Thích Trí Tịnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Di ảnh cố Hòa thượng Thích Trí Tịnh trong chùa Vạn Đức

Thích Trí Tịnh (thượng Trí hạ Tịnh; 1917-2014), thế danh Nguyễn Văn Bình, húy Nhựt Bình, tự Trí Tịnh, pháp danh Thiện Chánh, pháp hiệu Hân Tịnh[1]; là một nhà sư thuộc dòng Lâm Tế Gia phổ đời thứ 41 tại Việt Nam. Ngài là một vị Cao Tăng Việt Nam đã có công lớn đóng góp phiên dịch toàn bộ Đại Tạng Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa vốn là dựa vào bản Kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng tiếng Sankrit của Ngài Cưu Ma La Thập. Ngài là Thầy của nhiều môn đồ như: HT. THÍCH TRÍ QUẢNG, TT. THÍCH NHẬT TỪ...

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hòa thượng Thích Trí Tịnh sinh ngày 2 tháng 9 năm Đinh Tỵ (17 tháng 10 năm 1917) tại làng Mỹ An Hưng [2] (tục gọi là Cái Tàu Thượng) thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình nông dân, và tin theo đạo Phật. Cha là ông Nguyễn Văn Cân và mẹ là bà Nguyễn Thị Truyện. Nhà sư là người con út trong gia đình có 6 anh chị em gồm 3 trai và 3 gái.

Nguyễn Văn Bình (về sau là HT Thích Trí Tịnh) đã mồ côi cả cha lẫn mẹ (lên 3 tuổi thì mất cha, đến 7 tuổi thì mất mẹ), nên sống với người anh thứ ba (ông Nguyễn Văn Đặng nay đã qua đời, người anh thứ tư mất sớm).

Năm 10 tuổi, Nguyễn Văn Bình mới vào lớp năm (tương đương lớp 1 ngày nay), đến năm 15 tuổi thì học xong lớp đệ thất (tương đương lớp 6 ngày nay), rồi sang học chữ Hán với người chú và học nghề thuốc Bắc với người anh họ...

Xuất gia học đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thấy cảnh lục đục của gia đình anh chị nên Nguyễn Văn Bình có ý xuất ly thế tục, và người thanh thiếu niên ấy bắt đầu tìm hiểu các tôn giáo như đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, Thông Thiên Học, v.v... và đặc biệt quan tâm đến đạo Phật.

Năm 18 tuổi, Nguyễn Văn Bình bắt đầu ăn chay trường và tu theo đạo Phật. Năm 1937 (21 tuổi ta), ông cùng người bạn lên Sài Gòn lập nghiệp, ở chung nhà trọ. Trước đó, tuy ông đã có ý định xuất thế nhưng vì còn người chị thứ sáu chưa lập gia đình nên không nỡ bỏ đi. Nay người chị ấy đã yên bề gia thất, nên ông yên tâm thực hiện ước nguyện của mình.

Sau đó, ông đi lên núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang), đến chùa Lá (sau trùng tu và đổi tên là Vạn Linh), cầu xin Hòa thượng Trụ trì Thích Thiện Quang (thượng Thiện hạ Quang, thế danh Nguyễn Hồng Xứng; 1895-1953) [3] cho xuất gia, và được chấp thuận.

Trong quảng thời gian tu khổ hạnh, nhà sư Thích Trí Tịnh (tức Nguyễn Văn Bình) đọc được tạp chí Từ Bi Âm, nên có ý nguyện học thêm kinh luật. Vì vậy, cuối năm 1939, nhà sư xin phép thầy xuống núi.

Đến Sài Gòn, nhà sư Thích Trí Tịnh cùng nhà sư Thiện Phước ra núi Thị Vải (nay thuộc Bà Rịa), tìm chỗ thích hợp để cất am tu (gần chùa Linh Sơn Bửu Thiền). Nhưng vì sơn lam chướng khí, nên chẳng mấy hôm, cả hai nhà sư đều bị bệnh sốt rét. Không kham nổi, hai người cùng xuống chân núi. nhà sư Thiện Phước thì tá túc nơi am của bà Năm, còn nhà sư Trí Tịnh thì tá túc nơi hang đá của bà Bảy. Vài hôm sau, nhà sư Thiện Phước tịch, nhà sư Trí Tịnh liền về Sài Gòn tá túc trong chùa Tịnh Độ ở Gò Vấp và tìm thầy trị bệnh.

Sau khi hết bệnh, nghe theo lời khuyên, nhà sư khởi ý đi Huế để tu học. Trên đường đi, nhà sư có vào tu học tại chùa Liên Tôn ở Bình Định khoảng 3 tháng [4]. Ra đến Huế, nhà sư được nhận vào học lớp Sơ cấp Phật học (và được cấp học bổng) tại chùa Tây Thiên [5].

Đầu năm 1941, nhà sư Trí Tịnh thọ giới Sa di tại chùa Quốc ÂnHuế [6].

Sau đó, nhà sư tiếp tục học lên Trung đẳng Phật học (tốt nghiệp vào cuối năm 1942) và Cao đẳng Phật học (tốt nghiệp năm 1945). Cũng năm này (1945), trường An Nam Phật học dời vào Tòng Lâm Kim Sơn ở Huế, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Giám viện Quản đốc trường.

Hành đạo và hoạt động trước năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Kế đó, vì nạn đói ở Huế và ở cả miền Bắc, nhà trường quyết định chuyển Tăng sinh (Sơ đẳng và Trung đẳng khoảng 40 vị) vào Nam và giao cho nhà sư Trí Tịnh quản lý. Vào Nam, đoàn Tăng sinh tạm ở trong chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho), còn nhà sư Trí Tịnh thì tạm ở trong chùa Kim Huê (Sa Đéc). Ngày 19 tháng 6 năm 1945, nhà sư Trí Tịnh được thọ Tỳ kheo và Bồ Tát giới tại Đại Giới đàn tổ chức tại chùa Long An ở Sa Đéc [7].

Đến khi Cách mạng tháng Tám (1945) nổ ra, nhà trường vừa kể trên (khi ấy có tên là Lưỡng Xuyên Phật học) bị phân tán, nhà sư Trí Tịnh và nhà sư Thích Thiện Hoa (19181973 bèn về chùa Phật Quang ở quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long) lập trường Phật học Phật Quang, và khai giảng vào cuối năm. Khi ấy, nhà sư Thích Thiện Hoa làm Giám đốc, còn nhà sư Trí Tịnh làm Đốc giáo kiêm Giáo thọ.

Cuối năm 1946, an ninh ở địa phương không được ổn định, nhà trường phải dời về tạm trú trong chùa Vạn Phước ở Phú Lâm (Chợ Lớn)[8].

Năm 1948, nhà sư Trí Tịnh cùng nhà sư Thích Huyền Dung (1918- 2014) thành lập trường Liên Hải Phật học tại chùa Vạn Phuớc. Khi ấy, nhà sư Trí Tịnh làm Giám đốc, nhà sư Thích Huyền Dung làm Đốc giáo [9]. Và Hòa thượng là một trong những vị giáo thọ sư của rất nhiều vị hòa thượng như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thiền sư Thích Thanh Từ, Thiền sư Thích Từ Thông... là một trong những hàng hậu học của ngài thế hệ thứ nhất và tiếp đó là HT Thích Minh Cảnh, HT Thích Trí Quảng... tại các trường Phật học trước 1975 như Phật học đường Huệ Nghiêm.

Năm 1950, Hòa thượng Trí Tịnh có bệnh phải đi dưỡng bệnh và tu ở chùa Linh Sơn (Vũng Tàu).

Năm 1951, nhà sư Trí Tịnh cùng nhà sư Thích Thiện Hòa sáp nhập 3 Phật học đường là Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt, đặt trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang (nay ở quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Từ năm 19511956, nhà sư Trí Tịnh tham gia Ban Giảng huấn và giảng dạy cho lớp Cao đẳng Phật học [9]. Cũng trong năm này, nhà sư nhận lời làm trụ trì chùa Linh Sơn [10].

Năm 1952, Giáo hội Tăng Già Nam Việt được thành lập ở Sài Gòn, nhà sư Trí Tịnh được mời giữ chức Trưởng ban Giáo dục và Trưởng ban Giám Luật. Kế đó, Giáo hội Tăng Già toàn quốc được thành lập, nhà sư được cử vào các chức vụ: Trưởng ban Giáo dục, Phó Trị sự, Ủy viên phiên dịch Tam Tạng. Vì nhận nhiều trọng trách, nên tháng 4 năm 1954, nhà sư trao quyền trụ trì chùa Linh Sơn lại cho nhà sư Tịnh Viên.

Ngày 16 tháng 3 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1954), nhà sư Trí Tịnh cho lập chùa Vạn Đức ở Thủ Đức (nay tọa lạc tại số 234 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức). Tiền thân ngôi chùa là nhà ở của một tín đồ hiến tặng, được sửa chữa lại làm chùa. Kể từ đó, nhà sư thường trụ ở đây cho đến ngày viên tịch (2014) [11].

Năm 1955, nhà sư Thích Trí Tịnh thành lập Hội Cực Lạc Liên Hữu tại chùa Vạn Đức, và khuyên Tăng chúng thực hành tu theo pháp môn Tịnh Độ [12]. Khi ấy, nhà sư Trí Tịnh làm Liên trưởng, và nhà sư Thích Huệ Hưng làm Liên phó. Cũng trong năm này, nhà sư đảm nhiệm cương vị Giáo thọ A Xà Lê Đại giới đàn Từ Hiếu (Huế).

Năm 1957, nhà sư Trí Tịnh được Đại hội Giáo hội Tăng già Nam Việt cử làm Trị sự phó và kiêm Trưởng ban Giáo dục Giáo hội Tăng già Nam Việt. Đồng thời, hợp tác với nhà sư Thích Thiện Hoa, nhà sư Thích Thiện Hòa mở các khóa Như Lai Sứ Giả tại chùa Pháp Hội, chùa Tuyền Lâm, chùa Dược Sư... để đào tạo cán bộ Trụ trì và Giảng sư cho Giáo hội [9].

Năm 1959, trong Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam kỳ II diễn ra vào ngày 10, 11 tháng 9 năm 1959 tại chùa Ấn Quang, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Trị sự Phó Giáo hội Tăng già toàn quốc Việt Nam. Cũng trong năm này, nhà sư làm Tuyên Luật sư Đại giới đàn Hải Đức (Nha Trang).

Năm 19601962, nhà sư Trí Tịnh làm Giới Luật sư trong các Đại Giới đàn tổ chức tại các chùa Ấn Quang, Pháp Hội,... để truyền trao giới pháp cụ túc cho chư Tăng.

Năm 1962, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Phó Viện trưởng Phật học Viện Trung phần.

Năm 1964, nhà sư Trí Tịnh làm Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Tăng già Nam Việt tham dự Đại hội Thống nhất Phật giáo Việt Nam, được tổ chức tại chùa Xá Lợi trong các ngày 30, 31 tháng 12 năm 19631 tháng 1 năm 1964 để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Tại Đại hội này, nhà sư được cử làm Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự [9]. Cũng trong năm này, nhà sư Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị làm Tuyên Luật sư trong Đại Giới đàn Quảng Đức, tổ chức tại Việt Nam Quốc Tự (Sài Gòn).

Năm 1965, nhà sư Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị Yết ma trong Tiểu Giới đàn Quảng Đức tại Phật học viện Huệ Nghiêm (nay ở huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) và Tuyên Luật sư Đại Giới đàn ở chùa Từ Hiếu (Huế).

Năm 1966, nhà sư Trí Tịnh là Tuyên Luật sư Đại Giới đàn Quảng Đức tại Phật học viện Huệ Nghiêm. Cũng trong năm này, tại Đại hội kỳ II Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, nhà sư được suy cử vào cương vị Chánh Thư ký Viện Tăng Thống.

Năm 1968, nhà sư Trí Tịnh tham gia Ban Giảng huấn Phật học viện Huệ Nghiêm và giảng dạy Phật pháp cho lớp Chuyên khoa Phật học trong ba năm.

Năm 1969, nhà sư Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị Tuyên Luật Sư trong Đại Giới đàn Quảng Đức tổ chức tại Phật học viện Huệ Nghiêm.

Năm 1970, nhà sư Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị Khoa trưởng Phân khoa Phật học tại Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn (cho đến năm 1975).

Năm 1971, sau khi Giáo hội thành lập Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Viện trưởng (cho đến năm 1991).

Năm 1973, trong phiên họp của Hội đồng Giáo phẩm Trung ương, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương. Vào ngày 5 tháng 7 năm ấy, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Tam tạng thuộc Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Cũng trong năm này, tại Đại hội Giáo hội Trung ương kỳ 4, nhà sư Trí Tịnh được tấn phong hòa thượng và được suy cử đảm nhiệm cương vị Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN [9].

Cuối năm 1974, Hòa thượng Thích Trí Tịnh được Hòa thượng Thích Thiện Hòa cử làm Cố vấn Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc.

Năm 1975, Hòa thượng Trí Tịnh được Hội đồng Giáo phẩm Trung ương cử làm Trưởng ban Kiến thiết Pháp Bảo Viện tại xã Linh Xuân Thôn ở Thủ Đức.

Hành đạo và hoạt động sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Một bài kệ niệm Phật của HT Thích Trí Tịnh được khắc trên đá, dựng trong khuôn viên chùa Vạn Đức

Năm 1976, Hòa thượng Thích Trí Tịnh được mời làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đầu năm Canh Thân (1980), trong phiên họp hiệp thương của chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, cư sĩ của các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh để thảo luận chương trình thống nhất Phật giáo Việt Nam. Kết quả một Ban Vận động Thống nhất Phật giáo ra đời, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban và Hòa thượng Trí Tịnh được cử làm Phó Trưởng ban Vận động kiêm Trưởng Tiểu ban Nội dung. Cũng trong năm này, hòa thượng được cử làm Tuyên Luật Sư và Chánh Chủ khảo trong Đại Giới đàn Thiện Hòa, tổ chức tại chùa Ấn Quang.

Sau đó, tại Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội, từ ngày 4 – 7 tháng 11 năm 1981, Hòa thượng Trí Tịnh được Đại hội cử làm Thành viên Hội đồng Chứng minh, và cử làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) vừa được thành lập. Tuy nhiên, vai trò mới này của Hòa thượng Trí Tịnh đã gây nhiều tranh cãi, khi nhà sư tự tách rời khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất[13].

Năm 1982, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ I, Hòa thượng Trí Tịnh được cử kiêm làm Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh (cho đến năm 1987).

Từ Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II (1983) cho đến Đại hội VII (2009), Hòa thượng Trí Tịnh được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch, rồi làm Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương của Mặt trận.

Năm 1984, sau khi Hòa thượng Thích Trí Thủ (Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN) viên tịch vào tháng 4 năm 1984, Hòa thượng Trí Tịnh được cử làm Quyền Chủ tịch Hội đồng Trị sự, rồi Chủ tịch Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ II và những nhiệm kỳ tiếp theo cho ngày viên tịch (tháng 3 năm 2014).

Năm 1984 cho đến năm 2013, Hòa thượng Trí Tịnh được mời làm Đàn Đầu Hòa thượng Đại Giới đàn đầu tiên, và những Giới đàn tiếp theo của Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức tại chùa Ấn Quang.

Năm 1984, Hòa thượng Trí Tịnh được cử làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam [14]. Tháng 12 năm ấy, tại Đại hội Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 4, Hòa thượng được Đại hội cử làm Phó Chủ tịch của tổ chức này.

Năm 1992, tại Đại hội Kỳ III của Hội đồng Trị sự GHPGVN, Hòa thượng Trí Tịnh được suy tôn lên ngôi vị Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Năm 1994, Hòa thượng Trí Tịnh được Đại hội lần thứ 8 Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tín nhiệm bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Năm 2004, Hòa thượng Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Trí Tấn do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức.

Năm 2005, Hòa thượng Trí Tịnh đảm nhiệm cương vị Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện Hòa 4 do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức[15].

Viên tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã viên tịch vào lúc 9 giờ 15 phút ngày 28 tháng 3 năm 2014 (28 tháng 2 năm Giáp Ngọ) tại chùa Vạn Đức ở Thủ Đức (Thành phố Hồ Chí Minh), trụ thế 98 năm, hạ lạp 69 năm. Lễ truy điệu được cử hành sau đó và thỉnh kim quan chứa nhục thân Đại lão Hòa thượng nhập Bảo tháp Phù Thi (xây năm 1993) trong khuôn viên chùa Vạn Đức.

Biên soạn và phiên dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Vạn Đức do HT Thích Trí Tịnh khai sơn

Mặc dù bận rộn nhiều công việc cho Giáo hội, Hòa thượng vẫn dành thời gian để dịch kinh và giảng kinh. Những tác phẩm Hòa thượng đã biên soạn, phiên dịch và phổ biến như:

  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: trọn bộ 7 quyển
  • Kinh Hoa Nghiêm: 80 quyển
  • Kính
  • Kinh Đại Bát Niết Bàn: 40 quyển
  • Kinh Đại Bát Nhã: 27 quyển
  • Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật: 1 quyển
  • Kinh Đại Bảo Tích + Đại Tập: 120 quyển
  • Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện: 1 quyển
  • Kinh Địa Tạng bổn nguyện: 3 quyển
  • Kinh Tam Bảo: 01 quyển
  • Tỳ kheo giới bổn: 01 quyển
  • Bồ Tát giới bổn: 01 quyển
  • Kinh Pháp Hoa cương yếu: Tóm tắt
  • Kinh Pháp Hoa thông nghĩa: Tóm tắt
  • Cực Lạc liên hữu tập: 01 quyển
  • Đường về Cực Lạc: Trọn bộ
  • Ngộ tánh luận: 01 quyển, v.v...

Công xây dựng (sơ lược)[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Vạn Linh được HT Thích Trí Tịnh cho trùng tu

Ngày 16 tháng 3 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1954), Hòa thượng Trí Tịnh cho lập chùa Vạn Đức ở Thủ Đức (nay tọa lạc tại số 502 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức).

Năm 1995, Hòa thượng Trí Tịnh đã cho khởi công xây dựng lại chùa Vạn Linh trên đỉnh núi Cấm thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Năm 2000, với tư cách Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, Hòa thượng Trí Tịnh đã ký quyết định thông qua dự án và bổ nhiệm Ban Trùng tu cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội tại Thiền viện Quảng Đứcquận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2001, Hòa thượng Trí Tịnh cho trùng tu một số hạng mục tại chùa Vạn Đức, như: Giảng đường, Phật đài Quan Âm, Thư viện, Thiền thất, v.v...

Năm 2002, Hòa thượng Trí Tịnh là Chủ đầu tư xây dựng lại cơ sở Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội (Thiền viện Quảng Đức).

Năm 2004, Hòa thượng Trí Tịnh khởi công xây dựng lại Chánh điện, Nhà Tổ chùa Vạn Đức với quy mô lớn [16].

Chức danh và tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình hành đạo và hoạt động, Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã từng là: Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), Chủ tịch Hội đồng trị sự GHPGVN, Trưởng ban Tăng sự TƯ GHPGVN, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN TPHCM, Viện chủ chùa Vạn Đức, Viện chủ chùa Vạn Linh.

Thiền viện Quảng Đức, nơi HT Thích Trí Tịnh có nhiều đóng góp

Với những công đức mà Đại lão Hòa thượng đã đóng góp cho "Đạo Pháp và Dân tộc", Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã được tặng thưởng:

-Huân chương Hồ Chí Minh.
-Huân chương Độc Lập hạng Nhất.
-Huân chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân.
-Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
-Bằng Tuyên dương Công đức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và nhiều phần thưởng cao quý khác...

Nhận xét (sơ lược)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hòa thượng Thích Quảng Ba tại Úc cho là Hòa thượng Thích Trí Tịnh là một trong những số ít các vị tăng lữ có "công lao phiên dịch Kinh điển Đại thừa nhiều nhất", "giảng dạy và truyền bá pháp môn tịnh độ trên toàn cõi Việt Nam", và "có công đức lớn đối với nền Phật học Việt Nam", "để lại di sản rất lớn cho nền Phật học và cho sự tu hành thanh cao đạo hạnh của những bậc cao tăng hiếm có trong thời gian gần đây". Khi nhà sư gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam là "Vì nhiều lý do áp lực khác nhau [Ngài cùng các tăng lữ cao cấp khác] đã phải thuận theo lời yêu sách, áp lực, đòi hỏi của chính quyền mới, chính quyền Xã hội chủ nghĩa, để tự hủy thể giáo hội của mình" và "các ngài có dụng ý muốn cứu các thành phần còn lại. Các bậc thầy của chúng tôi đành phải đi con đường thỏa hiệp để cứu sống, để bảo tồn được bao nhiêu hay bấy nhiêu...".[13].
  • Trích trong báo Nhân dân:
...Cuộc đời của Hòa thượng (Thích Trí Tịnh) là một tấm gương sáng về trí đức và giáo dục cho tăng, ni nhiều thế hệ. Với tính điềm đạm và đức nhẫn nại của một bậc thực học, chân tu khả kính và với những đóng góp to lớn cho Đạo pháp - Dân tộc, Hòa thượng luôn có được cảm tình đặc biệt trong lòng Phật tử Việt Nam...[17]

Một vài hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Một vài hình ảnh trong lễ tang Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh tại chùa Vạn Đức:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiểu sử HT Thích Trí Tịnh in trong quyển Hương sen Vạn Đức do Hòa thượng Thích Trí Tịnh biên soạn. Nhà xuất bản Phương Đông, 2006.
  • Thượng tọa Hoằng Tri, Kỷ yếu trùng tu chùa Vạn Đức và Vạn Linh. Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
  • Tuyên bạch Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh trên website Giáo hội Phật giáo Việt Nam [2], cập nhật ngày 31 tháng 03/2014.
  • Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh đăng trên báo Nhân dân điện tử [3], cập nhật ngày 29/03/2014.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi theo Hương sen Vạn Đức, tr. 9.
  2. ^ Theo Hương sen Vạn Đức, tr. 9. Có nguồn viết sai là Mỹ Luông.
  3. ^ Ghi theo Kỷ yếu trùng tu chùa Vạn Đức và Vạn Linh, tr. 12. Báo Nhân dân điện tử (dẫn bên dưới) ghi tên là Hòa thượng Thích Hồng Xứng.
  4. ^ Theo Hương sen Vạn Đức, tr. 19.
  5. ^ Chùa Tây Thiên nằm ở góc Đông Nam của đàn Nam Giao, thuộc địa phận xã Thủy Xuân ở Huế, do Hoà Thượng Lâm Tịnh, thuộc đời 41 dòng Lâm Tế sáng lập năm 1902. Xem chi tiết ở đây [1].
  6. ^ Theo "Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh" đăng trên báo Nhân dân (dẫn bên dưới), thì lúc ấy nhà sư đã được Hòa thượng Thích Trí Độ đặt cho pháp hiệu là Trí Tịnh.
  7. ^ Theo Hương sen Vạn Đức (tr. 22). Báo Nhân dân ghi năm 1946.
  8. ^ Theo Hương sen Vạn Đức (tr. 19). Theo báo Nhân dân, thì chùa Vạn Phước ở xã Bình Trị Đông, quận Long Hưng Thượng, tỉnh Chợ Lớn (nay là huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh).
  9. ^ a ă â b c Theo "Tuyên bạch Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh" trên website Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
  10. ^ Theo Hương sen Vạn Đức, tr. 23.
  11. ^ Theo Kỷ yếu trùng tu chùa Vạn Đức và Vạn Linh (tr. 17). Bảng Tiểu sử của HT Thích Trí Tịnh dựng tại chùa Vạn Đức trong ngày lễ tang của hòa thượng cũng ghi là năm 1954.
  12. ^ Theo Hương sen Vạn Đức (tr. 25). Cũng theo sách này thì HT Thích Trí Tịnh "là vị Tổ sư đương thời chấn hưng Tịnh tông trong tòa nhà Phật giáo Việt Nam" (tr. 25).
  13. ^ a ă Nguồn: Nhận định về Hòa thượng Thích Trí Tịnh, BBC, 31/3/2014. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “bbc1” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  14. ^ Theo Hương sen Vạn Đức, tr. 28.
  15. ^ Ghi theo báo Nhân dân và Bảng tiểu sử dựng tại chùa Vạn Đức. Tuyên bạch trên website Giáo hội Phật giáo Việt Nam ghi khác:...Đặc biệt, Hòa thượng đã được Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bà Rịa – Vũng Tàu cung thỉnh đảm nhiệm cương vị Hòa thượng Đàn đầu truyền giới Tỳ kheo tại các Đại giới đàn Thiện Hòa I (1993), Thiện Hòa III (2000), Thiện Hòa IV (2003), Thiện Hòa V (2006), Thiện Hòa VII (2013).
  16. ^ Ghi theo "Tuyên bạch Tiểu sử Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh", nguồn đã dẫn.
  17. ^ Nguồn đã dẫn.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]