Bước tới nội dung

Thích Tịnh Khiết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hòa thượng
Thích Tịnh Khiết
Tên khai sinhNguyễn Văn Kỉnh
Pháp danhTrừng Thông
Pháp tựChơn Thường
Hoạt động tôn giáo
Tôn giáoPhật giáo
Xuất gia1905
Tổ đình Tường Vân, Thừa Thiên
Thụ giớiTỳ kheo
1910
Đại giới đàn Vĩnh Gia
Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Nhiệm kỳ
4 tháng 1 năm 1964 – 25 tháng 2 năm 1973
Kế nhiệmThích Giác Nhiên
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinhNguyễn Văn Kỉnh
Ngày sinh(1891-12-17)17 tháng 12, 1891
Nơi sinhPhú Mỹ, Phú Vang, Thừa Thiên – Huế
Mất
Ngày mất25 tháng 2, 1973(1973-02-25) (81 tuổi)
Nơi mấtHuế
Nghề nghiệptì-kheo
icon Cổng thông tin Phật giáo

Đại lão Hoà thượng Thích Tịnh Khiết (thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, 17 tháng 12 năm 1890 – 25 tháng 2 năm 1973) là Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kể từ khi tổ chức này thành lập năm 1964 đến khi ông qua đời.

Ông sinh tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thuở nhỏ, ông học chữ Nho tại nhà; đến năm 1910 thì cùng anh ruột xuất gia tại chùa Tường Vân, nhận pháp tự Chơn Thường, pháp danh Trừng Thông. Năm 1916 ông trở thành trụ trì chùa Phước Huệ ở Vĩ Dạ, bốn năm sau được ban pháp hiệu Tịnh Khiết, là tổ thứ 42 phái Lâm tế. Năm 1938, ông là chứng minh đạo sư sáng lập An Nam Phật học hội. Năm 1956, ông tham dự Đại hội Phật giáo thế giới tại Thái Lan.

Trong các năm 1962, 1963, ông tham gia lãnh đạo Phật giáo đấu tranh chống chính sách kỳ thị tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Năm 1964 ông được bầu làm Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vào Sài Gòn trụ trì tại chùa Ấn Quang, chỉ đạo phong trào chống chế độ đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Sinh thời, ông có giao du với chí sĩ Phan Bội Châu và đã trực tiếp truyền giới cho hơn 50 đệ tử xuất gia. Năm 1972, ông trở về Huế rồi viên tịch tại chùa Tường Vân vào ngày 25 tháng 2 năm 1973, tháp mộ tại vườn chùa Tường Vân.[1]

Tiểu sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1891[a][2] tại làng Dưỡng Mong Thượng, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên (nay là thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông là con thứ ba[b] trong gia đình; cha là ông Nguyễn Văn Toán còn mẹ là bà Tôn Nữ Thị Lý. Anh trai ông là Hoà thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh.[3]

Năm 1905, ông xuất gia tại Tổ đình Tường Vân, tỉnh Thừa Thiên; thọ giáo với Đại lão Hoà thượng Thanh Thái, hiệu Phước Chỉ. Ông được ban pháp danh là Trừng Thông, tự Chân Thường. Năm 1910, ông được miễn tuổi, thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Vĩnh Gia do tổ Vĩnh Gia đương vi Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Truyền đương vi Yết-ma và Hòa thượng Hoàng Phú đương vi Giáo thọ. Sau khi đắc giới Cụ túc, ông trở về trú xứ lạy bộ Vạn Phật, mỗi chữ mỗi lễ, trong suốt 3 năm liền.[3]

Năm 1916, ông nhậm chức trụ trì chùa Phước Huệ, thuộc phủ Tuy Lý Vương ở tỉnh Thừa Thiên. Năm 1920, ông đắc pháp với Hòa thượng Bổn sư là Phước Chỉ, được ban đạo hiệu là Tịnh Khiết, kế vị Tổ đời thứ 42 thuộc Thiền phái Lâm Tế. Năm 1922, sau khi cư tang Hoà thượng Phước Chỉ, ông cùng Hoà thượng Huệ Pháp theo học lớp Cao đẳng Phật học tại chùa Thiên Hưng, tham cứu kinh điển cùng Phước Huệ, chùa Thập Tháp đến năm 1927. Năm 1933, ông trở thành trụ trì chùa Tường Vân sau khi Hoà thượng Trừng Hương Tịnh Hạnh viên tịch. Đến năm 1935, Sơn môn Tăng-già Thừa Thiên mời ông về giảng dạy và quản nhiệm lớp Trung đẳng Phật học tại chùa Tường Vân, một thời gian sau đó thì lớp này được chuyển lên sáp nhập vào Phật học viện Tây Thiên. Sau khi dựng xong chùa Hội Quán Từ Đàm, năm 1938 thì ông trở thành trụ trì và Chứng minh Đạo sư cho An Nam Phật học hội.[3] Năm 1940, ông được cung thỉnh làm Giám đốc Đạo hạnh cho Viện Cao đẳng Phật học tại chùa Bảo Quốc. Đây là Trung tâm đào tạo Tăng tài cao nhất của Phật giáo miền Trung lúc bấy giờ, có những Tăng sinh về sau trở thành những bậc cao tăng như Hoà thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Trí Tịnh, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Quang.[3]

Năm 1944, Sơn môn Tăng-già Thừa Thiên cung thỉnh ông làm Yết-ma cho Giới đàn tại chùa Thiền Tôn. Đây là Giới đàn được khai giới lần cuối cùng trước khi cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946. Ba năm sau, Sơn môn Tăng-già Trung Việt hình thành, ông được tôn làm Tòng lâm Pháp chủ Trung Việt đến năm 1951. Ở ngôi vị Pháp chủ, ông cùng với An Nam Phật học hội xiển dương Chánh pháp, đào tạo Tăng tài, tổ chức các đạo tràng Phật học, các khuôn Tịnh độ, các đoàn thể Thanh thiếu niên Gia đình Phật tử trên khắp 17 tỉnh miền Trung Việt Nam. Năm 1949, ông lại được Sơn môn Tăng-già Thừa Thiên mời làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Hộ Quốc tại chùa Bảo Quốc. Sau 5 năm bị gián đoạn từ năm 1944 tại chùa Thiền Tôn, giới đàn này mới được tổ chức trở lại. Ngày 6 tháng 5 năm 1951, Thích Tịnh Khiết tham gia chứng minh và là chủ toạ Hội nghị thành lập Giáo hội Tăng-già Trung Việt tại chùa Linh Quang (Huế). Với 51 đại biểu từ 6 hội Phật giáo ở 3 miền Bắc, Trung, Nam họp tại chùa Từ Đàm đã thống nhất thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Ông được suy tôn làm Hội chủ Tổng hội này. Ngày 7 tháng 9 năm 1952, ông làm chủ tọa Đại hội Phật giáo Tăng-già toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ (Hà Nội).[3]

Năm 1953, tại Đại hội II Giáo hội Tăng-già Nam Việt lại cung thỉnh Hòa thượng làm chủ tọa hội nghị và chứng minh lễ suy tôn Hòa thượng Thiện Hải Huệ Quang lên ngôi vị Pháp chủ Giáo hội Tăng-già Nam Việt. Ngày 10 tháng 11 năm 1956, với tư cách Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, ông cùng với Hòa thượng Phó Hội chủ hướng dẫn phái đoàn Phật giáo Việt Nam sang tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ IV tại Nepal. Sau khi hội nghị bế mạc, Hòa thượng cùng phái đoàn trở về thủ đô New Delhi, quan sát Hội nghị Văn hóa thế giới, xem cuộc triển lãm nghệ thuật Phật giáo và đi chiêm bái nhiều Phật tích ở Ấn Độ. Năm 1959, Đại hội III Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn; ông tiếp tục giữ chức Hội chủ. Sau kì Đại hội này, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu đàn á, khủng bố giáo hội, nặng nề nhất là các tỉnh thuộc Trung nguyên và Cao nguyên Trung phần. Đến ngày 2 tháng 2 năm 1962, ông đã ký một lúc 2 văn thư gửi cho Tổng thống Ngô Đình Diệm và cho Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có đính kèm một tập hồ sơ ghi hơn 50 vụ Phật giáo đồ bị khủng bố, đàn áp tại các tỉnh trên; nhưng chính quyền vẫn gia tăng các hoạt động bắt bớ, khủng bố Phật giáo; dẫn tới các cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963.[3]

Năm 1963, ngày lễ Phật đản (ngày sinh của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni) rơi vào ngày 8 tháng 5; các Phật tử Huế đã chuẩn bị long trọng cho ngày lễ này, trong đó có việc treo cờ Phật giáo. Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm lại viện dẫn một luật hiếm khi được thực hiện do Quốc trưởng Bảo Đại ký từ ngày 6 tháng 8 năm 1950 được gọi là Dụ số 10[4][5] để cấm treo cờ tôn giáo. Việc áp dụng đạo luật này đã gây ra sự phẫn nộ trong giới Phật tử trước thềm ngày lễ quan trọng nhất năm, vì một tuần trước những người theo Công giáo được phép treo cờ Vatican nhân đại lễ kỷ niệm 25 năm ngày tấn phong anh trai Diệm là Ngô Đình Thục làm Tổng giám mục Huế. Chính quyền Diệm còn lập ngân sách thông qua một ủy ban quốc gia yêu cầu người dân quyên góp tiền cho lễ kỷ niệm của Thục. Các Phật tử bị buộc phải ủng hộ 1 tháng lương tiền công của họ nhân đại lễ này.[6] Các phật tử bất tuân lệnh cấm treo cờ, dẫn tới vụ xả súng ngày 8 tháng 5 do lực lượng quân đội và an ninh của Ngô Đình Diệm thực hiện; khiến 8-9 phật tử tử vong. Hai ngày sau vụ việc trên, tại Đài phát thanh Huế, bản Tuyên ngôn 5 điểm của 5 cấp Trị sự lãnh đạo Phật giáo Việt Nam được công bố tại chùa Từ Đàm. Suốt 172 ngày đêm đấu tranh quyết liệt của Phật giáo Việt Nam, Thích Tịnh Khiết, khi đó đã 72 tuổi, vẫn đứng ra dẫn dắt phong trào.[3]

Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, hai anh em ông Diệm và ông Nhu bị giết trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963; ngày 4 tháng 1 năm 1964, Đại hội của 11 giáo phái và hội đoàn Phật giáo tổ chức tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn) đã thống nhất Phật giáo miền Nam và miền Trung thuộc Phật giáo Đại thừa (Bắc tông) lẫn Phật giáo nguyên thủy (Nam tông) về một mối, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN).[7] Đại hội long trọng suy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Đệ Nhất Tăng thống GHPGVNTN.[8] Cũng trong năm này, Hòa thượng được cung thỉnh làm Đàn đầu tại Đại giới đàn được tổ chức ở Việt Nam Quốc Tự (Sài Gòn). Ở ngôi vị Tăng thống, ông không ngừng kêu gọi chấm dứt chiến tranh, hóa giải hận thù và lập lại hòa bình để đem lại sự sống còn cho dân tộc. Năm 1968, Hòa thượng làm Đàn đầu cho Đại giới đàn tổ chức tại Phật học viện Hải Đức (Nha Trang). Ông đã thế độ cho gần 50 vị đệ tử xuất gia, truyền Ngũ giới và Thập thiện cho hàng ngàn đệ tử tại gia. Thời gian này, ông cũng được cung thỉnh vào an trú trong các chùa viện lớn ở Sài Gòn như Xá Lợi, Ấn Quang, Quảng Hương Già Lam, v.v.. để điều hành mọi Phật sự của Giáo hội. Cuối năm 1972, lúc đang ở Quảng Hương Già Lam, Hòa thượng tỏ ý muốn trở về Huế. Ngày 20 tháng 12 năm 1972, ông rời Sài Gòn về Huế, tịnh dưỡng tại chùa Tường Vân. Ông vẫn dành thời gian đi thăm viếng các tổ đình Từ Đàm, Quốc Ân, Bảo Quốc, Thuyền Tôn, Từ Hiếu, Kim Tiên cũng như thăm các Phật học viện và Ni viện ở Huế.[3]

Vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 25 tháng 2 năm 1973, sau 1 tuần bệnh nặng, ông đã qua đời ở tuổi 81.[3]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Tức ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão theo âm lịch.
  2. ^ Có nguồn nói là con thứ 2.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Dư địa chí - Phần Văn hóa, tập 2. "Thích Tịnh Khiết (1890 - 1973)". Cổng thông tin điện tử thành phố Huế. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2025.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  2. ^ "Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết". Trang nhà Quảng Đức. ngày 19 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
  3. ^ a b c d e f g h i Giác Ngộ Online tổng hợp (ngày 18 tháng 2 năm 2025). "Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973)". Giác Ngộ Online. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
  4. ^ Minh Võ (2008). Ngô Đình Diệm và Chính nghĩa Dân tộc. Nhà xuất bản Hồng Đức. tr. 94. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023.
  5. ^ Trần Gia Phụng (ngày 31 tháng 10 năm 2010). "Lại Dụ Số 10". Thư viện Hoa Sen. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023.
  6. ^ Hammer, pp. 103–05.
  7. ^ "Niên biểu lịch sử Phật giáo Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010.
  8. ^ Lâm Vĩnh Thế, tr. 190.