, Alvin N. (17 tháng 9 năm 2008). Asian American Psychology: Current Perspectives. CRC Press. tr. 161. ISBN 978-1-84169-749-9. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013. 
  20. ^ "Pacific Ocean". Britannica Concise. 2006. Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc.
  21. ^ “Triassic”. Scotese.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  22. ^ “Late Jurassic”. Scotese.com. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  23. ^ a ă “GEOL 102 The Proterozoic Eon II: Rodinia and Pannotia”. Geol.umd.edu. Ngày 5 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  24. ^ “Age of the Ocean Floor”. Geology.about.com. Ngày 5 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]